Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM KHÊ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HS-ST

Ngày 23 - 01 - 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Bộ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Tú.

Ông Trần Văn Thành.

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Kiều Anh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Linh, ông Trần Xuân T - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ tên: Nguyễn Văn C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày 04 tháng 01 năm 1985 tại C, Phú Thọ.

    Nơi cư trú: khu X, xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12

    Bố đẻ: Nguyễn Văn V, sinh năm 1962, Mẹ đẻ: Phạm Thị T1, sinh năm 1961 hiện ở xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Vợ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1986, hiện ở xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Bị cáo có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2011.

    Gia đình bị cáo có 04 anh, chị, em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình.

    Nhân thân: Tại Bản án số 65/2018/HS-ST ngày 30/11/2018, Nguyễn Văn C bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê xử phạt 25.000.000đ về tội Đánh bạc. Bị cáo đã chấp hành xong Bản án.

    Tiền án, Tiền sự: Không

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 29/10/2024 đến ngày 01/11/2024, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 01/11/2024. Hiện đang tại ngoại tại xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).

  2. Họ tên: Trần Quang H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày 28 tháng 5 năm 1973 tại C, Phú Thọ.

    Nơi cư trú: khu X, xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12

    Chức vụ: Đảng viên Đ2, sinh hoạt tại chi bộ X, Đảng bộ xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo quyết định số 161-QĐ/UBKTHU ngày 14/01/2025 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy C6)

    Bố đẻ: Trần Văn C1 (đã chết), Mẹ đẻ: Trần Thị B, sinh năm 1940 hiện ở xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Vợ: Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1978, hiện ở xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Bị cáo có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2006.

    Gia đình bị cáo có 05 anh, chị, em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình.

    Nhân thân: Tại Bản án số 35/ST ngày 14/7/1999, Trần Quang H bị Tòa án nhân dân huyện Sông Thao (nay là huyện C) xử phạt cảnh cáo, phạt bổ sung 1.000.000đ về tội Đánh bạc. Bị cáo đã chấp hành xong Bản án.

    Tiền án, Tiền sự: Không

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 29/10/2024 đến ngày 01/11/2024, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 01/11/2024. Hiện đang tại ngoại tại xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).

  3. Họ tên: Nguyễn Văn P; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày 10 tháng 8 năm 1991 tại K, Hưng Yên.

    Nơi thường trú: khu B, xã P (hiện nay là xã N), huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Nơi ở hiện tại: khu Đoài Trong, xã Phú Khê, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

    Nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH Đ3 Trình độ học vấn: 9/12

    Bố đẻ: Nguyễn Văn H2, sinh năm 1960, Mẹ đẻ: Đào Thị B1, sinh năm 1965 hiện đều ở xã P (hiện nay là xã N), huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Vợ: Phạm Thị N, sinh năm 1992, hiện ở xã P (hiện nay là xã N), huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Bị cáo có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2024.

    Gia đình bị cáo có 2 chị, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 29/10/2024 đến ngày 01/11/2024, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 01/11/2024. Hiện đang tại ngoại tại xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).

  4. Họ tên: Đỗ Minh P1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1989 tại C, Phú Thọ.

    Nơi cư trú: khu X, xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12

    Bố đẻ: Đỗ Văn H3, sinh năm 1959, Mẹ đẻ: Trần Thị T3, sinh năm 1961 hiện đều ở xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Vợ Trần Thị H4, sinh năm 1992, hiện ở xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Bị cáo có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2018.

    Gia đình bị cáo có 03 anh, em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình.

    Tiền án, Tiền sự: Không

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 29/10/2024 đến ngày 01/11/2024, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 01/11/2024. Hiện đang tại ngoại tại xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).

  5. Họ tên: Hoàng Như H5; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày 10 tháng 11 năm 1971 tại C, Phú Thọ.

    Nơi cư trú: khu T, xã Y (hiện nay là xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12

    Bố đẻ: Hoàng Tiến M (đã chết), Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T4, sinh năm 1946 hiện ở xã Y (hiện nay là xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Vợ: Đặng Thị T5, sinh năm 1972, hiện ở xã Y (hiện nay là xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2000.

    Gia đình bị cáo có 06 anh, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

    Tiền án, Tiền sự: Không

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 29/10/2024 đến ngày 01/11/2024, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 01/11/2024. Hiện đang tại ngoại tại xã Y (hiện nay là xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).

  6. Họ tên: Phan Văn C2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày 29 tháng 9 năm 1968 tại C, Phú Thọ.

    Nơi cư trú: khu T, xã Y (hiện nay là xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/10

    Bố đẻ: Phan Đình C3, sinh năm 1942, Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H6, sinh năm 1942 hiện đều ở xã Y (hiện nay là xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Vợ: Đỗ Thị T6, sinh năm 1973, hiện ở xã Y (hiện nay là xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2005.

    Gia đình bị cáo có 06 anh, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

    Tiền án, Tiền sự: Không

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 29/10/2024 đến ngày 01/11/2024, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 01/11/2024. Hiện đang tại ngoại tại xã Y (hiện nay là xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).

  7. Họ tên: Nguyễn Ngọc S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày 18 tháng 8 năm 1989 tại C, Phú Thọ.

    Nơi cư trú: khu X, xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12

    Bố đẻ: Nguyễn Văn P2, sinh năm 1962, Mẹ đẻ: Đặng Thị H7, sinh năm 1963 hiện đều ở xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Vợ: Trần Thu H8, sinh năm 1994, hiện ở xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2019, con nhỏ nhất sinh năm 2021.

    Gia đình bị cáo có 03 chị, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

    Tiền án, Tiền sự: Không

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 29/10/2024 đến ngày 01/11/2024, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 01/11/2024. Hiện đang tại ngoại tại xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ.(Có mặt).

  8. Họ tên: Nguyễn Văn T7; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày 03 tháng 3 năm 1978 tại P, Thái Nguyên.

    Nơi cư trú: tổ dân phố V, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12

    Bố đẻ: Nguyễn Văn Đ (đã chết), Mẹ đẻ: Nguyễn Thị V1, sinh năm 1955 hiện ở phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

    Vợ, con: chưa có

    Gia đình bị cáo có 05 anh, em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình.

    Tiền án, Tiền sự: Không

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 29/10/2024 đến ngày 01/11/2024, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 01/11/2024. Hiện đang tại ngoại tại phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.(Có mặt).

  9. Họ tên: Nguyễn Văn M1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày 02 tháng 11 năm 1992 tại C, Phú Thọ.

    Nơi cư trú: khu Đ, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12

    Bố đẻ: Nguyễn Văn C4, sinh năm 1971, Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T8, sinh năm 1970 hiện đều ở xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Vợ: Nguyễn Thị Tuyết H9, sinh năm 1996, hiện ở xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Bị cáo có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2019, con nhỏ nhất sinh năm 2023.

    Gia đình bị cáo có 2 anh, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

    Tiền án, Tiền sự: Không

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 29/10/2024 đến ngày 01/11/2024, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 01/11/2024. Hiện bị can đang tại ngoại tại xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).

  10. Họ tên: Nguyễn Văn D; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày 15 tháng 11 năm 1970 tại Y, Hưng Yên.

    Nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12

    Bố đẻ: Nguyễn Văn C5 (đã chết), Mẹ đẻ: Đỗ Thị Đ1, sinh năm 1948, hiện ở xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

    Vợ: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1971, hiện ở xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên

    Bị cáo có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 1995.

    Gia đình bị cáo có 05 anh, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

    Tiền án, Tiền sự: Không

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 29/10/2024 đến ngày 01/11/2024, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 01/11/2024. Hiện đang tại ngoại tại xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. (Có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH đầu tư và thương mại Hà Bích

Địa chỉ: Khu Đ, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H2, Chủ tịch hội đồng quản trị

Địa chỉ: khu B, xã P (hiện nay là xã N), huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 19 giờ, ngày 29/10/2024, tại lò gạch H của Công ty TNHH Đ3 thuộc khu Đ, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ, các đối tượng gồm: Nguyễn Văn P, sinh năm 1991 ở Khu B, xã P (hiện nay là xã N), huyện C; Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1989 ở Khu X, xã H, huyện C; Hoàng Như H5, sinh năm 1971 ở Khu T, xã Y (hiện nay là xã P), huyện C; Phan Văn C2, sinh năm 1968 ở Khu T, xã Y (hiện nay là xã P), huyện C; Trần Quang H, sinh năm 1973 ở Khu X, xã H, huyện C; Nguyễn Văn T7, sinh năm 1978 ở Tổ dân phố V, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Nguyễn Văn M1, sinh năm 1992 ở Khu Đ, xã P, huyện C; Đỗ Minh P1, sinh năm 1989 ở Khu X, xã H, huyện C; Nguyễn Văn D, sinh năm 1970 ở thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Nguyễn Văn C, sinh năm 1985 ở Khu X, xã H, huyện C ngồi ăn cơm uống rượu cùng nhau. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày thì H, D và T7 đứng dậy trước đi sang phòng ngủ của Công nhân ở lò gạch và rủ nhau đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa sát phạt nhau bằng tiền (tất cả đều không nhớ rõ ai là người rủ rê đánh bạc ban đầu). T7 là người lấy bát sứ, đĩa sứ, quân bài và kéo có sẵn trong phòng ngủ rồi dùng kéo cắt 04 quân bài hình tròn từ quân bài chắn (tổ tôm) để đánh bạc. Sau đó T7, H, D đánh bạc với nhau, T7 là người cầm cái xóc đĩa. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, P, S, H5, Phan Văn C2, M1, P1, Nguyễn Văn C ăn cơm uống rượu xong đi sang phòng ngủ thì thấy H, T7, D đang đánh bạc nên tất cả tham gia đánh bạc cùng, trong đó, P được ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1960, ở Khu B, xã P (hiện nay là xã N), huyện C là Chủ tịch hội đồng quản trị Công ty TNHH Đ3 thuê làm giám đốc công ty TNHH Đ3 không can ngăn các đối tượng đánh bạc mà vào đánh bạc cùng. Lúc này, P thay T7 cầm cái xóc đĩa còn T7 tham gia đánh bạc cùng những người còn lại. Các đối tượng không thống nhất gì về việc thu nộp tiền hồ (tiền thuê địa điểm đánh bạc) và không có ai yêu cầu nộp tiền hồ. Khi đánh bạc, các đối tượng H, S, T7, P, Nguyễn Văn C ngồi trên giường còn M1, P1, D, Hội, Phan Văn C2 đứng xung quanh giường để đánh bạc.

Hình thức đánh bạc xóc đĩa mà các đối tượng trên sử dụng là: Người cầm cái cho 04 quân bài hình tròn vào đĩa sứ, úp bát sứ lên đĩa rồi xóc. Sau đó những người đánh bạc đặt tiền cửa chẵn hoặc cửa lẻ, trống cửa mỗi ván thấp nhất 100.000đ, ai đặt cao hơn thì tùy. Sau khi người chơi đặt cửa xong, người cầm cái mở bát để xem kết quả. Nếu khi mở bát ra có 02 hoặc 04 quân bài cùng sấp hoặc cùng ngửa thì là cửa chẵn, nếu có 01 hoặc 03 quân bài ngửa hoặc sấp thì về cửa lẻ. Người đánh bạc đặt cửa nào khi mở bát ra cửa đấy thì thắng bạc và được người cầm cái trả tiền bằng số tiền đã đặt cửa còn ngược lại thì thua bạc và người đặt cửa mất số tiền đã đặt cho người cầm cái.

Khi tham gia đánh bạc Nguyễn Ngọc S có 1.400.000đ; Hoàng Như Hội có 1.900.000đ, Phan Văn C2 có 1.500.000đ, Nguyễn Văn T7 có 1.200.000đ, Nguyễn Văn M1 có 1.000.000đ, Đỗ Minh P1 có 2.300.000đ; Nguyễn Văn D có 700.000đ, các đối tượng trên đều sử dụng tất cả số tiền mang theo để đánh bạc; Nguyễn Văn P sử dụng 15.000.000đ để đánh bạc, Nguyễn Văn C sử dụng 2.500.000đ để đánh bạc, Trần Quang H sử dụng 1.400.000đ để đánh bạc. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc trên chiếu bạc là: 28.900.000đ. Quá trình đánh bạc các đối tượng không có ai vay, mượn tiền để đánh bạc.

Các đối tượng đánh bạc liên tục đến 21 giờ 15 phút cùng ngày thì bị Công an huyện C phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ tại nơi các đối tượng đánh bạc gồm: 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân bài hình tròn được cắt từ lá quân bài chắn (tổ tôm) kích thước 1,5cm; 01 kéo kim loại; 01 thảm màu đỏ có nhiều hoa văn kích thước khoảng 1,6m x 1,8m; số tiền 28.900.000đ trên chiếu bạc. Ngoài ra còn thu giữ tại túi quần của Nguyễn Văn C số tiền 10.000.000đ tại chỗ C khai nhận số tiền này C không sử dụng vào mục đích đánh bạc; tạm giữ 01 ví giả da màu nâu của Nguyễn Văn P bên trong có số tiền 40.000đ, tại chỗ P khai nhận số tiền này P không sử dụng vào mục đích đánh bạc; tạm giữ 01 ví giả da màu nâu của Trần Quang H bên trong có số tiền 500.000đ, tại chỗ H khai nhận số tiền này H không sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn P, Nguyễn Ngọc S, Hoàng Như H5, Phan Văn C2, Trần Quang H, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn M1, Đỗ Minh P1, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn C đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã trình bày ở trên. Lời khai của các bị can phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, phương thức thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 03/CT-VKSCK ngày 10/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo về tội: “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị:

  • *Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn C.

  • *Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Quang H.

  • *Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn P, Hoàng Như H5, Phan Văn C2.

  • *Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn M1, Đỗ Minh P1, Nguyễn Văn D.

  • *Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Ngọc S, Hoàng Như H5, Phan Văn C2, Trần Quang H, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn M1, Đỗ Minh P1, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn C phạm tội “đánh bạc”.

  • * Về hình phạt:

    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 18 đến 21 tháng cải tạo không giam giữ. Trừ cho bị cáo 03 ngày tạm giữ quy đổi bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn CTKGG tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự C7 Khê nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

      Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho UBND xã H theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H để giám sát, giáo dục người bị kết án. Miễn khấu trừ thu thập cho bị cáo nhưng buộc bị cáo phải lao động phục vụ cộng đồng theo quy định của pháp luật.

    • -Xử phạt bị cáo Trần Quang H từ 33 triệu đồng đến 35 triệu đồng

    • -Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 30 triệu đồng đến 33 triệu đồng.

    • -Xử phạt các bị cáo Đỗ Minh P1, Hoàng Như H5, Phan Văn C2 mỗi bị cáo từ 25 đến 28 triệu đồng.

    • -Xử phạt các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Văn D mỗi bị cáo từ 21 triệu đồng đến 24 triệu đồng.

  • *Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với tất cả các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Ngọc S, Hoàng Như H5, Phan Văn C2, Trần Quang H, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn M1, Đỗ Minh P1, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn C.

  • * Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    • - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 28.900.000₫ (Hai mươi tám triệu chín trăm nghìn đồng); Số tiền 40.000đ(Bốn mươi nghìn đồng) của Nguyễn Văn P; Số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) của Trần Quang H.

    • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân bài hình tròn được cắt từ lá quân bài chắn (tổ tôm) kích thước 1,5cm; 01 kéo kim loại; 01 thảm màu đỏ có nhiều hoa văn kích thước khoảng 1,6m x 1,8m; 02 ví giả da màu nâu

    • - Trả lại cho Nguyễn Văn C số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/01/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê).

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo đều không có tranh luận gì.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên Tòa. Kiểm sát viên, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Xét thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai thể hiện trong hồ sơ và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án là phù hợp.

  2. Về những chứng cứ xác định có tội được xác định như sau:

    Trong khoảng thời gian từ khoảng 19 giờ 30 phút đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/10/2024, tại phòng ngủ công nhân ở lò gạch H của Công ty TNHH Đ3 thuộc khu Đ, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ, do Nguyễn Văn P được ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1960, ở Khu B, xã P (hiện nay là xã N), huyện C là Chủ tịch hội đồng quản trị Công ty TNHH Đ3 thuê làm giám đốc công ty TNHH Đ3, sau khi ăn cơm uống rượu tại công ty xong, Trần Quang H, Nguyễn Văn T7 và Nguyễn Văn D đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh xóc đĩa sát phạt nhau bằng tiền. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi H, D và T7 đang đánh bạc thì có Nguyễn Văn P, Nguyễn Ngọc S, Hoàng Như H5, Phan Văn C2, Nguyễn Văn M1, Đỗ Minh P1, Nguyễn Văn C vào phòng và đều tham gia đánh bạc cùng. Các đối tượng trên đánh bạc liên tục đến 21 giờ 15 phút cùng ngày thì bị Công an huyện C phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền mà các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 28.900.000₫ (Hai mươi tám triệu chín trăm nghìn đồng).

    Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Ngọc S, Hoàng Như H5, Phan Văn C2, Trần Quang H, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn M1, Đỗ Minh P1, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn C đã phạm vào tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

    Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:

    “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000đ hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

    ...”

    Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận hành vi đánh bạc của mình, do đó, Cáo trạng số 03/CT -VKSCK ngày 10/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê đã truy tố các bị cáo trên về tội đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

  3. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

    Hành vi của các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý; mức độ phạm tội là ít nghiêm trọng, nhưng số lượng bị cáo tham gia nhiều, đã xâm phạm trật tự quản lý công cộng, gây dư luận xấu trong xã hội, nên hành vi của các bị cáo phải bị xử lý nghiêm.

    Về vai trò của các đồng phạm trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Trong vụ án này, bị can Nguyễn Văn P là giám đốc được ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1960, ở Khu B, xã P (hiện nay là xã N), huyện C (là Chủ tịch hội đồng quản trị, người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH Đ3) thuê làm giám đốc công ty. Tuy nhiên khi thấy các đối tượng đánh bạc P không can ngăn cũng không rủ rê, lôi kéo mọi người đánh bạc mà tham gia đánh bạc cùng Nguyễn Văn C, Đỗ Minh P1, Hoàng Như H5, Trần Quang H, Phan Văn C2, Nguyễn Ngọc S, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn M1 và Nguyễn Văn D. Do vậy, tất cả đều là những người chơi đánh bạc nên là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội.

  4. Về các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Ngọc S, Hoàng Như H5, Phan Văn C2, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn M1, Đỗ Minh P1, Nguyễn Văn D quá trình điều tra đều đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, tỏ ra ăn năn hối cải, các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đều được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Văn P có đóng góp xây dựng cơ sở vật chất trường THCS P3 được trưởng cơ thư cam ơn và ủng hộ camera an ninh xã P; bị cáo Hoàng Như H5 có bố mẹ đẻ có công với cách mạng, bị cáo có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua nông dân sản xuất kinh doanh giỏi giai đoạn 2017-2019 được Hội nông dân xã Y tặng giấy khen; bị cáo Phan Văn C2 có bố mẹ đẻ là người có công với cách mạng, có đóng góp ủng hộ tiền và đất làm đường giao thông nông thôn tại địa phương được chính quyền địa phương xác nhận. Do vậy, các bị cáo Nguyễn Văn P, Hoàng Như H5 và Phan Văn C2 còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Đối với bị cáo Trần Quang H, Nguyễn Văn C, quá trình điều tra đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo H tham gia đóng góp ủng hộ phòng chống covid 19, ủng hộ quỹ vì người nghèo được chính quyền địa phương xác nhận, có bố mẹ là người có công với cách mạng. Bị cáo C có ông bà là người có công với cách mạng. Do vậy, bị cáo H và bị cáo C đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tất cả các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Ngọc S, Hoàng Như H5, Phan Văn C2, Trần Quang H, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn M1, Đỗ Minh P1, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn C đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

    Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Ngọc S, Hoàng Như H5, Phan Văn C2, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn M1, Đỗ Minh P1, Nguyễn Văn D đều có nhân thân tốt.

    Đối với bị cáo Trần Quang H: Tại bản án số 35/ST ngày 14/7/1999, Trần Quang H bị Toà án nhân dân huyện Sông Thao (hiện nay là huyện C) xử phạt Cảnh cáo, phạt bổ sung 1.000.000 đồng về tội Đánh bạc. (H đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích).

    Đối với bị cáo Nguyễn Văn C: Tại bản án số 65/2018/HS-ST ngày 30/11/2018, Nguyễn Văn C bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê xử phạt 25.000.000đ về tội Đánh bạc, án phí 200.000đ. (Chính đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích).

    Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy rằng:

    Đối với bị cáo Nguyễn Văn C: Chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng đảm bảo trừng trị, giáo dục riêng đối với bị cáo cũng như phòng ngừa trong xã hội. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo nhưng buộc bị cáo phải lao động phục vụ cộng đồng theo quy định của pháp luật.

    Đối với các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Ngọc S, Hoàng Như H5, Phan Văn C2, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn M1,Đỗ Minh P1, Nguyễn Văn D, Trần Quang Hchỉ cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền với mức hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo cũng đảm bảo trừng trị, giáo dục riêng đối với các bị cáo cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.

  5. Về hình phạt bổ sung:

    Khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 50.000.000đồng”.

    Xét thấy:

    Đối với bị cáo Nguyễn Văn C là lao động tự do, không có tài sản riêng nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo là phù hợp.

    Đối với các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Ngọc S, Hoàng Như H5, Phan Văn C2, Nguyễn Văn T7,Nguyễn Văn M1,Đỗ Minh P1, Nguyễn Văn D, Trần Quang Hhình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.

  6. Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng:

    - Đối với số tiền 28.900.000₫ (Hai mươi tám triệu chín trăm nghìn đồng) Cơ quan CSĐT Công an huyện C thu giữ trên chiếu bạc khi bắt quả tang, là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

    - Đối với 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân bài hình tròn được cắt từ lá quân bài chắn (tổ tôm) kích thước 1,5cm; 01 kéo kim loại; 01 thảm màu đỏ có nhiều hoa văn kích thước khoảng 1,6m x 1,8m là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng đánh bạc, là tài sản của Công ty TNHH Đ3 nhưng do Công ty không đề nghị nhận lại nên cần tịch thu tiêu huỷ.

    - Đối với số tiền 10.000.000đ tạm giữ tại túi quần của Nguyễn Văn C, do số tiền này C không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần trả lại cho C là phù hợp nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

    - Đối với 01 ví giả da màu nâu và số tiền 40.000đ tạm giữ của Nguyễn Văn P; 01 ví giả da màu nâu và số tiền 500.000đ tạm giữ của Trần Quang H, số tài sản này P và H không dùng vào mục đích đánh bạc nhưng tại phiên toà bị cáo P và H không yêu cầu nhận lại ví giả da và đề nghị tiêu huỷ, đối với số tiền thu giữ trên cả P và H đều đề nghị sung Ngân sách Nhà nước.

  7. Đối với Công ty TNHH Đ3 do ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1960, ở Khu B, xã P (hiện nay là xã N), huyện C là Chủ tịch hội đồng quản trị Công ty. Quá trình các bị cáo đánh bạc tại phòng nghỉ của Công ty thì Công ty, ông H2 không biết sự việc, không thu tiền hồ, không được hưởng lợi ích vật chất gì từ việc các đối tượng đánh bạc nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

  8. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

  9. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • *Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn C.

  • *Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Quang H.

  • *Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn P, Hoàng Như H5, Phan Văn C2.

  • *Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc S, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn M1, Đỗ Minh P1, Nguyễn Văn D.

  • *Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Ngọc S, Hoàng Như H5, Phan Văn C2, Trần Quang H, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn M1, Đỗ Minh P1, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn C phạm tội “đánh bạc”.

  • * Về hình phạt:

    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ (Được trừ 03 ngày tạm giữ từ ngày 29/10/2024 đến ngày 01/11/2024 qui đổi bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ). Bị cáo còn phải chấp hành 17 (Mười bẩy) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Văn C tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

      Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Văn C.

      Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải lao động phục vụ cộng đồng, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.

      Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

    • - Xử phạt bị cáo Trần Quang H 33.000.000 đồng (Ba mươi ba triệu đồng).

    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).

    • - Xử phạt bị cáo Đỗ Minh P1 27.000.000 đồng (Hai mươi bẩy triệu đồng).

    • - Xử phạt bị cáo Hoàng Như H5 26.000.000 đồng (Hai mươi sáu triệu đồng).

    • - Xử phạt bị cáo Phan Văn C2 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S 24.000.000 đồng (Hai mươi bốn triệu đồng).

    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T7 23.000.000 đồng (Hai mươi ba triệu đồng).

    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M1 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng).

    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng).

  • * Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    • - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 28.900.000₫ (Hai mươi tám triệu chín trăm nghìn đồng); Số tiền 40.000đ(Bốn mươi nghìn đồng) của Nguyễn Văn P; Số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) của Trần Quang H.

    • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân bài hình tròn được cắt từ lá quân bài chắn (tổ tôm) kích thước 1,5cm; 01 kéo kim loại; 01 thảm màu đỏ có nhiều hoa văn kích thước khoảng 1,6m x 1,8m; 02 ví giả da màu nâu

    • - Trả lại cho Nguyễn Văn C số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

    (Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/01/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê).

  • *Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Ngọc S, Hoàng Như H5, Phan Văn C2, Trần Quang H, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn M1, Đỗ Minh P1, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  • *Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • -VKSND huyện Cẩm Khê;
  • -VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • -UBND xã nơi B/c cư trú;
  • -CQCSĐT CA huyện Cẩm Khê;
  • -THADS huyện Cẩm khê;
  • - THA Hình sự;
  • -Người tham gia tố tụng;
  • -Lưu hồ sơ+VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Xuân Bộ

14

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ về vụ án hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Chính PT đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger