Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIA VIỄN

TỈNH NINH BÌNH


Bản án số: 15/2024/ HNGĐ-ST

Ngày 16/9/2024.

V/v: “Ly hôn và tranh chấp nuôi

con chung khi ly hôn”.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lã Hoàng Giáp

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Xuân Ninh.

Ông Hoàng Quốc Trị.

- Thư ký phiên tòa: bà Bùi Hồng Mơ - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Viễn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 64/2024/TLST- HNGĐ, ngày 23 tháng 5 năm 2024 về việc: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Trịnh Thị H, sinh năm 1990; Nơi cư trú: B, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.

Bị đơn: anh Phạm Văn Q, sinh năm 1990; Nơi cư trú: T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.

Chị H, anh Q có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 06 tháng 5 năm 2024 và bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trịnh Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn Q có đăng ký kết hôn vào ngày 24/9/2019 tại UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chị sinh sống tại Hà Nội và miền N một thời gian, đến cuối năm 2021 thì về sinh sống tại thôn B, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc đến giữa năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân có nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do tính tình khác nhau, quan điểm sống khác nhau; vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, anh Q không có trách nhiệm đối với vợ con nên vợ chồng thường xuyên xảy ra xô sát cãi vã nhau; mặc dù cả hai đã cố gắng nhiều lần hàn gắn và đã được hai bên gia đình nội ngoại khuyên bảo nhưng mâu thuẫn không được cải thiện. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên cũng trong thời gian giữa năm 2022 vợ chồng chị đã sống ly thân, chị sinh sống tại thôn B, xã G còn anh Q sinh sống tại thôn T, xã G quan hệ vợ chồng chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn; mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn Q.

Về con chung: Vợ chồng chị có hai con chung,cháu lớn là Phạm Ngọc Linh Đ, sinh ngày 10/4/2021, cháu bé là Phạm Ngọc Linh N, sinh ngày 28/5/2023. Kể từ khi sinh ra hai cháu cho đến nay chị luôn là người trực tiếp trông nom, chăm sóc các cháu. Từ sau khi chị sinh cháu thứ hai cho tới nay anh Q không thăm nom gặp gỡ con chung và cũng không có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi hai con chung cùng với chị. Do vậy khi ly hôn chị xin tiếp tục được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án chị yêu cầu Q phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung với số tiền là 1.000.000 đồng/01 cháu/01 tháng; tuy nhiên tại phiên tòa chị đề nghị Tòa án quyết định việc cấp dưỡng nuôi con theo mức quy định của pháp luật căn cứ theo mức lương tối thiểu vùng tại khu vực huyện G, việc cấp dưỡng thực hiện từ tháng 9/2024.

Về tài sản và công nợ chung: chị H không đề nghị Tòa án xem xét.

Tại bản tự khai, phiên hòa giải và tại phiên tòa Bị đơn anh Q trình bày như sau: anh và chị Trịnh Thị H có đăng ký kết hôn vào ngày 24/9/2019 tại UBND xã G, huyện G trên có sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng anh sinh sống tại miền N; đến năm 2021 vợ chồng anh về sinh sống tại thôn B, xã G, huyện G, hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do quan điểm sống khác nhau, không tìm được nói chung dẫn đến cãi vã nhau. Khoảng 01 năm nay anh đã về sinh sống tại thôn T, xã G còn chị H vẫn sinh sống tại thôn B, xã G vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay quan hệ vợ chồng chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Đến nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn với chị H.

Về con chung; Vợ chồng anh có hai con chung: Cháu lớn là Phạm Ngọc Linh Đ, sinh ngày 10/4/2021; cháu bé là Phạm Ngọc Linh N, sinh ngày 28/5/2023. Do tính chất công việc anh không thường xuyên có mặt ở nhà nhưng về trách nhiệm với con anh vẫn hoàn thành trách nhiệm của một người cha. Trong trường hợp Toà án giải quyết cho vợ chồng anh chị ly hôn thì anh xin nuôi cháu Phạm Ngọc Linh Đ; còn cháu Phạm Ngọc L N sẽ do cô H nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung, công nợ chung: anh Q không đề nghị Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Trịnh Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn là anh Phạm Văn Q có nơi cư trú tại: xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Quá trình tố tụng, vụ việc được chuyển sang thủ tục hòa giải đối thoại tại Tòa án, tuy nhiên việc hòa giải, đối thoại đã chấm dứt theo khoản 3 Điều 40 Luật Hòa giải Đối thoại tại Tòa án. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

[2]. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Trịnh Thị H và anh Phạm Văn Q được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 24/9/2019 tại UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Việc kết hôn của chị H, anh Q đảm bảo các quy định về điều kiện kết hôn, không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định của pháp luật. Như vậy quan hệ hôn nhân của chị Trịnh Thị H và anh Phạm Văn Q là hợp pháp.

Căn cứ trình bày của các đương sự tại phiên tòa, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định sau khi kết hôn vợ chồng chị H, anh Q1 sôngs hạnh phúc một thời gian sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do quan điểm sống khác nhau, không tìm được nói chung dẫn đến cãi vã nhau. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ lâu. Tại phiên tòa chị H, anh Q xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trở nên trầm trọng, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên thuận tình ly hôn. Do vậy Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận sự thỏa thuận của chị H và anh Q.

[3]. Về con chung: Trên cơ sở trình bày của các đương sự các tài liệu chứng cứ, xác định chị H và anh Q có hai con chung là cháu Phạm Ngọc Linh Đ, sinh ngày 10/4/2021; cháu bé là Phạm Ngọc Linh N, sinh ngày 28/5/2023.Quá trình giải quyết vụ án, chị H đề nghị Tòa án cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục cả hai con, yêu cầu anh Q cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa anh Q trình bày do cháu Linh N còn nhỏ nên anh đề nghị để cho chị H nuôi dưỡng, anh đề nghị được nuôi dưỡng cháu Phạm Ngọc Linh Đ. Về cấp dưỡng theo quy định pháp luật.

Xét thấy bản thân chị H, anh Q không vi phạm nghĩa vụ làm cha mẹ đối với con của mình là người có đủ điều kiện sức khỏe, có khả năng tạo ra thu nhập và các điều kiện khác đảm bảo cho việc nuôi dạy con chung;

Xét thấy chị H đang là người trực tiếp chăm sóc cho các cháu từ khi sinh ra đến nay, đảm bảo các điều kiệncho các cháu sinh sống, học tập và phát triển bản thân; mặt khác tại phiên tòa anh Q thừa nhận trong suốt thời gian anh chị không ở cùng nhau, anh cũng chỉ mới thăm nom con một vài lần.Do vậy, căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các cháu Hội đồng xét xử nhận thấy cần tiếp tục giao cho chị Trịnh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Phạm Ngọc Linh Đ, sinh ngày 10/4/2021 và cháu Phạm Ngọc Linh N, sinh ngày 28/5/2023là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng cho con: tại phiên tòa chị H và anh Q không thỏa thuận được mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, căn cứ Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động,mức lương tối thiểu vùng tại khu vực huyện G là 3.860.000 đồng/1 tháng, do vậy Hội đồng xét xử xác định nghĩa vụ cấp dưỡng tối thiểu theo quy định của pháp luật là 1.930.000 đồng/ tháng/ 1 con.

Chị H yêu cầu anh Q thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng từ tháng 9/2024 là phù hợp, do vậy cần buộc anh Q phải cấp dưỡng hàng tháng cho mỗi con với số tiền là 1.930.000 đồng/1 con/1 tháng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi thay đổi theo quy định pháp luật; việc cấp dưỡng tính từ tháng 9/2024.

[4] Về tài sản và công nợ chung: các đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Trịnh Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Anh Phạm Văn Q phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; các Điều 55, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 116 và 117 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ các Điều 357 và 468 Bộ luật Dân sự;
  • - Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trịnh Thị H với anh Phạm Văn Q.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị H về con chung: Giao cho chị Trịnh Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Phạm Ngọc Linh Đ, sinh ngày 10/4/2021 và cháu Phạm Ngọc Linh N, sinh ngày 28/5/2023cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

    Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; cha mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Về cấp dưỡng cho con: anh Phạm Văn Q phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung hàng tháng cho mỗi con là 1.930.000 đồng/1 tháng/1 con, kể từ tháng 9/2024 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong,bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

  3. Về tài sản chung, công nợ chung: chị Trịnh Thị H và anh Phạm Văn Q không đề nghị Tòa án giải quyết; do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Trịnh Thị H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm ly hôn,được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân huyện Gia Viễn theo biên lai số 0000977, ngày 23/5/2024.

    Anh Phạm Văn Q phải chịu án phí dân sự cấp dưỡng là 300.000 đồng(ba trăm nghìn đồng)

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 16/9/2024.

Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự: “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình
  • - VKSND huyện Gia Viễn;
  • - Chi cục THADS huyện Gia Viễn;
  • - UBND xã Gia Lập, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Vp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lã Hoàng Giáp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về ly hôn và tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 15/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger