Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUẦN GIÁO

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HS-ST

Ngày 24-11-2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Tằng.

  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bạc Thị Phương và ông Lý A Thu.

  • Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Vân, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Quàng Văn S, tên gọi khác: Không có tên gọi khác.

    Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1972, tại huyện T, tỉnh Điện Biên.

    Nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 04/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn B (đã chết) và bà Quàng Thị T (đã chết); chung sống như vợ chồng với chị Lò Thị T1, có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2006 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Bản án số 39/2006/HS-ST ngày 04/4/2006), chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2024 đến ngày 30/8/2024, tạm giam từ ngày 30/8/2024 cho đến nay, có mặt.

    * Người bào chữa cho bị cáo Quàng Văn S: Bà Cao Thị B1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ, có mặt.

  2. Họ và tên: Lò Văn T2, tên gọi khác: Không có tên gọi khác.

    Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1974, tại huyện T, tỉnh Điện Biên.

    Nơi cư trú: Bản D, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 01/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn P (đã chết) và bà Cà Thị S1, sinh năm 1938; có vợ Quàng Thị P1, sinh năm 1977, có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2005 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội Tiêu thụ tài sản do người phạm tội mà có (Bản án số 38/2005/HS-ST ngày 06/6/2005), chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2024 đến ngày 30/8/2024, tạm giam từ ngày 30/8/2024 cho đến nay, có mặt.

    * Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn T2: Bà Mai Thị Thanh L – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 13 giờ 10 phút, ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại bản Che Phai II, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên, Công an xã C bắt quả tang các bị cáo Lò Văn T2 đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ của bị cáo Lò Văn T2 01 (một) gói nilon màu xanh, bên trong chứa chất màu trắng dạng cục, dạng bột nghi ma túy (loại Heroine); 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 03 (ba) viên nén màu hồng, trên một mặt của mỗi viên nén đều có chữ WY, nghi ma túy tổng hợp. Hồi 14 giờ 45 phút, ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại nhà bị cáo Quàng Văn S, bản C, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên, Công an xã C bắt quả tang các bị cáo Quàng Văn S đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Thu giữ của bị cáo Quàng Văn S 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 02 (hai) viên nén màu hồng, trên một mặt của mỗi viên nén đều có chữ WY, nghi ma túy tổng hợp.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, bị cáo Lò Văn T2 và bị cáo Quàng Văn S đều thừa nhận 01 (một) gói Heroine gói bằng nilon màu xanh và 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 03 (ba) viên nén màu hồng, trên một mặt của mỗi viên nén đều có chữ WY là ma túy tổng hợp do bị cáo Lò Văn T2 mua của bị cáo Quàng Văn S vào hồi 12 giờ 00 ngày 21/8/2024 với giá tổng gói Heroine và 03 (ba) viên ma túy tổng hợp là 150.000đồng.

Ngày 21/8/2024 tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu trưng cầu giám định:

  • - Chất màu trắng dạng cục và bột có trong 01 gói nilon màu xanh thu giữ của bị cáo Lò Văn T2 có khối lượng 0,05 gam (ký hiệu M1).

  • - 03 (ba) viên nén màu hồng thu giữ của bị cáo Lò Văn T2 có khối lượng 0,28 gam (ký hiệu M2).

  • - 02 (hai) viên nén màu hồng thu giữ của bị cáo Quàng Văn S có khối lượng 0,17 gam.

Gửi toàn bộ làm mẫu vật của các bị cáo trưng cầu giám định chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 1375/KL-KTHS ngày 29/8/2024 và Kết luận giám định số 1376/KL-KLHS ngày 29/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận:

  • - Vật chứng thu giữ của bị cáo Lò Văn T2 có khối lượng 0,05 gam chất màu trắng dạng cục và dạng bột là chất ma túy: Loại Heroine.

  • - Vật chứng thu giữ của bị cáo Lò Văn T2 có khối lượng 0,28 gam các viên nén màu hồng là chất ma túy: Loại Methamphetamine.

  • - Vật chứng thu giữ của bị cáo Quàng Văn S có khối lượng 0,17 gam các viên nén màu hồng là chất ma túy: Loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Quàng Văn S, Lò Văn T2 khai nhận: Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 21/8/2024 bị cáo Quàng Văn S đi bộ từ nhà đến bản T, xã C, huyện T và mua được của một người phụ nữ không biết họ, tên, địa chỉ, khoảng 40 tuổi 01 gói Heroine gói bằng nilon màu xanh và 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 05 viên nén màu hồng với giá 250.000đồng; việc mua bán chỉ có bị cáo và người phụ nữ đó, không có ai chứng kiến tham gia cùng. Mua được ma túy bị cáo cất vào túi quần bên trái đang mặc đi bộ về nhà. Đến 12 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo Quàng Văn S đang ở nhà thì bị cáo Lò Văn T2 đến nhà hỏi mua ma túy, bị cáo Quàng Văn S đã lấy 01 gói Heroine gói bằng nilon màu xanh và 01 gói nilon màu trắng lấy ra 03 viên nén màu hồng bán cho bị cáo Lò Văn T2 với giá 150.000đồng. Đến 13 giờ 00 phút cùng ngày khi bị cáo Lò Văn T2 đang đi bộ trên đường về nhà thì tổ công tác Công an xã C kiểm tra và phát hiện, bắt quả tang bị cáo T2 về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy và thu giữ toàn bộ vật chứng. Cùng ngày hồi 14 giờ 30 phút cùng ngày tại nhà bị cáo S, tổ công tác Công an xã C cũng phát hiện, bắt quả tang bị cáo S về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy (02 viên Methamphetamine) còn lại.

Cáo trạng số: 160/CT-VKSTG ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo Quàng Văn S về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Lò Văn T2 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa luận tội của Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Quàng Văn S, Lò Văn T2 và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Quàng Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Quàng Văn S từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

  • - Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lò Văn T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Lò Văn T2 từ 01 (một) năm 02 (hai) tháng đến 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự với bị cáo Quàng Văn S và khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lò Văn T2.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,02 gam Heroine, 0,36 gam Methamphetamine còn lại, 02 (hai) mảnh nilon màu trắng, 01 (một) mảnh nilon màu xanh và 02 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước tiền ngân hàng N 150.000đồng của bị cáo Quàng Văn S (chưa thu được).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Quàng Văn S, Lò Văn T2.

Lời bào chữa của những người bào chữa cho các bị cáo Quàng Văn S, Lò Văn T2: Nhất trí với Cáo trạng truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với các bị cáo là đúng người, đúng quy định của pháp luật; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; bị cáo Quàng Văn S có anh trai ruột Quàng Văn K là liệt sĩ và được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba; bị cáo Lò Văn T2 đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra khai ra hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo S.

  • - Đối với bị cáo Quàng Văn S: Đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo S mức án thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa; không phạt bổ sung, miễn án phí hình sự, miễn truy thu số tiền 150.000đồng bị cáo S bán ma túy cho bị cáo T2.

  • - Đối với bị cáo Lò Văn T2: Đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo T2 mức án dưới đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa; không phạt bổ sung, miễn án phí hình sự cho bị cáo T2.

Các bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố, các bị cáo không có ý kiến bổ sung vào lời bào chữa, không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Hồi 14 giờ 30 phút ngày 21/8/2024, tại nhà bị cáo Quàng Văn S ở bản C, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên. Công an xã C bắt quả tang bị cáo Quàng Văn S đang cất giấu trái phép 0,17 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng và bán thu lợi; cụ thể hồi 12 giờ 00 phút, ngày 21/8/2024 bị cáo Quàng Văn S đã bán trái phép cho bị cáo Lò Văn T2 0,05 gam Heroine và 0,28 gam Methamphetamine với giá 150.000đồng. Vì vậy tổng khối lượng chất ma túy bị cáo S phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,05 gam Heroine + 0,28 gam Methamphetamine + 0,17 gam Methamphetamine = 0,50gam. Có đủ căn cứ kết luận hồi 13 giờ 00 phút, ngày 21/8/2024 tại bản Che Phai II, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên, bị cáo Lò Văn T2 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,05 gam Heroine và 0,28 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng, nguồn gốc ma túy do mua của bị cáo Quàng Văn S. Hành vi của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu tạm giữ; biên bản khám xét; biên bản nhận dạng, bản ảnh nhận dạng, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, kết luận giám định, lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Với hành vi và tổng khối lượng hai chất ma túy là 0,50 gam (0,05 gam Heroine và 0,45 gam Methamphetamine) bị cáo Quàng Văn S tàng trữ trái phép với mục đích để sử dụng và bán thu lợi thì bị cáo Quàng Văn S đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự của Bộ Luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

Với hành vi và tổng khối lượng hai chất ma túy là 0,33 gam (0,28 gam Methamphetamine và 0,05 gam Heroine) bị cáo Lò Văn T2 tàng trữ trái phép nhằm mục đích để sử dụng thì bị cáo Lò Văn T2 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này;”

Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo Quàng Văn S về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Lò Văn T2 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hơn nữa ma túy là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác gây mất trật tự an toàn xã hội, vì vậy hành vi của các bị cáo phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân:

    • + Bị cáo Quàng Văn S, năm 2006 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Bản án số 39/2006/HS-ST ngày 04/4/2006), bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, tính đến ngày 21/8/2024 khi phạm tội mới, bị cáo S đã được xóa án tích.

    • + Bị cáo Lò Văn T2, năm 2005 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Bản án số 38/2005/HS-ST ngày 06/6/2005), bị cáo đã chấp hành xong hình phạt, tính đến ngày 21/8/2024 khi phạm tội mới, bị cáo T2 đã được xóa án tích.

  • Các bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, vì vậy các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo. Đối với bị cáo Quàng Văn S có anh trai ruột là liệt sỹ và được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo S.

Hội đồng xét xử xét thấy tội phạm mà các bị cáo thực hiện là các tội nghiêm trọng, các bị cáo là người từng bị xét xử, nhận thức rõ hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện, chấp hành pháp luật nên các bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo Điều 38 của Bộ luật Hình sự và có hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời hạn nhất định để giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm ma túy nói chung.

[4] Đề nghị của Kiểm sát viên, những người bào chữa cho các bị cáo về hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo Quàng Văn S; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo Lò Văn T2; không phạt bổ sung, miễn án phí hình sự sơ thẩm với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về đề nghị của những người bào chữa cho các bị cáo: Không truy thu số tiền 150.000đồng của bị cáo S; áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và xử mức hình phạt dưới đề nghị của Kiểm sát viên cho bị cáo T2. Hội đồng xét xử xét thấy, số tiền 150.000đồng là tiền do phạm tội mà có (bán trái phép chất ma túy), mặc dù bị cáo S khai đã chi tiêu hết nhưng cần buộc bị cáo S phải nộp lại để tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Còn về lời khai của bị cáo T2, “hồi 13 giờ 00 phút, ngày 21/8/2024 bị cáo T2 bị Công an xã C bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (BL số 08); hồi 14 giờ 30 phút cùng ngày, Công an xã C tiếp tục bắt quả tang bị cáo Quàng Văn S về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy (BL số 33)”. Tuy nhiên lời khai sau khi bị bắt vào hồi 15 giờ 25 phút, ngày 21/8/2024 (BL số 110) bị cáo T2 khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là “mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ tại bản Che Phai II, xã C”; trong quá trình điều tra bị cáo T2 mới khai rõ là mua của bị cáo Quàng Văn S, vì vậy lời khai của bị cáo T2 là “thành khẩn khai báo” về hành vi phạm tội, không phải là “người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan điều tra” trong việc phát hiện hành vi phạm tội của bị cáo Quàng Văn S. Từ những phân tích nêu trên và cân nhắc tính chất, mức độ, nhân thân của bị cáo T2, không có căn cứ xử bị cáo T2 mức hình phạt thất hơn đề nghị của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử không chấp nhận các đề nghị trên của những người bào chữa.

[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo khoản 5 Điều 251 và khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng vụ án: Đối với 0,02 gam Heroine và 0,36 gam Methamphetamine (vật chứng còn lại, hoàn lại sau khi giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 02 (hai) mảnh nilon màu trắng, 01 (một) mảnh nilon màu xanh; 02 (hai) vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của các bị cáo là vật không có giá trị, cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền 150.000đồng bị cáo S bán ma túy cho bị cáo T2 (chưa thu được) nhưng đây tiền do phạm tội mà có nên cần buộc bị cáo S nộp sung vào ngân sách nhà nước.

Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy và tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[7] Án phí: Các bị cáo Quàng Văn S, Lò Văn T2 là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn S, bị cáo Lò Văn T2.

[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Các vấn đề khác:

  • - Đối với người phụ nữ không rõ họ, tên, địa chỉ cụ thể đã bán ma túy cho bị cáo S vào ngày 21/8/2024. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ điều tra xác minh nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

    • * Tội danh: Tuyên bố bị cáo Quàng Văn S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

    • * Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Quàng Văn S 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/8/2024.

  2. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

    • * Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T2 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

    • * Hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn T2 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/8/2024.

  3. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    • * Tịch thu tiêu hủy:

      • - 01 (một) gói niêm phong bằng phong bì của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ, các mép đều được dán kín, bên trong chứa 0,12 (không phẩy mười hai) gam Methamphetamine.

      • - 01 (một) gói niêm phong bằng phong bì của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ, các mép đều được dán kín, bên trong chứa M1: 0,02 (không phẩy không hai) gam Heroine; M2: 0,24 (không phẩy hai mươi tư) gam Methamphetamine.

      • - 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong gồm 01 (một) mảnh nilon màu trắng và 01 (một) vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.

      • - 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong gồm 01 (một) mảnh nilon màu trắng, 01 (một) mảnh nilon màu xanh và 01 (một) vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.

    • * Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:

      • - Tiền ngân hàng N 150.000đồng của bị cáo Quàng Văn S (chưa thu được).

      • (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/11/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên).

  4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

    Các bị cáo Quàng Văn S, Lò Văn T2 được miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Các bị cáo Quàng Văn S, Lò Văn T2 quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 24/11/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND huyện Tuần Giáo;
  • - CQTHAHS – Công an tỉnh Điện Biên;
  • - Công an huyện Tuần Giáo;
  • - Chi cục THADS huyện Tuần Giáo;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên;
  • - Các bị cáo, người bào chữa;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Giàng A Tằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 24/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 15/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quàng Văn S - Phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger