Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 23-01-2025

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Quyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đoàn Thị Liễu
  2. Ông Trần Đăng Khoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Trường hợp không tham gia

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 489/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 91/2024/QĐÐST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Minh T, sinh năm 1975; (có mặt)
  2. Địa chỉ: Số A khu phố V, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1974; (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Số A khu phố V, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 04/10/2024 và trong quá trình giải quyết vụ nguyên đơn Võ Thị Minh T trình bày:

Vào năm 1996 chị và anh Nguyễn Ngọc P tự nguyện quen biết yêu thương nhau và được sự đồng ý của cha mẹ hai bên nên chị và anh P tiến hành tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang vào ngày 27/3/1997. Trong quá trình chung sống chị và anh P có 02 người con chung tên Nguyễn Văn D, sinh ngày 13/9/1992 và Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 14/01/2000, hiện các con đã trưởng thành và có gia đình riêng. Về tài sản chung và nợ chung thì không có.

Chị T xác nhận thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng đến cuối năm 2023 thì vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn với nhau, lý do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, không hợp nhau, tình trạng căng thẳng ngày càng trầm trọng nên tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt nên chị và anh P đã ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Toà án giải quyết như sau:

  • Về hôn nhân: Xin được ly hôn cùng anh Nguyễn Ngọc P
  • Về việc nuôi con chung: Các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
  • Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai ngày 16/12/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Ngọc P trình bày như sau:

Vào năm 1996, anh và chị Võ Thị Minh T tự nguyện quen biết yêu thương nhau và được sự đồng ý của cha mẹ hai bên nên anh và chị T tiến hành tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang vào ngày 27/3/1997. Trong quá trình chung sống anh và chị T có 02 người con chung tên Nguyễn Văn D, sinh ngày 13/9/1992 và Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 14/01/2000, hiện các con đã trưởng thành và có gia đình riêng. Về tài sản chung và nợ chung thì không có.

Anh P xác nhận thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng đến cuối năm 2023 thì vợ chồng có cự cãi một số chuyện trong gia đình, vợ chồng cũng có mâu thuẫn với nhau nhưng chưa đến mức trầm trọng để phải ly hôn với nhau. Nay chị T yêu cầu ly hôn thì anh có ý kiến như sau:

  • Về hôn nhân: Anh còn thương vợ, thương con nên muốn hàn gắn đoàn tụ và không đồng ý ly hôn với chị T
  • Về việc nuôi con chung: Các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
  • Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn chị T yêu cầu ly hôn với anh P. Xét thấy đây là tranh chấp về ly hôn, bị đơn anh P có nơi cư trú tại Số A khu phố V, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  2. [2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho chị T và anh P nhưng anh P vắng mặt tại phiên tòa và không có lý do chính đáng, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. [3] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh P chung sống với nhau vào năm 1996 trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang vào ngày 27/3/1997, do đó hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
  4. [4] Xét yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị Minh T, Hội đồng xét xử xét thấy: Thời gian đầu sau khi cưới nhau, chị T và anh P chung sống hạnh phúc, nhưng từ đến cuối năm 2023 giữa anh chị bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và không hòa hợp, mâu thuẫn trầm trọng không hàn gắn được nên anh chị đã sống ly thân từ đó đến nay, chị T và anh P không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án, anh P cũng xác nhận vợ chồng có cự cãi một số chuyện trong gia đình nhưng không đến mức trầm trọng phải ly hôn, anh P cũng xác nhận vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay, qua đó cho thấy giữa anh chị đã có một thời gian dài sống ly thân với nhau, cuộc sống của ai người đó tự lo, cuộc sống hôn nhân của anh chị không còn hạnh phúc, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào quy định tại khoản 1, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.
  5. [5] Về việc nuôi con chung:
  6. Chị T và anh P cùng xác nhận anh chị có 02 người con chung tên Nguyễn Văn D, sinh ngày 13/9/1992 và Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 14/01/2000, hiện các cháu đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

  7. [6] Về tài sản chung: Chị T và anh P xác định không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  8. [7] Về nợ chung: Chị T và anh P xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  9. [8] Về án phí: Nguyên đơn chị T yêu cầu ly hôn nên căn cứ theo quy định tại khoản 4, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị T phải có nghĩa vụ nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, Điều 51, khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 35, 39 và Điều 40; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Võ Thị Minh T ly hôn với anh Nguyễn Ngọc P.
  2. Về nuôi con chung: Chị Võ Thị Minh T và anh Nguyễn Ngọc P cùng xác nhận anh chị có 02 người con chung tên Nguyễn Văn D, sinh ngày 13/9/1992 và Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 14/01/2000, hiện các cháu đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về tài sản chung: Chị Võ Thị Minh T và anh Nguyễn Ngọc P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về nợ chung: Chị Võ Thị Minh T và anh Nguyễn Ngọc P xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Võ Thị Minh T phải nộp 300.000 đồng nhưng chị T được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0007709 ngày 04-11-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, chị T không phải nộp thêm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.

  1. Quyền kháng cáo: Chị Võ Thị Minh T và anh Nguyễn Ngọc P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TP Rạch Giá;
  • - CCTHADS TP Rạch Giá;
  • - Phòng KTNV và Thi hành án TA tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - UBND phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Phan Thị Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HÔN GIỮA VÕ THỊ MINH T - NGUYỄN NGỌC P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger