Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN MINH

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HS-ST

Ngày 27-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đạng.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thỏa, bà Mua Thị Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Quỳnh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Lài - Kiểm sát viên.

Ngày 27/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 01/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HS ngày 15/11/2024 đối với các bị cáo:

  1. Tẩn A Đ, sinh năm 1980 tại xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang; CCCD số: [...], cấp ngày 19/7/2022; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tẩn A B (đã chết) và bà Vàng Thị Q, sinh năm: 1960; có vợ Cháng Thị T, sinh năm 1978 và con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 31/8/2024 đến ngày 06/9/2024 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Có mặt.
  2. Tẩn A K2, sinh năm 1986 tại xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang; CCCD số: [...], cấp ngày 24/5/2023; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tẩn A, sinh năm 1949 và bà Tẩn Thị T1, sinh năm: 1951; có vợ Xìn Thị M, sinh năm 1986 và con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 31/8/2024 đến ngày 06/9/2024 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Có mặt.
  3. Tẩn A T4, sinh năm 1985 tại xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang; CCCD số: [...], cấp ngày 26/5/2023; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tẩn A, sinh năm 1967 và bà Tẩn Thị S, sinh năm: 1966; có vợ Phàn Thị N, sinh năm 1982 và con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 31/8/2024 đến ngày 06/9/2024 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Có mặt.
  4. Lý A K, sinh năm 1989 tại xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang; CCCD số: [...], cấp ngày 25/8/2021; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý A G (đã chết) và bà Tẩn Thị T2, sinh năm: 1954; có vợ Tẩn Thị N1, sinh năm 1989 và con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 31/8/2024 đến ngày 06/9/2024 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo Tẩn A Đ, Tẩn A: Bà Nguyễn Thị Thanh H – Trợ giúp phiên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H. Có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo Tẩn A, Lý A K: Bà Nguyễn Thị Lan H1 – Trợ giúp phiên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H. Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng: Tẩn A S1, Tẩn A K1, Tẩn A, Tẩn A. Vắng mặt.

+ Người phiên dịch tiếng dân tộc dao: Ông Tẩn Văn T3; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện M, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 30/8/2024, Tẩn A, Lý A K cùng nhau ăn cơm uống rượu tại lán của gia đình ông Tẩn A V, sinh năm 1968 tại Thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang đến khoảng 22 giờ cùng ngày Tẩn A Đ, Tẩn A K2 đến lán nhà ông V nhằm mục đích để trả tiền nợ cho ông V, sau đó mọi người ngồi chơi ăn cơm uống rượu đến khoảng 02 giờ sáng ngày 31/8/2024, lúc này Tẩn A V đã đi ngủ, do trời mưa không về được nhà nên Tẩn A Đ rủ Tẩn A, Tẩn A và Lý A K đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm được thắng thua bằng tiền, thì K, K2, T4 đồng ý. Sau đó Tẩn A K2 lấy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá gồm các chất rô, cơ, bích, tép có sẵn từ trước ở trên chiếu nhựa rồi cả 4 người gồm Tẩn A, Lý A K, Tẩn A Đ và Tẩn A cùng nhau đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm ăn tiền. Hình thức chơi là trước khi chia bài mỗi người sẽ bỏ ra 20.000đ ở trên chiếu sau đó sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá chia thành 4 phần (04 người chơi), mỗi phần 9 lá bài, người chia bài thì được 10 lá bài, số bài còn lại úp xuống giữa chiếu. Người chia bài sẽ được đánh trước, nếu lá bài đánh ra người bên cạnh phía bên tay phải kết hợp với các lá bài của mình đang có gồm ít nhất 03 lá giống nhau hoặc liền nhau cùng chất thì được ăn lá bài đó để tạo thành “phỏm” và đánh ra 01 lá bài khác cho người kế tiếp, nếu không ăn được thì bốc 01 lá ở phần bài chưa chia ở chiếu rồi đánh ra 01 lá cho người kế tiếp. Mỗi ván người chơi được bốc và đánh tối đa 04 lượt. Trong quá trình chơi nếu người nào trong 10 lá bài trên tay có 09 lá tạo thành “Phỏm” được gọi là “Ù” thì thắng, người ù sẽ được số tiền 80.000đ mà mọi người đã đặt trước đó. Nếu kết thúc ván bài không có người “Ù” thì sẽ tính điểm của các lá bài không tạo thành “Phỏm”, người thắng là người có số điểm ít nhất, người thắng sẽ được lấy 80.000₫ mọi người đặt cược đồng thời người thắng sẽ được chia bài của ván tiếp theo. Nếu kết thúc ván bài người nào không có phỏm thì tính là thua (gọi là móm), nếu cả 4 người đều không có phỏm (móm) thì đánh lại ván khác và người thắng ở ván trước sẽ được quyền chia bài và đánh trước. Qúa trình đánh bạc, Tẩn A Đ sử dụng 4.550.000đ để tham gia đánh bạc, Tẩn A K2 sử dụng 1.008.000đ để tham gia đánh bạc, Tẩn A T4 sử dụng 3.900.000đ để tham gia đánh bạc và Lý A K sử dụng 1.500.000đ để tham gia đánh bạc. Cả bốn người cùng nhau đánh bài ăn tiền đến 03 giờ 30 phút sáng ngày 31/8/2024 thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Hà Giang, bắt quả tang thu giữ tổng số tiền là 10.958.000đ (mười triệu chín trăm năm mươi tám nghìn đồng) trong đó: Tiền thu trên chiếu bạc là 10.011.000đ, số tiền dùng để đánh bạc thu giữ trên người Tẩn A Đ là 50.000đ; thu giữ trên người Tẩn A T4 là 400.000đ và thu giữ trên người Tẩn A Kèo là 497.000đ; 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài; 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 36 quân bài; 01 chiếu nhựa màu xanh có in hoa văn nhiều màu sắc; 01 chiếu nhựa màu trắng - đỏ, có in hoa văn nhiều màu sắc.

Tại Bản kết luận giám định số: 334/KL-KTHS ngày 11/9/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh H kết luận: Tổng số 62 tờ tiền tờ tiền Việt Nam gửi giám định trên đều là tiền thật.

Bản Cáo trạng số: 16/CT-VKS ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang đã truy tố các bị cáo Tẩn A Đ, Tẩn A, Tẩn A, Lý A K về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản cáo trạng đã nêu.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Tẩn A Đ, Tẩn A, Tẩn A, Lý A K phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tẩn A Đ từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù; căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tẩn A K2 từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng; căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Tẩn A, Lý A K mỗi bị cáo từ 15 tháng đến 20 tháng cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của BLHS năm 2015 vì các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có việc làm ổn định, không có tài sản nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS năm 2015 đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) bộ tú lơ khơ: 01 bộ có 52 (năm mươi hai) quân bài gồm các chất rô, cơ, bích, tép; 01 bộ có 36 (ba mươi sáu) quân bài gồm các chất rô, cơ, bích, tép; 01 (một) chiếu nhựa màu xanh trắng có in hoa văn nhiều màu sắc (cũ đã qua sử dụng); 01 (một) chiếu nhựa màu đỏ trắng có in hoa văn nhiều màu sắc (cũ đã qua sử dụng

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 106 của BLTTHS năm 2015 đề nghị HĐXX tuyên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 10.958.000đ (mười triệu chín trăm năm mươi tám nghìn đồng) tiền Việt Nam đồng đã được giám định và niêm phong gửi vào Kho bạc nhà nước Việt Nam huyện Y theo quy định.

Về án phí: Các bị cáo đều thuộc đối tượng được miễn án phí, tại phiên tòa các bị cáo đều có đơn xin miễn án phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho các bị cáo.

Những người bào chữa cho các bị cáo đều khẳng định việc điều tra truy tố xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đồng thời nhất trí với mức hình phạt đề nghị đối với bị cáo Tẩn A T4, Lý A K và các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về xử lý vật chứng, về miễn án phí, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Tẩn A Đ đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét xử phạt bị cáo Đ từ 30 đến 36 tháng cải tạo không giam giữ vì bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và có đủ điều kiện để được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ.

Người bào chữa cho bị cáo K2 đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 15 đến 20 tháng cải tạo không giam giữ vì bị cáo là đồng phạm giản đơn, có vai trò không đáng kể.

Các bị cáo đều nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa, không bổ sung bào chữa, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm không nhất trí với ý kiến tranh luận của người bào chữa cho bị cáo Đ vì bị cáo là người khởi xướng thực hiện hành vi đánh bạc, nên vai trò của bị cáo là quan trọng nhất trong vụ án, do vậy đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm; đối với quan điểm bào chữa của cho bị cáo K2 đại diện Viện sát không nhất trí vì bị cáo là người giúp sức đắc lực nhất trong số các bị cáo, nên mức đề nghị xử phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo là phù hợp với vai trò của bị cáo trong vụ án, do vậy đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm.

Những người bào chữa, các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm không tranh luận đối đáp gì thêm.

Lời nói sau cùng của các bị cáo đều tỏ ra ăn năn, hối cải mong muốn Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung bào chữa của người bào chữa, nghe lời khai của các bị cáo và ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do người bào chữa, các bị cáo, người tham gia tố tụng cung cấp trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, không có khiếu nại, tố cáo. Do đó, những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do người bào chữa, các bị cáo, người tham gia tố tụng cung cấp trong quá trình điều tra, truy tố trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa vắng mặt những người làm chứng Tẩn A, Tẩn A K1, Tẩn A, Tẩn A không có lý do, tuy nhiên đã có đầy đủ lời khai có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt những người nêu trên.

[3] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 31/8/2024, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; quyết định trưng cầu giám định, Kết luận giám định số: 334/KL-KTHS ngày 11/9/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh H, phù hợp về thời gian, địa điểm và các thành phần tham gia, đã xác định được: Với động cơ mục đích vụ lợi, khoảng 02 giờ sáng ngày 31/08/2024 tại lán của gia đình ông Tẩn A thuộc thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Tẩn A Đ, đã khởi xướng việc đánh bài được thắng, thua bằng tiền, bằng hình thức đánh phỏm, T5 A kèo giúp sức bằng cách chuẩn bị bộ bài, sau đó Tẩn A Đ, Tẩn A, Tẩn A và Lý A K cùng nhau đánh bài phỏm được thua bằng tiền đến 03 giờ 30 phút sáng cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Hà Giang bắt quả tang thu giữ tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 10.958.000đ (mười triệu chín trăm năm mươi tám nghìn đồng). Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh truy tố và luận tội đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Tẩn A Đ, Tẩn A, Tẩn A, Lý A K phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân; các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng vì mục đích sát phạt nhau nhằm mục đích vụ lợi nên đã cố ý phạm tội, do vậy cần xử lý các bị cáo bằng biện pháp hình sự, với mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện, nhằm giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời để ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm.

[5] Về vai trò hành vi phạm tội: Các bị cáo phạm tội không có tổ chức, chỉ là đồng phạm giản đơn; các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Tổng số tiền các bị cáo dùng đánh bạc bị thu giữ quả tang tại hiện trường là 10.958.000đ (mười triệu chín trăm năm mươi tám nghìn đồng), trong đó:

[5.1] Bị cáo Tẩn A Đ là người khởi xướng, rủ rê việc đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm được thua bằng tiền. Bị cáo đã sử dụng số tiền lớn nhất là 4.550.000₫ (bốn triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) để tham gia đánh bạc cùng các bị cáo khác nên bị cáo là người giữ vai trò quan trọng nhất của vụ án và phải chịu mức hình phạt cao nhất so với các bị cáo khác trong vụ án.

[5.2] Bị cáo Tẩn A K2 là đồng phạm với vai trò tích cực nhất trong các đồng phạm, khi được bị cáo Đ rủ đánh phỏm ăn tiền bị cáo đã chuẩn bị quân bài là tú lơ khơ và là người thực hành trực tiếp tham gia đánh bạc với số tiền 1.008.000₫ (một triệu không trăm linh tám đồng), nên bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng nhưng nhẹ hơn mức hình phạt so với bị cáo Đ.

[5.3] Bị cáo Tẩn A T4 là đồng phạm với vai trò là người thực hành trực tiếp tham gia đánh bạc với số tiền là 3.900.000₫ (ba triệu chín trăm nghìn đồng), để tham gia đánh bạc, nên bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng nhưng nhẹ hơn bị cáo Tẩn A K2.

[5.4] Bị cáo Lý A K là đồng phạm với vai trò là người thực hành trực tiếp tham gia đánh bạc với số tiền là 1.500.000₫ (một triệu năm trăm nghìn đồng), nên bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng thấp hơn bị cáo Tẩn A T4.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Tẩn A Đ, Tẩn A, Tẩn A, Lý A K được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[8] Về nhân thân: Các bị cáo Tẩn A Đ, Tẩn A, Tẩn A, Lý A K đều có nhân thân tốt; đối với bị cáo Tẩn A Đ là người khởi xướng, rủ rê việc đánh bạc nên cần có mức án nghiêm khắc nhất cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cũng như công tác phòng ngừa tội phạm; đối với các bị cáo Tẩn A, Tẩn A, Lý A K đều là đồng phạm có vai trò không đáng kể, đều có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, ngoài lần phạm tội này các bị cáo chấp hành đầy đủ chính sách pháp luật nhà nước, quy định địa phương nơi cư trú nên không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà xử phạt bị cáo T5 A Kèo với hình phạt tù cho hưởng án treo đồng thời ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo; xử phạt các bị cáo Tẩn A, Lý A K với hình phạt cải tạo không giam giữ, giao về địa phương theo dõi, giám sát, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội thể hiện sự khoan hồng và nghiêm minh của pháp luật.

[9] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều không có nghề nghiệp, thu nhập thấp và không ổn định, đều là người thuộc đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

[10] Biện pháp tư pháp: Cần áp dụng Điều 123 của Bộ luật Tố tụng hình sự để quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Tẩn A Đ kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 27/11/2024 cho đến khi bị cáo đi chấp hành án.

[11] Bị cáo Tẩn A Đ, bị tạm giữ từ ngày 31/8/2024 đến ngày 06/9/2024 nên được khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù; các bị cáo Tẩn A, Lý A K bị tạm giữ từ ngày 31/8/2024 đến ngày 06/9/2024 là 06 (sáu) ngày, quy đổi 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ tổng là 18 (mười tám) ngày được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo.

[12] Về việc khấu trừ thu nhập: Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự, các bị cáo bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước, tuy nhiên xét thấy các bị cáo Tẩn A, Lý A K đều không có nghề nghiệp, thu nhập thấp và không ổn định, đều là người thuộc đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, do vậy miễn việc khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

[13] Về áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng: Các bị cáo Tẩn A, Lý A K phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định tại khoản 4 Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

[14] Về vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố Tụng hình sự để xử lý vật chứng của vụ án, cụ thể:

[14.1] Cần tịch thu tiêu hủy các vật chứng là công cụ phạm tội và vật không có giá trị sử dụng gồm: 02 (hai) bộ tú lơ khơ: 01 bộ có 52 (năm mươi hai) quân bài gồm các chất rô, cơ, bích, tép; 01 bộ có 36 (ba mươi sáu) quân bài gồm các chất rô, cơ, bích, tép; 01 (một) chiếu nhựa màu xanh trắng có in hoa văn nhiều màu sắc (cũ đã qua sử dụng); 01 (một) chiếu nhựa màu đỏ trắng có in hoa văn nhiều màu sắc (cũ đã qua sử dụng).

[14.2] Cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 10.958.000đ (mười triệu chín trăm năm mươi tám nghìn đồng) tiền Việt Nam đồng, do các bị cáo sử dụng để đánh bạc.

[15] Về án phí: Tại phiên tòa các bị cáo Tẩn A Đ, Tẩn A, Tẩn A, Lý A K đều có đơn xin miễn án phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

[16] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, những người bào chữa cho các bị cáo Tẩn A, Lý A K tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[17] Ý kiến của người bào chữa cho bị báo T6 đề nghị áp dụng mức hình phạt 30 đến 36 tháng cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Đ; ý kiến của người bào chữa cho bị báo T7 đề nghị áp dụng mức hình phạt 15 đến 20 tháng cải tạo không giam giữ đối với bị cáo K2 là không tương xứng với vai trò, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, do vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Tẩn A Đ, Tẩn A, Tẩn A, Lý A K phạm tội “Đánh bạc".
  2. Về hình phạt:

    - Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 4 Điều 123 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2021, xử phạt bị cáo Tẩn A Đ 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 31/8/2024 đến ngày 06/9/2024.

    Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Tẩn A Đ kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 27/11/2024 cho đến khi bị cáo đi chấp hành án.

    - Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo T5 A Kèo 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 27/11/2024.

    Giao bị cáo Tẩn A K2 cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Gia đình bị cáo Tẩn A K2 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang và người được phân công trong việc giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    - Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo T5 A Túc 20 (hai mươi) tháng cải tạo không giam giữ; xử phạt bị cáo Lý A K 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Các bị cáo Tẩn A T4, Lý A K mỗi bị cáo được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 31/8/2024 đến ngày 06/9/2024 là 06 (sáu) ngày, quy đổi 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ, tổng là 18 (mười tám) ngày; bị cáo Tẩn A T4 phải chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại là 19 (mười chín) tháng 12 (mười hai) ngày; bị cáo Lý A K phải chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại là 17 (mười bảy) tháng 12 (mười hai) ngày.

    Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Y, tỉnh Hà Giang nhận được Quyết định thi hành án.

    Giao các bị cáo Tẩn A T4, Lý A K cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang để giám sát, giáo dục; gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

    Trường hợp người chấp hành án vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

    Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Tẩn A, Lý A K.

    Buộc các bị cáo Tẩn A, Lý A K phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố Tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2021.

    + Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) bộ tú lơ khơ: 01 bộ có 52 (năm mươi hai) quân bài gồm các chất rô, cơ, bích, tép; 01 bộ có 36 (ba mươi sáu) quân bài gồm các chất rô, cơ, bích, tép; 01 (một) chiếu nhựa màu xanh trắng có in hoa văn nhiều màu sắc (cũ đã qua sử dụng); 01 (một) chiếu nhựa màu đỏ trắng có in hoa văn nhiều màu sắc (cũ đã qua sử dụng).

    + Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 10.958.000đ (mười triệu chín trăm năm mươi tám nghìn đồng) tiền Việt Nam đồng.

    (Tình trạng vật chứng, tài sản theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan Điều tra Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Minh lập ngày 01/11/2024).

  5. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    - Miễn nộp toàn bộ án tiền phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Tẩn A Đ, Tẩn A, Tẩn A, Lý A K, mỗi bị cáo là 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng).

  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2021, các bị cáo có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  7. Về thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang;
  • - Phòng PC 10, PV 06 CA tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện Yên Minh;
  • - Công an huyện Yên Minh;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Minh;
  • - UBND xã Ngọc Long, huyện Yên Minh;
  • - Các bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HSVA, HSTHAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Đạng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mua Thị Vân

Phạm Thị Thỏa

Hoàng Văn Đạng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 15/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tẩn A Đ và đồng bọn phạm tội "Đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger