Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 15/2025/HS-ST

Ngày 23-01-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Nga

Bà Nguyễn Thị Bích Lý

- Thư ký phiên toà: Ông Phùng Hoàng Phú -Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Khắc Thành Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:

1.Phạm Thị Lan H, sinh ngày 06 tháng 09 năm 1983 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số E H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số F T, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Việt H1 và bà Hoàng Thị T, có chồng là Trần Duy P (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án: Tại Bản án số 23/2018/HSST ngày 23/3/2018, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (chưa được xóa án tích), tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 03/06/2024; tạm giam ngày 12/06/2024; có mặt.

2.Nguyễn Thế T1, sinh ngày 22 tháng 10 năm 1990 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ F phường N (nay là phường A), quận L, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số A Đ, phường N (nay là phường A), quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế H2 (đã chết) và bà Đặng Thị T2, có vợ là Phạm Thị M và có 02 con; tiền án: Tại Bản án số 06/2019/HSST ngày 17/01/2019, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 48 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 114/2013/HSST ngày 12/11/2013, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 42 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (đã được xóa án tích); bị tạm giữ ngày 03/06/2024; tạm giam ngày 12/06/2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 25 phút ngày 03/6/2024, tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận L làm nhiệm vụ tuần tra đến khu vực đầu ngõ H Đ, phường N (nay là phường A), quận L, thành phố Hải Phòng thì phát hiện thấy Nguyễn Thế T1 đang ngồi trên xe mô tô biển kiểm soát 15G1-128.32 có biểu hiện nghi vấn. Tiến hành kiểm tra, T1 thả từ tay phải xuống đất 01 túi nilon màu trắng, cách chân phải của T1 20cm và vất 01 túi vải màu đen từ túi quần phía trước bên trái xuống đất, cách chân phải T1 khoảng 02 mét. Tổ công tác đã thu giữ 01 túi nilon màu trắng (mẫu QT1), thu giữ tại túi vải màu 03 túi nilon đều chứa tinh thể màu trắng (mẫu QT2, QT3, QT4); ngoài ra, còn thu giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 15G1-128.32 và 01 điện thoại di động Oppo màu đen. Đấu tranh tại chỗ, T1 khai nhận 04 túi nilon đều chứa ma túy loại Methamphetamine, số ma túy này T1 mua của 01 nữ giới tên H ở khu vực A để sử dụng. Sau đó, tổ công tác đã đưa T1 cùng vật chứng về trụ sở Công an quận L lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vào hồi 16 giờ 20 phút ngày 03/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã đưa T1 đi xác định căn nhà nơi T1 mua ma túy. Kết quả xác định là nhà số F T, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng. Qua xác minh căn nhà trên chỉ có một mình Phạm Thị Lan H đang ăn ở, sinh hoạt và H đã giao nộp chơ Cơ quan điều tra 01 điện thoại di động Iphone màu trắng mà H sử dụng để liên lạc với T1.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của H tại nhà số F T, Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thế T1 tại số A Đ đã thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.

Tại Kết luận giám định số 668/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận:

Tinh thể màu trắng của mẫu QT1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,75 gam, loại Methamphetamine;

Tinh thể màu trắng của mẫu QT2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 4,10 gam, loại Methamphetamine;

Tinh thể màu trắng của mẫu QT3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,84 gam, loại Methamphetamine;

Tinh thể màu trắng của mẫu QT4 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,67 gam, loại Methamphetamine.

Tổng số khối lượng là 6,36gam Methamphetamine

Tại các Kết luận giám định số 2657 và số 2658 ngày 11/9/2024 của Phòng K Công an thành phố H đối với 02 chiếc điện thoại thu giữ của T1 và H đã thể hiện nội dung liên quan đến việc mua bán ma túy.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thế T1 và Phạm Thị Lan H đều khai nhận: H và T1 là bạn quen biết nhau, vào trưa ngày 03/6/2024, T1 gọi điện thoại cho H hỏi mua 05 gam ma túy đá, H đồng ý và báo giá cho T1 là 2.600.000đồng; đồng thời H hẹn T1 khi nào mang đồ ăn đến nhà cho H thì lấy ma túy. Sau đó, H đi xe ôm đến khu vực đường T mua của nam giới không quen biết đang đứng ở đường tàu 01 túi nilon ma túy đá giá 2.200.000đồng rồi mang về nhà cất giấu. Sau khi mua ma túy thì H không cân lại và cũng không chia nhỏ số ma túy này. Đến khoảng 14 giờ 40 phút cùng ngày, T1 đến nhà H thì H đưa cho T1 túi nilon ma túy tại khu vực gác lửng, T1 nhận túi ma túy rồi chuyển khoản trả trước cho H 1.000.000đồng, số tiền còn lại hẹn 03 ngày sau sẽ trả. T1 cầm túi ma túy xuống tầng 1 rồi chia vào 04 túi nilon nhỏ, 01 túi T1 cầm ở tay phải, 03 túi còn lại T1 để trong 01 túi vải màu đen cất trong túi quần bên trái với mục đích để sử dụng. Sau đó, T1 đi về nhà, khi đi đến khu vực đầu ngõ H Đ thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 15G1-128.32 thu giữ của T1, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

Đối với nam giới bán ma túy cho H do H khai không biết lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở để điều tra làm rõ.

Tại Cáo trạng số 05/CT-VKSLC ngày 02 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Phạm Thị Lan H về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Nguyễn Thế T1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã giữ nguyên quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Thị Lan H mức án từ 09 đến 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thế T1 mức án từ 07 đến 08 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Do các bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 túi vải màu đen, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và lượng ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói được niêm phong trong bì thư;

Tịch thu phát mại sung vào Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động iphone màu trắng thu giữ của bị cáo H; 01 điện thoại di động oppo màu đen thu giữ của bị cáo T1;

Buộc bị cáo H phải nộp lại số tiền 1.000.000đồng để tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy:

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng, báo cáo bắt giữ, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào ngày 03/06/2024, tại nhà số F T, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng, bị cáo Phạm Thị Lan H đã thực hiện hành vi bán trái phép 6,36gam Methamphetamine cho bị cáo Nguyễn Thế T1 để kiếm lời. Bị cáo Nguyễn Thế T1 đã thực hiện hành vi cất giữ 6,36gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang tại khu vực đầu ngõ H Đ, phường N (nay là phường A), quận L, thành phố Hải Phòng. Do vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận bị cáo Phạm Thị Lan H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy vi phạm Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Thế T1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy vi phạm Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết định khung:

[3] Bị cáo Phạm Thị Lan H có 01 tiền án về tội phạm rất nghiêm trọng tại Bản án số 23/2018/HSST ngày 23/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, xử phạt bị cáo 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích; nay bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, bị cáo đã mua bán trái phép 6,36gam Methamphetamine. Vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết định khung là “Methamphetamine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” và “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[4] Bị cáo Nguyễn Thế T1 có 01 tiền án về tội phạm rất nghiêm trọng tại Bản án số 06/2019/HSST ngày 17/01/2019 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, xử phạt bị cáo 48 tháng tù về tội Cướp giật tài sản chưa được xóa án tích; nay bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, bị cáo đã tàng trữ trái phép 6,36gam Methamphetamine. Vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết định khung là “Methamphetamine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” và “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây tác hại xấu đến sức khỏe con người và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong danh mục quản lý của Nhà nước, cấm cất giữ, cấm lưu hành dưới mọi hình thức; nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, các bị cáo đã cố ý cất giữ trái phép, bị cáo H cất giữ để bán kiếm lời, bị cáo T1 cất giữ để sử dụng. Về nhân thân của bị cáo H và bị cáo T1 đều có 01 tiền án về tội phạm rất nghiêm trọng chưa được xóa án tích và là tình tiết định khung hình phạt, ngoài ra bị cáo T1 còn có 01 tiền án đã được xóa án tích; qua đó cũng cho thấy các bị cáo nhân thân xấu, ý thức chấp hành pháp luật kém nên cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của các bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[6] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[7] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của các bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo Phạm Thị Lan H mức hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thế T1 mức hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

- Về hình phạt bổ sung:

[9] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì các bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Do các bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

[10] Số ma tuý mà cơ quan Công an thu giữ khi bắt giữ các bị cáo, sau khi lấy đi giám định, lượng còn lại xét là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ;

[11] Đối với 01 túi vải màu đen; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã thu giữ của bị cáo T1; xét không có giá trị sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy;

[12] Đối với 01 điện thoại di động iphone thu giữ của bị cáo H; 01 điện thoại di động oppo thu giữ của bị cáo T1, các bị cáo đã sử dụng vào việc giao dịch mua bán trái phép chất ma túy; xét là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu phát mại sung vào Ngân sách Nhà nước.

[13] Đối với số tiền 1.000.000đồng mà bị cáo T1 trả cho bị cáo H bằng hình thức chuyển khoản để mua ma túy; xét là khoản tiền dùng vào việc phạm tội nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần buộc bị cáo H phải nộp lại để tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Về án phí:

[14] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Lan H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Lan H 09 (C) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03 tháng 06 năm 2024.

Căn cứ vào điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thế T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế T1 07 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03 tháng 06 năm 2024.

Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 túi vải màu đen, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và lượng ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói được niêm phong trong bì thư số 668MT/PC09;

Tịch thu phát mại sung vào Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động iphone màu trắng có số imel 35280116476658, imel2:352850116464050 thu giữ của bị cáo H; 01 điện thoại di động oppo màu đen có số imell:866376044816251, imel2: 866376044816244 thu giữ của bị cáo T1.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02 tháng 01 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).

Buộc bị cáo H phải nộp lại số tiền 1.000.000đồng (Một triệu đồng) để tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo H và bị cáo T1, mỗi phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Cơ quan CSĐT CA quận Lê Chân;
  • - Cơ quan THAHS CA quận Lê Chân;
  • - Trại tạm giam CATP Hải Phòng;
  • - Sở tư pháp TP Hải Phòng;
  • - PV06, PC10 CATP Hải Phòng;
  • - UBND phường An Dương, quận Lê Chân, TP Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Thu H, Vũ Thế T tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger