Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN PHONG THỔ

TỈNH LAI CHÂU


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số:15/2024/HS-ST

Ngày 29-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Văn Thế

2. Ông Lò Văn Chiên

- Thư ký phiên toà: Bà Lù Thị Xuân - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HS ngày 18/11/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tẩn Diếu P; giới tính: Nam; sinh năm 1974; Nơi sinh: huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản T, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Tẩn Chỉn S, đã chết và con bà Tẩn Tả M, đã chết; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư; Bị cáo chung sống như vợ chồng với Tẩn San M1, sinh năm 1966; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/7/2024 đến ngày 24/7/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L, đến ngày 12/9/2024 chuyển đến Nhà tạm giữ Công an huyện P tạm giam cho đến nay. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Tẩn San M1, sinh năm 1966; địa chỉ: bản T, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu. Có mặt.

* Người phiên dịch cho bà Tẩn San M1: Anh Tẩn A H, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện P, tỉnh Lai Châu. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 15/7/2024, Tẩn Diếu P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 25M1-030.90 thuộc sở hữu của P và Tẩn San M1, sinh năm 1966 là người chung sống như vợ chồng với P đi từ nhà đến bản Van Hồ 2, xã N, huyện P tìm mua Heroine để sử dụng. Tại bản Van Hồ 2, P mua của một người đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch 01 gói Heroine giá 100.000 đồng. Mua được H1, P cất giấu trong cốp xe mô tô rồi đi về nhà. Hồi 18 giờ 40 phút cùng ngày, Tẩn D đi về đến bản S, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu thì bị Công an xã S, huyện P dừng xe kiểm tra, phát hiện bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, thu giữ 01 gói Heroine 01 xe mô tô biển kiểm soát 25M1-030.90 kèm đăng ký xe.Tại bản Kết luận giám định số 56/GĐVV ngày 15/7/2024 của người giám định theo vụ việc kết luận: số chất bột màu trắng, thu giữ của Tẩn Diếu Phây có khối lượng là 0,194 gam. Tại bản Kết luận giám định số 944/KL-KTHS ngày 17/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma tuý; loại Heroine.

Bản cáo trạng số 108/CT-VKSPT ngày 22/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Tẩn Diếu P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về bản kết luận điều tra số 110/KLĐT-CQĐT ngày 05/10/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P và bản Cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 07 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự và xử lý vật chứng theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25M1-030.90 là tài sản chung của bà và bị cáo vì bà không biết bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: hồi 18 giờ 40 phút ngày 12/6/2024, tại bản S, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, bị cáo Tẩn Diếu P đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,194 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã S, huyện P bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do bị cáo nghiện ma túy nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Khi bắt quả tang xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test nhanh kết quả xác định trong nước tiểu của bị cáo phát hiện có ma túy nhóm O (M, Heroine); bị cáo đang bị Ủy ban nhân dân xã S quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo không có công việc ổn định, thường xuyên qua lại với các đối tượng nghiện chất ma túy trên địa bàn xã.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; không biết chữ nên nhận thức pháp luật rất hạn chế. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc trên mức khởi điểm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có cơ hội cai nghiện ma túy và tiếp tục răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng bị cáo nghề nghiệp làm ruộng, nguồn thu thấp, không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án:

Đối với 0,194 gam Heroine thu giữ của Tẩn D, Cơ quan điều tra trích 0,038 gam gửi giám định chất ma túy, không hoàn lại mẫu vật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vật chứng còn lại gồm: 0,156 gam Heroine; 04 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì niêm phong đã mở là vật chứng Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

01 xe mô tô biển kiểm soát 25M1-030.90 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 003299 mang tên Đỗ Phương N (kèm theo chìa khóa xe) bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Những vấn đề liên quan:

Về nguồn gốc ma túy, bị cáo khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ.

Đối với Tẩn San M1 là đồng sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25M1-030.90. Quá trình điều tra xác định M1 không biết việc bị cáo P sử dụng chiếc xe đi mua Heroine sử dụng nên không phạm tội.

[7] Về án phí:

Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[8] Đối với đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án về việc trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25M1-030.90. Xét thấy, mặc dù chiếc xe trên là tài sản chung của bà và bị cáo nhưng bị cáo đã dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề liên quan đối với vụ án là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tẩn Diếu P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 17 (Mười bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2024.
  3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
  4. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,156 gam Heroine; 04 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì niêm phong đã mở.
  5. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đỏ - đen - xám mang BKS 25M1-030.90, số máy 5347421; số khung 793728, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong (dung tích xilanh 109cc); 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 003299 mang tên Đỗ Phương N (kèm theo chìa khóa xe).

    (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ).

  6. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Phong Thổ;
  • - Chi Cục THADS huyện Phong Thổ;
  • - CQCS ĐT Công an huyện Phong Thổ;
  • - CQ THAHS Công an huyện Phong Thổ;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Dương Thị Tuyết Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 15/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tẩn Diếu P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger