|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2025/HS-ST Ngày 22-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Văn Hiếu
Bà Nguyễn Minh Hằng
Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hải Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận HảiKiÕn An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 174/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 và Thông báo thay đổi lịch phiên tòa số 09/TB-TA ngày 14/01/2025 đối với các bị cáo:
Vũ Đức Đ, sinh ngày 24/5/1998 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số A đường C, TDP số C, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đức H (đã chết) và bà Nguyễn Thị S; bị cáo không có vợ, có 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 13/4/2024 đến ngày 22/4/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
Phạm Văn C, sinh ngày 03/6/1984 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: Số B C, TDP số D, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C1 và bà Vũ Thị D; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 13/4/2024 đến ngày 22/4/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
Người làm chứng:
Chị Nguyễn Thị Thùy N; vắng mặt.
Ông Lê Hữu H1; vắng mặt.
Anh Vũ Văn H2; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 12 phút ngày 12 tháng 4 năm 2024, Vũ Đức Đ gọi điện cho Phạm Văn C qua ứng dụng M để rủ C góp tiền mua ma túy “đá” về sử dụng. Do mạng kém, không nói chuyện được nên C gọi điện lại cho Đ. Đ bảo C là “Anh có 100.000 đồng, mày chung thêm tiền vào mua ma túy “đá” về chơi”. C hiểu ý Định muốn C chung tiền để mua ma túy “đá” về sử dụng nên đã đồng ý và trả lời “OK”. Sau đó, C đến nhà Đ ở số A đường C, TDP số C, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng. Do không có tiền mặt để đưa cho C, Đ dùng điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y67 của mình chuyển khoản số tiền 100.000 đồng từ tài khoản của Đ mang số 0332263310 ngân hàng MB vào tài khoản của C mang số 0702722467 ngân hàng MB (là tiền Định góp với C để mua ma túy). Sau đó, C bảo Đ đăng nhập vào tài khoản số 0702722467 ngân hàng MB của C chuyển tiếp 100.000 đồng từ tài khoản của C vào tài khoản số 0343386886 ngân hàng MB của Nguyễn Thị Thùy N, sinh năm 1985; ĐKHKTT: 20C A8/128 T, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng (để trả nợ N). Sau khi Đ chuyển khoản xong, C một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 15K1-159.79 đến khu vực đường bờ đê thuộc phường T, quận H, thành phố Hải Phòng. Tại đây, C gặp và mua của một người đàn ông không quen biết (hiện không xác định được nhân thân, lai lịch) 200.000 đồng được 01 túi ma túy “đá”. Sau khi mua được ma túy, C mang theo ma túy đi về nhà Đ. Trên đường đi, C gặp Vũ Đức D1, sinh năm 1988; địa chỉ: TDP E, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng là bạn xã hội của C, có mối quan hệ họ hàng với Đ đi xe ngược chiều. D1 hỏi C “Có không” (C hiểu ý D1 hỏi có ma túy không). C gật đầu và nói “Có rồi”. D1 quay xe đi cùng với C về nhà của Đ. C vào trước vứt túi ma túy “đá” xuống giường, nói với Đ “Đồ đây, lấy về rồi” rồi C đi vào nhà vệ sinh. Đ dùng kéo cắt túi ma túy, đổ ma túy vào tẩu thủy tinh cắm trên bộ đồ sử dụng ma túy có sẵn ở nhà Đ. Khi nhìn thấy D1 đi vào nhà, Đ bảo D1 “Anh nấu đi” (ý của Đ bảo D1 dùng bật lửa đốt ma túy thành khói cho mọi người sử dụng). D1 đồng ý, cầm bộ đồ sử dụng ma túy, dùng bật lửa có sẵn ở nhà Đ đốt toàn bộ ma túy “đá” có sẵn trong tẩu thủy tinh thành khói và sử dụng bằng cách hút khói ma túy từ ống nhựa cắm sẵn trên bộ đồ sử dụng ma túy qua miệng vào cơ thể. D1 sử dụng xong, để bộ đồ sử dụng ma túy xuống giường thì C đi vào và cầm ống hút cắm sẵn trên bộ đồ sử dụng bằng cách tương tự như D1. C sử dụng xong ma túy thì đến Đ và quay lại lần lượt đến D1, C, Đ. Mỗi người sử dụng xong hai hơi thì hết ma túy nên D1 đi về. Đến khoảng 17 giờ 50 phút cùng ngày, tổ công tác Công an phường T vào kiểm tra. Thu giữ: 01 chai nhựa trên có đậy nắp nhựa màu đỏ được đục 02 lỗ (01 lỗ gắn tẩu thủy tinh trong có chứa tạp chất màu nâu đen, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 30 cm), 01 ống hút nhựa màu trắng có bám dính tinh thể màu trắng, 01 bật lửa, 01 kéo gia dụng. Ngoài ra còn thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y67 lắp sim số thuê bao 0332263301 của Vũ Đức Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37F lắp sim thuê bao số 0702722467 và 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius mang BKS 15K1-159.79 của Phạm Văn C. Tổ công tác đã đưa Vũ Đức Đ, Phạm Văn C cùng tang vật về trụ sở Công an phường T lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Bản kết luận giám định số 459/KL-KTHS ngày 19/4/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Chất màu nâu đen bám dính trong tẩu thủy tinh của mẫu M1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy. Tinh thể màu trắng bám dính trên ống nhựa của mẫu M2 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số 1991/KL-KTHS ngày 06/7/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Phát hiện 01 (một) dấu vết đường vân trên 01 (một) nhựa nắp màu đỏ có đục 02 lỗ, kích thước đường kính phần thân rộng nhất 7,5 cm, cao 12 cm (Mẫu 1), dấu vết đường vân phát hiện không đủ yếu tố giám định. Phát hiện 01 (một) dấu vết đường vân trên 01 (một) bật lửa không màu, trên thân có in chữ PING GUO, kích thước 2,5 cm x 1,5 cm x 08 cm (M), dấu vết đường vân phát hiện không đủ yếu tố giám định. Không phát hiện thấy dấu vết đường vân nào khác trên các mẫu vật còn lại gửi giám định.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test thử Vũ Đức Đ, Phạm Văn C dương tính với ma túy Methamphetamine.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Vũ Đức Đ, Phạm Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên. Ngoài ra, Phạm Văn C còn khai: Trước đây C có vay tiền của chị Nguyễn Thị Thùy N số tiền 100.000 đồng, ngày 12/4/2024 C bảo Đ chuyển từ tài khoản của C vào tài khoản số 0343386886 ngân hàng MB của chị Nguyễn Thị Thùy N là số tiền Chiến chuyển với mục đích để trả nợ cho chị N. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius mang BKS 15K1-159.79 Chiến được anh rể là anh Vũ Văn H2, sinh năm: 1974; nơi cư trú: TDP số A, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng cho mượn từ tháng 2/2024 làm phương tiện đi lại. Việc Phạm Văn C sử dụng chiếc xe trên đi mua ma túy anh H2 không biết. Vũ Đức Đ khai: Bộ D2 để sử dụng ma túy là của Đ, do Đ mua ở khu vực đường T thuộc quận L, thành phố Hải Phòng của một người đàn ông không quen biết với giá 50.000 đồng vào ngày 12/4/2024.
Tại bản Cáo trạng số 181/CT-VKS ngày 29/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã truy tố Vũ Đức Đ và Phạm Văn C về tội "Tổ chức sử dụng trái pháp chất ma túy" theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên Vũ Đức Đ và Phạm Văn C phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Về các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Vũ Đức Đ có bố đẻ là ông Vũ Đức H là thương binh; bị cáo Phạm Văn C có thời gian phục vụ trong Quân đội từ tháng 3/2002 đến tháng 1/2005, có bố đẻ là ông Phạm Văn C1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến sỹ giải phóng hạng Nhì nên các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về vai trò của các bị cáo: Bị cáo Đ là người gọi điện rủ bị cáo C góp tiền đi mua ma túy, cung cấp địa điểm, chuẩn bị dụng cụ sử dụng. Bị cáo C là người góp tiền và trực tiếp đi mua ma túy về sử dụng. Như vậy bị cáo Đ là người khởi xướng và có vai trò cao hơn bị cáo C.
Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt Vũ Đức Đ từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù, Phạm Văn C từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt từ tính từ ngày 13/4/2024; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì giấy có dấu niêm phong số 459MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H bên trong có tẩu thủy tinh và ống nhựa; 01 bì giấy có dấu niêm phong số 1991/KL-KTHS của Phòng K Công an thành phố H bên trong có 01 chai nhựa nắp màu đỏ có đục 02 lỗ, kích thước đường kính phần thân rộng nhất 7,5 cm, cao 12 cm, 01 bật lửa không màu, trên thân có có in chữ PING GUO, kích thước 2,5 cm x 1,5 cm x 08 cm, 01 kéo phần lưỡi kéo bằng kim loại, phần tay cầm bọc nhựa màu cam, đen, kích thước phần rộng nhất 8,5 cm, dài 21,5 cm; sim thuê bao số 0702722467 của Phạm Văn C; sim số thuê bao 0332263301 của Vũ Đức Đ.
Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37F của Phạm Văn C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y67 của Vũ Đức Đ.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius mang BKS 15K1-159.79. Kết quả giám định số khung RLCS5C6408Y097087, số máy 5C64-097190 là số nguyên thủy, không phát hiện thấy có sự tẩy xóa, sửa chữa các ký tự. Giám định BKS 15K1-159.79 là biển giả. Xác minh tại tàng thư quản lý phương tiện xe máy Công an quận H, xe mô tô trên không có thông tin trong cơ sở dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện giao thông đường bộ. Quá trình điều tra hiện chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H tiếp tục tạm giữ chiếc xe, điều tra làm rõ chủ sở hữu, xử lý sau theo quy định của pháp luật.
Đối với Vũ Đức D1, hiện chưa triệu tập được để ghi lời khai, qua xác minh D1 vắng mặt tại địa phương. Ngày 29/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An có Công văn số 523/VKS yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H tách hành vi của Vũ Đức D1 để thụ lý, giải quyết theo thủ tục tố giác, tin báo về tội phạm.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Phạm Văn C tại khu vực bờ đê T thuộc phường T, quận H, thành phố Hải Phòng, quá trình điều tra hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.
Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, phần nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo rất ăn năn, hối hận. Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 17 giờ 12 phút ngày 12/4/2024, Đ gọi điện rủ C góp tiền để C đi mua ma túy về nhà Đ để sử dụng. Đến khoảng 17 giờ 50 phút ngày 12/4/2024, tại nhà của Vũ Đức Đ ở số A đường C, TDP số C, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng, Vũ Đức Đ, Phạm Văn C bị bắt quả tang có hành vi cùng nhau góp tiền mua ma túy, tổ chức cho mình và cho Vũ Đức D1 cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của Vũ Đức Đ và Phạm Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Vũ Đức Đ có bố đẻ là ông Vũ Đức H là thương binh; bị cáo Phạm Văn C có thời gian phục vụ trong Quân đội từ tháng 3/2002 đến tháng 1/2005, có bố đẻ là ông Phạm Văn C1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến sỹ giải phóng hạng Nhì nên các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về vai trò của các bị cáo:
[5] Bị cáo Đ là người khởi xướng rủ C cùng góp tiền mua ma túy cùng sử dụng, Đ sử dụng nơi ở cùng chuẩn bị dụng cụ, dùng kéo cắt túi ma túy, đổ ma túy vào tẩu thủy tinh cắm trên bộ đồ sử dụng ma túy có sẵn ở nhà Đ để cùng C, D1 sử dụng ma túy. C là người đi mua ma túy, khi C đi mua ma túy đã gặp D1 và cùng D1 về nhà Đ nên các bị cáo Đ, C đồng phạm với nhau, bị cáo Đ có vai trò cao hơn bị cáo C trong vụ án.
- Về hình phạt:
[6] Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được ma túy M1 là chất ma túy Nhà nước cấm mua bán, trao đổi, sử dụng nhưng vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà các bị cáo vẫn cố ý thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Các bị cáo cung cấp ma túy, nơi sử dụng và chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy có sẵn trong nhà cùng Vũ Đức D1 sử dụng.
[7] Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an chung và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó, cần xét xử nghiêm theo quy định của pháp luật. Xét nhân thân, tính chất, mức độ, vai trò và hành vi phạm tội của các bị cáo, cần xử các bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đảm bảo tính răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm, mức hình phạt áp dụng với bị cáo Đ cao hơn mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo C.
[8] Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
[9] 01 bì giấy, dấu niêm phong số 459MT/PC0901 của Phòng K Công an thành phố H bên trong có chứa tẩu thủy tinh và ống nhựa; 01 nì giấy có dấu niêm phong số 1991/KL-KTHS của Phòng K Công an thành phố H bên trong có 01 chai nhựa nắp màu đỏ có đục 02 lỗ, kích thước đường kính phần thân rộng nhất 7,5 cm, cao 12 cm, 01 bật lửa không màu, trên thân có in chữ PING GUO, kích thước 2,5 cm x 1,5 cm x 08 cm, 01 kéo phần lưỡi kéo bằng kim loại, phần tay cầm bọc nhựa màu cam, đen, kích thước phần rộng nhất 8,5 cm, dài 21,5 cm; 01 sim điện thoại số 0702.722.xxx của Phạm Văn C và sim điện thoại số 0332.263.xxx của Vũ Đức Đ: Đây là những đồ vật các bị cáo dùng để sử dụng trái phép chất ma túy và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
[10] 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37F của Phạm Văn C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y67 của Vũ Văn Đ1: Đây là đồ vật các bị cáo dùng vào việc phạm tội nhưng còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
[11] Đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius mang BKS 15K1-159.79. Kết quả giám định số khung RLCS5C6408Y097087, số máy 5C64-097190 là số nguyên thủy, không phát hiện thấy có sự tẩy xóa, sửa chữa các ký tự. Giám định BKS 15K1-159.79 là biển giả. Xác minh tại tàng thư quản lý phương tiện xe máy Công an quận H, xe mô tô trên không có thông tin trong cơ sở dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện giao thông đường bộ. Quá trình điều tra hiện chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H tiếp tục tạm giữ chiếc xe, điều tra làm rõ chủ sở hữu, xử lý theo quy định của pháp luật.
[12] Đối với Vũ Đức D1, hiện chưa triệu tập được để ghi lời khai, qua xác minh D1 vắng mặt tại địa phương. Ngày 29/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An có Công văn số 523/VKS yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H tách hành vi của Vũ Đức D1 để thụ lý, giải quyết theo thủ tục tố giác, tin báo về tội phạm theo quy định của pháp luật.
[13] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Phạm Văn C tại khu vực bờ đê T thuộc phường T, quận H, thành phố Hải Phòng, quá trình điều tra hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.
[14] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[15] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ Luật Hình sự: điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Vũ Đức Đ, Phạm Văn C phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Xử phạt:
Bị cáo Vũ Đức Đ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/4/2024.
Bị cáo Phạm Văn C 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/4/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì giấy, dấu niêm phong số 459MT/PC0901 của Phòng K Công an thành phố H bên trong có tẩu thủy tinh và ống nhựa; 01 bì giấy có dấu niêm phong số 1991/KL-KTHS của Phòng K Công an thành phố H bên trong có 01 chai nhựa nắp màu đỏ có đục 02 lỗ, kích thước đường kính phần thân rộng nhất 7,5 cm, cao 12cm, 01 bật lửa không màu, trên thân có in chữ PING GUO, kích thước 2,5 cm x 1,5 cm x 08 cm, 01 kéo phần lưỡi kéo bằng kim loại, phần tay cầm bọc nhựa màu cam, đen, kích thước phần rộng nhất 8,5 cm, dài 21,5 cm; 01 sim điện thoại số 0702.722.xxx của Phạm Văn C và sim điện thoại số 0332.263.xxx của Vũ Đức Đ.
Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37F của Phạm Văn C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y67 của Vũ Văn Đ1.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/12/2024 tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Vũ Đức Đ và Phạm Văn C mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
9
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Minh Hằng Nguyễn Văn Hiếu |
Nguyễn Thị Hằng |
10
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 22/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án
