Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÌN HỒ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HSST

Ngày: 09/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Mạnh Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tẩn A Sếnh; bà Lò Thị Yến .

Thư ký phiên toà: Ông Phùng Trung Sơn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Lò Trí Siêu, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2024/TLST- HS, ngày 16 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST –HS, ngày 28 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Lò Văn T– Sinh năm: 1997; sinh tại: S, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: bản Ná Đon, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đoàn, Đảng: không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Lò Văn T1 – Sinh năm: 1977; Con bà: Lò Thị I – Sinh năm: 1976; Bị cáo có vợ là Lừ Thị T2 – Sinh năm: 2003, Bị cáo có 01 con – Sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/7/2024 đến nay - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 01/7/2024, Lò Văn T đi bộ từ nhà đến ngã tư N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu thì T1 gặp một người đàn ông tên D, khoảng 30 tuổi. Qua nói chuyển trao đổi nói chuyện, T đưa cho D 200.000 đồng, nhờ D mua Heroine để sử dụng. Sau đó D điều khiển xe mô tô chở T đi mua ma túy, khi đến đầu bản Noong Hẻo 2, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu, thì T đứng đợi, còn D đi vào trong bản, khoảng 20 phút sau, D quay lại đưa cho T 02 gói Heroine mỗi gói được gói bằng mảnh ni lon màu hồng được bọc chung bằng mảnh giấy vệ sinh màu trắng. Tươm cầm trên tay, ngồi sau xe mô tô của D. Khi D và T đi đến cuối bản Noong Hẻo 2, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu, thì gặp Tổ công tác Công an xã N đang làm nhiệm vụ, do sợ, nên T đã ném gói Heroine xuống đường, tổ công tác đã kịp thời khống chế và yêu cầu T nhặt gói Heroine lên, còn D đã tăng ga bỏ chạy. T khai, gói H vừa nhặt lên là của T, T tàng trữ để sử dụng.

Qua xác định khối lượng và giám định chất ma túy, tại kết luận giám định tư pháp số: 237, ngày 01/7/2024 của người giám định theo vụ việc, đã xác định 02 gói bột, màu trắng thu giữ của Lù Văn T3 bao gồm gói thứ nhất có ký hiệu M1 có khối lượng 0,088 gam, gói thứ hai ký hiệu M2 có khối lượng là 0,095 gam. Tổng khối lượng hai gói M1, M2 là 0,183 gam. Tại bản Kết luận giám định số: 909/GĐ-KTHS, ngày 04/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu bột khô, màu trắng thu giữ của Lò Văn T gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine.

Cáo trạng số: 74/CT- VKS, ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 01 năm 02 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS.

Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTTHS: Tịch thu tiêu hủy gồm: 02 mảnh ni lon màu hồng và 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị áp dụng Điều 135; Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp các tài liệu trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nhất trí luận tội và đề nghị của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện S, tỉnh Lai Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu và Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công điều tra, truy tố, trong quá trình thực hiện đã tuân thủ đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[ 2 ] Về hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy: Vào hồi 14 giờ 30 phút, ngày 01/7/2024, tại khu vực bản Noong Hẻo 2, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu, Công an xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu đã phát hiện, bắt quả tang Lò Văn T đang có hành vi tàng trữ 02 gói Heroine có tổng khối lượng 0,183 gam, Lò Văn T tàng trữ Heroine với mục đích để sử dụng (hít). Như vậy, khẳng định hành vi tàng trữ 0,183 gam Heroine của Lò Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Do vậy, Cáo trạng số: 74/CT – VKS, ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ truy tố đối với Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[ 3 ] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhận thấy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ Heroine là vi phạm pháp luật, nhưng do bị cáo là người nghiện chất ma túy, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, xử phạt tù đối với bị cáo để dăn đe, giáo dục đối với bị cáo và cũng là để phòng, chống các loại tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về ma túy tại địa phương. Tuy nhiên, khi xem xét mức hình phạt cần phải xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo là người nghiện chất ma túy.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo; Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn có hạn chế nhất định, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo.

[ 4 ] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa, xét thấy, bị cáo là người lao động tự do, nghiện chất ma túy, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có điều kiện thi hành, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[ 5 ] Về vật chứng: Đối với 02 mảnh ni lon màu hồng và 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội, cần phải tịch thu tiêu hủy.

[ 6 ] Về án phí hình sự sơ thẩm: Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn 200.000 đồng án phí hình sơ thẩm cho bị cáo.

Các vấn đề khác trong vụ án: Theo lời khai của Lò Văn T số Heroine bị thu giữ là do T nhờ 01 người tên là D khi bắt giữ T, D đã bỏ chạy, do T chỉ biết tten là D, không biết rõ nhân thân, lai lịch của D, nên không thể điều tra, xử lý được đối với người này.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy luận tội và ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

Áp dụng Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (một ) năm 04 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tạm giữ, tạm giam là ngày 01/7/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy gồm: 02 mảnh ni lon màu hồng và 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện S, tỉnh Lai Châu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu ngày 04/11/2024).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.

Án xử công khai, có mặt bị cáo, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Công an huyện Sìn Hồ;
  • - VKSND huyện Sìn Hồ;
  • - Thi hành án hình sự CA huyện Sìn Hồ;
  • - Thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HSST ngày 09/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 15/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào 01/7/2024 Công an xã Nong Hẻo, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã bắt quả tang Lò Văn Tơm đang có hành vi tàng trữ 0,183 gam Heroine
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger