|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2025/DS-ST Ngày 05 tháng 02 năm 2025 V/v: “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI – TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quốc Khởi
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Nguyễn Thành Nhạn
- Bà: Cao Thị Mỹ Phượng
- Thư ký phiên tòa: ông Lê Khắc Hải – thư ký Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai tham gia phiên tòa: ông Châu Hoa Đăng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 305/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:207/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: bà Danh Thị H – sinh năm: 1965
Địa chỉ: Khóm D, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Lý Văn V – sinh năm: 1989
Địa chỉ: Khóm D, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu
Bị đơn: Bà Danh Thị S – sinh năm: 1970
Chị Danh Thị T – sinh năm: 1992
Địa chỉ: Khóm D, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Danh X – sinh năm: 1968
Ông Danh T1 – sinh năm: 1975
Ông Danh T2 – sinh năm: 1978
Địa chỉ: Khóm D, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu
Bà Danh Thị P – sinh năm: 1965
Địa chỉ: ấp R, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu
(Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày theo đơn khởi kiện và lời khai:
Bà Danh Thị H có yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất diện tích theo đo đạc thực tế là 244,6m² đất tại thửa số 13 tờ bản đồ số 77 thuộc Khóm D, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu với căn cứ như sau:
Cụ Danh H1 và cụ Hữu Thị H2 có tất cả là 06 người con, cụ H1 chết ngày 28/02/2011; cụ H2 chết ngày 02/10/2005. Khi chết hai cụ không có để lại di chúc, các con của cụ bao gồm: Danh Thị H; Danh Thị P; Danh Xiêm; Danh Thị S; D và Danh T2.
Khi còn sống hai cụ để lại phần đất ở ngang 07m dài 30m, 08 công đất vuồng tôm, ngoài ra không còn để lại di sản nào khác. Đối với đất vuông hiện nay ông Danh T1 đang quản lý, sử dụng và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với đất vuông bà H không có yêu cầu trong vụ án này mà để cho ông Danh T1 quản lý, sử dụng. Nếu sau này có yêu cầu và có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác. Đối với đất ở thì phần đất này bà S và bà T hiện nay quản lý, sử dụng là ngang 4,5m dài khoảng 15m; còn lại dính với phần nhà của ông Danh T2. Hiện trạng nhà ban đầu là nhà cấp 4, vách xây tường, mái lợp tol nền tráng xi măng, xây dựng khoảng 15 năm. Sau này xuống cấp thì đến năm 2023 thì bà T về tháo dỡ, đập bỏ phần nhà cũ phía trước để xây mới, còn phần nhàu sau thì mới tháo dỡ phần nóc nhà, vách xây vẫn còn.
Nguyện vọng được chia là bà H được quản lý để làm nhà thờ, còn giá trị thì nếu ai hưởng diện tích đất nhiều hơn sẽ chia theo giá trị đã định giá mà Hội đồng định giá đưa ra cụ thể bà T và bà S đã xây dựng xong phần nhà và để cho bà S và bà T quản lý, sử dụng phần đất này từ mí lộ xi măng dưới sông lên đến hết phần mí nhà mà bà S và bà T đã xây dựng sử dụng ngang 4.5m và trả giá trị là 40.000.000đ/m/ngang.
Đồng bị đơn bà Danh Thị S và Danh Thị T trình bày theo lời khai:
Bà S và chị T thống nhất diện tích đất tranh chấp mà Tòa án tiến hành đo đạc, thẩm định, thống nhất về nguồn gốc đất là của cha và mẹ để lại, thống nhất về các hàng thừa kế của cụ Danh H1 và cụ Thị H2. Tuy nhiên về phần chia di sản này bà S và chị T không thống nhất cụ thể như sau:
Đối với phần diện tích nhà mà bà S và chị T xây dựng, đồng ý là lấy từ mí lộ xi măng dưới sông kéo dài đến mí nhà đã xây dựng, tuy nhiên phần xây dựng không có cầu vệ sinh, sàn nước, không có lối đi phía sau nên không sử dụng được nên có yêu cầu giao hết phần diện tích đất bao gồm phần đất nhà mà bên nguyên đơn đồng ý giao và phần diện tích đất phần nhà cũ của cụ H1 và cụ H2 để lại. Bà S và chị T đồng ý trả giá trị phần chênh lệch cho các đồng thừa kế theo giá mà Hội đồng định giá đưa ra trên diện tích thực tế sử dụng.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày theo lời khai:
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bao gồm ông T1, ông T2, ông X và bà P thống nhất diện tích đất tranh chấp mà Tòa án tiến hành đo đạc, thẩm định, thống nhất về nguồn gốc đất là của cụ H1 và cụ H2 để lại, thống nhất về các hàng thừa kế của cụ Danh H1 và cụ Thị H2 và cùng có yêu cầu phân chia di sản thừa kế là phần đất diện tích 244.6m² đất tại thửa số 13 tờ bản đồ số 77 thuộc Khóm D, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Tuy nhiên có sự trình bày cụ thể như sau:
Ông Danh T1 trình bày:
ông T1 đồng ý để phần đất bà S và cháu T đang quản lý, sử dụng phần đất và ngoài phần đất này ra thì bà S và cháu T không có chỗ ở và phần đất nào khác để ở. Tuy nhiên, đối với phần nhà của cụ Danh H1 và cụ H2 trước đây ông T1 là người trực tiếp quản lý, sử dụng nhà này, ban đầu là nhà cây, vách lá, mái tol xi măng, nền đất sau này đến năm 2005 cụ H2 chết chết thì ông T1 sửa chữa nâng cấp như tráng xi măng, đến năm 2015 thì nâng cấp và sửa chữa thêm... Năm 2022 thì cháu Danh Thị T về dỡ nhà cũ và xây dựng nhà mới như bây giờ, lý do nhà cũ xuống cấp không sử dụng được. Cháu T xây dựng mới cụ thể nâng nền, xây dựng mới toàn bộ phần nhà trước, còn nhà sau chưa xây dựng.
Ông T1 có ý kiến là đối với phần nền nhà này thì bà S, cháu T đang quản lý, sử dụng và hiện nay không có chỗ ở nào khác, bản thân ông T1 có nhà ở ôn định, nên giao lại cho bà S và cháu T cùng sử dụng và những người này chia lại giá trị cho các hàng thừa kế theo quy định.
Ông Danh T2 trình bày theo lời khai:
Ông T2 đồng ý chia thừa kế là phần đất, nhưng việc giao phần đất cho bà H, ông T1 không đồng ý mà để đất cho bà S và cháu T quản lý vì hiện tại những người đang trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất và ngoài phần đất này ra thì những người này không có chỗ ở nào khác. Cụ thể, khi cha mẹ còn sống có tạo lập căn nhà trên phần đất nền tranh chấp bây giờ, nhà ban đầu là nhà cây, vách lá, mái tol xi măng, nền đất sau này ông T1 mới tráng xi măng, sửa chữa và nâng cấp nhà. Đến năm 2005 cụ H2 chết thì ông T1 mới sửa chữa, năm 2022 thì cháu Danh Thị T về dỡ nhà cũ và xây dựng nhà mới như bây giờ, lý do nhà cũ xuống cấp không sử dụng được. Cháu T xây dựng mới cụ thể nâng nền, xây dựng mới toàn bộ phần nhà trước, còn nhà sau chưa xây dựng, là bà H, bà P và ông X ngăn cản.
Ông T1 có ý kiến là đối với phần nền nhà này thì bà S, ông T1 và cháu T đang quản lý, sử dụng và hiện nay không có chỗ ở nào khác, nên giao lại cho bà S, ông T1 và cháu T cùng sử dụng và những người này chia lại giá trị cho các hàng thừa kế theo quy định. Đối với phần ông T1 sử dụng, ông yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.
Ông Danh X trình bày:
Đối với nền nhà hiện nay ông Danh T1 và bà Danh Thị S cùng quản lý sử dụng. Nhà ban đầu là nhà vách tường, mái tol xi măng, nền tráng xi măng, lúc cha mẹ xây dựng khoảng hơn 20 năm. Sau đó, năm 2022 thì cháu Danh Thị T về đập nhà cũ và xây dựng nhà mới cụ thể nâng nền, xây dựng mới toàn bộ phần nhà trước, còn nhà sau chưa nâng nền và chưa xây. Ông X có ý kiến là đối với phần nền nhà này thì bà S, ông T1 và cháu T phải giao lại nền nhà cho bà H để bà H quản lý, sử dụng và chia lại cho tất cả những người thừa kế theo quy định.
Bà Danh Thị P trình bày:
Nhà ban đầu có nhà của cha và mẹ kết cấu là nhà vách tường, mái tol xi măng, nền tráng xi măng, lúc cha mẹ xây dựng khoảng hơn 20 năm. Sau đó, năm 2022 thì cháu Danh Thị T về đập nhà cũ và xây dựng nhà mới cụ thể nâng nền, xây dựng mới toàn bộ phần nhà trước, còn nhà sau chưa nâng nền và chưa xây. Nay, bà P có ý kiến đối với phần nền nhà này thì bà S và T phải giao trả lại cho tất cả anh em trong gia đình để làm nơi thờ cúng cha mẹ theo quy định.
Tại phiên tòa:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
đồng ý giao phần đất cho bà S và bà T sử dụng ngang 4.5m dài từ mí lộ xi măng cho đến phía sau đến phần mí nhà mà cụ H1, cụ H2 để lại và trả giá trị mỗi mét ngang là 40.000.000đ cho bà H, ông X, bà P, ông T1 để xây dựng nhà mồ cho cụ H1 và cụ H2, không đồng ý trả giá trị từng mét vuông do phần đất giáp lộ sẽ có giá trị cao hơn.
Đồng bị đơn trình bày:
quá trình sử dụng đất, chị T và bà S đồng ý được sử dụng ngang 5m dài từ mí lộ xi măng đến hết phần nhà của cụ H1 và cụ H2 để lại và đồng ý trả giá trị cho các đồng thừa kế theo giá trị định giá. Bên cạnh đó, quá trình sử dụng nhà có cùng ông Danh T1 nâng cấp, sửa chữa nhà vào năm 2018 nên yêu cầu xem xét phần nâng cấp, sửa chữa nhà của cụ H1 và cụ H2.
Ông Danh T1 trình bày:
quá sử dụng nhà ông có nâng cấp, sửa chữa nhà của cụ H2 và cụ H1, cùng chị T sửa chữa nhà cụ H1 nhưng ông không có yêu cầu xem xét việc nâng cấp, sửa chữa này.
Ông Danh T2 trình bày:
trong quá trình sử dụng đất có nâng cấp, tôn tạo đất nền như bồi đắp. Nên yêu cầu xem xét công sức của ông T2.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định của luật tố tụng dân sự; Diễn biến tại phiên tòa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo luật định. Đối với người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn và người liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39; Điều 244; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 623; Điều 649; Điều 650; Điều 651 và khoản 2 Điều 648 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Giao bà Danh Thị S và chị Danh Thị T được quyền quản lý, sử dụng phần nhà và đất có vị trí như sau:
Hướng Đông: Giáp đất T và Danh Thị H dài 3.5m + 18.6m;
Hướng Tây: Giáp phần đất giao ông Danh T2 dài 3.5m + 18.6m;
Hướng Nam: Giáp phần đất còn lại dài 5m;
Hướng Bắc: Giáp đường bê tông dài 5m;
Diện tích 110m² thuộc thửa số 13, tờ bản đồ số 77, đất tại Khóm D, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
- Giao ông Danh T2 được quyền quản lý, sử dụng phần đất diện tích như sau:
Hướng Đông: Giáp đất được giao cho bà Danh Thị S và Danh Thị Tuyết dài 6.5m + 4.1m + 8.8m + 3.1m;
Hướng Tây: Giáp phần đất còn lại của ông Danh T2 dài 6.5m + 4.1m + 8.8m + 3.1m;
Hướng Nam: Giáp phần đất còn lại dài 2m;
Hướng Bắc: Giáp đường bê tông dài 2m;
Diện tích 45m² thuộc thửa số 13, tờ bản đồ số 77, đất tại Khóm D, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
- Bà Danh Thị S và Danh Thị T có nghĩa vụ hoàn trả giá trị cho các hàng thừa kế cụ thể như sau:
Hoàn trả cho bà Danh Thị H; ông Danh X; ông Danh T1; ông Danh T2 và bà Danh Thị P giá trị kỷ phần là 32.033.476đ.
- Ông Danh T2 có nghĩa vụ hoàn trả giá trị quyền sử dụng cho các hàng thừa kế cụ thể như sau:
Hoàn trả cho bà Danh Thị H; ông Danh T1; ông Danh X; bà Danh Thị P và bà Danh Thị S giá trị kỷ phần là 8.585.445₫
- Giao các đồng thừa kế Danh Thị H, Danh Thị S, Danh X, Danh T2, Danh T1, Danh Thị P1 đồng quản lý, sử dụng phần đất diện tích còn lại cụ thể như sau:
Hướng Đông: Giáp đất Danh Thị H dài 11.92m;
Hướng Tây: Giáp phần đất giao ông Danh T2 dài 11.5m;
Hướng N: Giáp đất Lý Văn V dài 7m;
Hướng Bắc: Giáp đất được chia cho bà T, bà S + ông T2 dài 7m.
Diện tích: 89.6m² thuộc thửa số 13, tờ bản đồ số 77, đất tại Khóm D, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
Sau khi nghiên cứu vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: bà Danh Thị H có yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp chia thừa kế là phần đất diện tích 244.6m² đất tại Khóm D, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai theo quy định tại khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
2] Về nội dung vụ án:
Bà Danh Thị H có yêu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất diện tích 244.6m² đất thuộc thửa số 13, tờ bản đồ số 77, đất tại Khóm D, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
Hướng Đ: Giáp đất T và Danh Thị H dài 18,83m + 15,19m
Hướng Tây: Giáp phần đất giao ông Danh T2 dài 34m
Hướng Nam: Giáp giáp đất Lý Văn V dài 7m;
Hướng B: Giáp đường be tông dài 7m.
Căn cứ yêu cầu: đất do cụ Danh H1 và cụ Hữu Thị H2 để lại và hiện tại một phần đất do bà Danh Thị S, bà Danh Thị T cùng ông Danh T2 quản lý, sử dụng. Khi chia yêu cầu nhận đất và trả giá trị cho các đồng thừa kế.
Bị đơn bà Danh Thị S và chị Danh Thị T đồng ý chia di sản thừa kế là phần đất nêu trên và đồng ý trả giá trị quyền sử dụng đất được hưởng theo quy định, không đồng ý giao đất cho bà Danh Thị H và các đồng thừa kế khác.
3] Hội đồng xét xử xét thấy: cụ Danh H1 và cụ Hữu Thị H2 có sáu người con chung bao gồm Danh Thị H; Danh Thị P; Danh Xiêm; Danh Thị S; D và Danh T2. Cụ H1 chết ngày 28/02/2011, cụ H2 chết ngày 02/10/2005 và không để lại di chúc. Khi còn sống hai cụ tạo được khối di sản là phần đất ở diện tích 244.6m² thuộc thửa số 13, tờ bản đồ số 77, đất tại Khóm D, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; 01 phần công trình nhà cũ của hai cụ và 08 công đất nuôi tôm. Do các bên đương sự thống nhất về diện tích đất, các đồng thừa kế và cùng có yêu cầu chia di sản thừa kế là phần đất diện tích là 244.6m² thuộc thửa số 13, tờ bản đồ số 77, đất tại Khóm D, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, không có yêu cầu về phần đất nuôi trồng thủy sản diện tích là 08 công, nên đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
4] Xét yêu cầu của bà Danh Thị H, cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Danh X, Danh Thị P xét thấy: Tại phiên hòa giải ngày 22/12/2024 các đương sự thống nhất xác định giao cho bà Danh Thị S và chị Danh Thị T và ông D Thạch phần đất hiện tại bà S, chị T và ông T2 hiện đang quản lý, sử dụng và có yêu cầu bà S, chị T và ông T2 trả giá trị đất mà các bên đã sử dụng cho các hàng thừa kế theo giá trị mà hội đồng định giá quy định. Tuy nhiên do đại diện theo ủy quyền của bà Danh Thị H cùng với ông Danh X và bà Danh thị P có yêu cầu bà S và chị T trả lại giá trị đất được hưởng ngang 4.5m giá mỗi mét ngang 40.000.000₫ là 180.000.000đ cho bà H, bà P và ông Danh X, ông T2 và ông T1.
Thấy rằng, đối với phần đất là di sản do cụ H1 và cụ H2 để lại là phần đất diện tích 244.6m², trong phần đất trên có nhà của bà S và chị T được xây dựng năm 2022, một phần công trình nhà của ông Danh T2 được xây dựng năm 2014 và một phần công trình nhà của cụ Danh H1 và cụ H2 để lại. Đối với phần công trình nhà trên hiện nay do bà S và chị T đang quản lý, sử dụng, xây dựng nhà ở kiên cố và ngoài nơi ở này ra không còn nơi ở nào khác, cũng như đối với một phần nhà của ông Danh T2 đang quản lý sử dụng là một khối thống nhất không thể chia tách. Trong đó, phần đất chị T và bà S hiện đang quản lý, sử dụng bao gồm công trình nhà, mái che và phần nhà cũ của cụ H1, cụ H2 có diện tích là 110m² thuộc thửa số 13, tờ bản đồ số 77 và một phần đất giáp lộ bê tông ngang 5m dài 06 diện tích là 30m². Phần đất ông Danh T2 quản lý sử dụng các công trình nhà của ông T2 diện tích 45m² và phần đất giáp lộ bê tông ngang 02m dài 06m diện tích 12m² thuộc thửa số 13, tờ bản đồ số 77. Nên việc tiếp tục giao các phần đất này cho bà Danh Thị S, Danh Thị T và Danh T2 tiếp tục được quản lý, sử dụng là có cơ sở.
Do phần đất bà S, chị T quản lý, sử dụng 140.5m² và ông T2 quản lý sử dụng 57m² nên bà S, chị T và ông T2 có nghĩa vụ hoàn trả giá trị cho các đồng thừa kế giá trị đất tương ứng với phần giá trị được hưởng nên việc đại diện theo ủy quyền của bà Danh Thị H cùng với ông Danh X và bà Danh thị P có yêu cầu bà S và chị T trả lại giá trị đất là 180.000.000đ cho bà H, bà P và ông Danh X, ông T2 và ông T1 là không có cơ sở chấp nhận. Vì vậy phần giá trị di sản được hưởng sẽ cụ thể như sau:
Giao bà Danh Thị S và Danh Thị T được quyền quản lý, sử dụng phần nhà và đất có vị trí như sau:
Hướng Đông: Giáp đất T và Danh Thị H dài 6m + 3.5m + 18.6m;
Hướng Tây: Giáp phần đất giao ông Danh T2 dài 6m + 3.5m + 18.6m
Hướng Nam: Giáp phần đất còn lại dài 5m;
Hướng Bắc: Giáp đường bê tông dài 5m;
Diện tích 140.5m² thuộc thửa số 13, tờ bản đồ số 77, đất tại Khóm D, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
Giao ông Danh T2 được quyền quản lý, sử dụng phần đất diện tích như sau:
Hướng Đông: Giáp đất được giao cho bà Danh Thị S và Danh Thị Tuyết dài 6m + 6.5m + 4.1m + 8.8m + 3.1m;
Hướng Tây: Giáp phần đất còn lại của ông Danh T2 dài: 6m + 6.5m + 4.1m + 8.8m + 3.1m;
Hướng Nam: Giáp phần đất còn lại dài 2m;
Hướng B: Giáp đường be tông dài 2m.
Diện tích 57m² thuộc thửa số 13, tờ bản đồ số 77, đất tại Khóm D, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
Bà Danh Thị S và Danh Thị T có nghĩa vụ hoàn trả giá trị cho các hàng thừa kế cụ thể như sau:
Giá trị đất sử dụng 140.5m² x 1.144.726đ/m2 = 160.834.000₫
Giá trị nhà của cụ H1 và cụ H2 để lại 66.281.000₫
Tổng giá trị: 227.115.000đ. Trong đó mỗi kỷ phần có giá trị 37.852.500₫
Cụ thể hoàn trả cho:
Bà Danh Thị H; ông Danh X; ông Danh T1; bà Danh Thị P; ông Danh T2 giá trị mỗi kỷ phần là 37.852.500đ.
Ông Danh T2 có nghĩa vụ hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất cho các hàng thừa kế cụ thể như sau:
Diện tích đất sử dụng: 57m² x 1.144.726đ/m² = 65.249.000đ. Tương đương mỗi kỷ phần là 10.874.800đ.
Cụ thể hoàn trả cho:
bà Danh Thị H; ông Danh X; ông Danh T1; bà Danh Thị P; bà Danh Thị S giá trị kỷ phần là 10.874.800đ.
Đối với phần đất còn lại trong khối di sản diện tích 244.6m² có mộ của cụ Danh H1 và cụ Hữu Thị H2 sẽ giao các đồng thừa kế Danh Thị H, Danh Thị S, Danh X, Danh T2, Danh T1, Danh Thị P1 đồng quản lý, sử dụng phần đất diện tích còn lại cụ thể như sau:
Hướng Đông: Giáp đất Danh Thị H dài 5.92m;
Hướng Tây: Giáp phần đất giao ông Danh T2 dài 5.5m;
Hướng N: Giáp đất Lý Văn V dài 7m;
Hướng Bắc: Giáp đất được chia cho bà T, bà S + ông T2 dài 7m.
Diện tích: 47.1m² thuộc thửa số 13, tờ bản đồ số 77, đất tại Khóm D, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
5] Tại phiên tòa: ông Danh T2 xác định trong quá trình sử dụng đất có nâng cấp, tôn tạo đất nhưng không xuất trình được chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận. Bên cạnh đó, ông Danh T1 trong thời gian còn sống chung với cụ Danh H1 và Hữu Thị H2 có nâng cấp, sửa chữa nhà cho hai cụ, sau khi hai cụ mất ông T1 có cùng chị Danh Thị T sửa chữa nhà bao gồm một nhà chính và nhà sau. Tuy nhiên, ông T1 không có yêu cầu xem xét việc nâng cấp, sửa chữa nhà và chị T cũng không xuất trình được chứng cứ chứng minh có cùng ông T1 nâng cấp, sửa chữa nhà cho cụ H2 và cụ H1. Từ đó, không có căn cứ để xem xét đến công sức tôn tạo đối với một phần di sản còn lại là công trình nhà của cụ Danh H1 và cụ H2 cho chị T.
6] Về chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản: các đương sự có nghĩa vụ chịu tiền chi phí đo đạc, thẩm định và định giá là 3.536.000đ. Trong đó, bà Danh Thị H; ông Danh X; bà Danh Thị P; ông Danh T1; ông Danh T2; bà Danh Thị S mỗi người có nghĩa vụ chịu là 589.000đ. Bà Danh Thị H đã dự nộp tiền chi phí đo đạc, thẩm định và định giá là 5.000.000đ sẽ được nhận lại từ ông Danh X; bà Danh Thị P; ông Danh T1; ông Danh T2; bà Danh Thị S mỗi người là 589.000đ và nhận lại tại Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai là 1.464.000₫.
7] Về án phí dân sự có giá ngạch: các đương sự có nghĩa vụ chịu tiền án phí dân sự có giá ngạch đối với giá trị di sản được hưởng cụ thể như sau: bà Danh Thị H; ông Danh X; bà Danh Thị P; ông Danh T1; ông Danh T2; bà Danh Thị S có nghĩa vụ tiền án phí là 48.727.300đ x 5% = 2.436.000đ. Bà H đã dự nộp tiền tạm ứng án phí là 1.000.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009187 ngày 04/10/2024 được chuyển thu án phí. Bà H còn phải nộp thêm tiền án phí là 1.436.000đ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Giá Rai.
8] Xét quan điểm đề xuất của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai là phù hợp và có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39; Điều 244; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 623; Điều 649; Điều 650; Điều 651 và khoản 2 Điều 648 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Danh Thị H về việc yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất diện tích 244.6m² thuộc thửa số 13, tờ bản đồ số 77 đất tại Khóm D, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu cụ thể như sau:
- Giao bà Danh Thị S và Danh Thị T được quyền quản lý, sử dụng phần nhà và đất có vị trí như sau:
Hướng Đông: Giáp đất T và Danh Thị H dài 6m + 3.5m + 18.6m;
Hướng Tây: Giáp phần đất giao ông Danh T2 dài 6m + 3.5m + 18.6m
Hướng Nam: Giáp phần đất còn lại dài 5m;
Hướng Bắc: Giáp đường bê tông dài 5m;
Diện tích 140.5m² thuộc thửa số 13, tờ bản đồ số 77, đất tại Khóm D, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
- Giao ông Danh T2 được quyền quản lý, sử dụng phần đất diện tích như sau:
Hướng Đông: Giáp đất được giao cho bà Danh Thị S và Danh Thị Tuyết dài 6m + 6.5m + 4.1m + 8.8m + 3.1m;
Hướng Tây: Giáp phần đất còn lại của ông Danh T2 dài: 6m + 6.5m + 4.1m + 8.8m + 3,1m;
Hướng N: Giáp phần đất còn lại dài 2m;
Hướng B: Giáp đường be tông dài 2m.
Diện tích 57m² thuộc thửa số 13, tờ bản đồ số 77, đất tại Khóm D, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
- Giao các đồng thừa kế Danh Thị H, Danh Thị S, Danh X, Danh T2, Danh T1, Danh Thị P1 đồng quản lý, sử dụng phần đất diện tích còn lại cụ thể như sau:
Hướng Đông: Giáp đất Danh Thị H dài 5.92m;
Hướng Tây: Giáp phần đất giao ông Danh T2 dài 5.5m;
Hướng N: Giáp đất Lý Văn V dài 7m;
Hướng Bắc: Giáp đất được chia cho bà T, bà S + ông T2 dài 7m.
Diện tích: 47,1m² thuộc thửa số 13, tờ bản đồ số 77, đất tại Khóm D, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
- Giao bà Danh Thị S và Danh Thị T được quyền quản lý, sử dụng phần nhà và đất có vị trí như sau:
- Buộc bà Danh Thị S và chị Danh Thị T có nghĩa vụ hoàn trả giá trị cho các hàng thừa kế giá trị quyền sử dụng đất và công trình được hưởng bao gồm: Hoàn trả cho bà Danh Thị H; ông Danh X; ông Danh T1; bà Danh Thị P; ông Danh T2 giá trị mỗi kỷ phần là 37.852.500đ.
- Buộc ông Danh T2 có nghĩa vụ hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất cho các hàng thừa kế cụ thể như sau: Hoàn trả cho bà Danh Thị H; ông Danh X; ông Danh T1; bà Danh Thị P; bà Danh Thị S giá trị kỷ phần là 10.874.800đ.
- Bà Danh Thị S, chị Danh Thị T và ông Danh T2 được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục kê khai, đăng ký theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Về chi phí đo đạc, thẩm định và định giá: bà Danh Thị H; ông Danh X; bà Danh Thị P; ông Danh T1; ông Danh T2; bà Danh Thị S mỗi người có nghĩa vụ chịu là 589.000đ. Bà Danh Thị H đã dự nộp tiền chi phí đo đạc, thẩm định và định giá là 5.000.000đ sẽ được nhận lại từ ông Danh X; bà Danh Thị P; ông Danh T1; ông Danh T2; bà Danh Thị S mỗi người là 589.000đ và nhận lại tại Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai là 1.464.000đ.
Buộc ông Danh X; bà Danh Thị P; ông Danh T1; ông Danh T2; bà Danh Thị S có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Danh Thị H tiền chi phí đo đạc, thẩm định và định giá là 589.000đ.
- Về án phí dân sự có giá ngạch: Buộc bà Danh Thị H; ông Danh X; bà Danh Thị P; ông Danh T1; ông Danh T2; bà Danh Thị S có nghĩa vụ tiền án phí dân sự có giá ngạch là: 2.436.000đ. Bà H đã dự nộp tiền tạm ứng án phí là 1.000.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009187 ngày 04/10/2024 được chuyển thu án phí. Bà H còn phải nộp thêm tiền án phí là 1.436.000đ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Giá Rai.
- Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn lại phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Quốc K |
Bản án số 15/2025/DS-ST ngày 05/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI – TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
- Số bản án: 15/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI – TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Hiền yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất
