Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN TÂN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 15/2024/HS-ST

Ngày 06-11-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh;

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Mai Thị Hoài Nam.
  2. Bà Lê Thị Tình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Giang Tiến Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tráng A T1, sinh ngày 10/3/1997 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản T, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tráng A (đã chết) và con bà: Vàng Thị N, sinh năm: 1968; vợ: Thào Thị P, sinh năm 1998; Con: có 04 con chung, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 01/6/2024 đến ngày 10/6/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

  1. Anh Lò Văn D, sinh năm 1995. Trú tại: Bản C, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt).
  2. Anh Lò Văn P1, sinh năm 1993. Trú tại: Bản N, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt).
  3. Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1996. Trú tại: Bản N, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ ngày 01/6/2024, Tráng A đang ngồi ở sân của gia đình tại bản Tà Hử, xã H, huyện T thì có 01 người phụ nữ dân tộc Mông không rõ nhân thân, lai lịch đi bộ qua đường gần chỗ Trừ ngồi. Qua nói chuyện, T1 hỏi và mua được của người phụ nữ này 01 gói Heroin được gói bằng 01 mảnh nilon màu xanh với giá 300.000 đồng, mục đích để sử dụng. Sau khi mua được H, T1 cất giấu vào túi áo khoác bên trái đang mặc.

Đến khoảng 11 giờ ngày 01/6/2024, khi T1 đang ở nhà thì Lò Văn D, Lò Văn P1 và Hoàng Văn T cùng đến hỏi mua Heroin của T1 để sử dụng, T1 đồng ý bán. Khi gặp T1, D hỏi mua Heroin trước sau đó P1 và T cũng hỏi mua rồi lần lượt D, P1, T mỗi người đưa cho T1 100.000 đồng (gồm 03 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng), tổng là 300.000 đồng để mua Heroin. Sau khi nhận tiền xong, T1 cất tiền vào túi áo đang mặc rồi đi ra ngoài lấy gói Heroin mua lúc trước ra chia thành 04 phần rồi xé mảnh nilon màu xanh ban đầu gói lại thành 04 gói. Sau đó T1 mang 03 gói H đi vào trong nhà đưa cho P1, D và T mỗi người 01 gói, gói H còn lại T1 cầm ở tay trái. Sau khi mua được H, tại nhà của T1, D, P1 và T cùng đi ra khu vực bếp trong nhà T1 sử dụng hết bằng hình thức chích (của ai người đó tự sử dụng) nhưng T1 đi ra ngoài nên không biết.

Sau khi bán Heroin xong, T1 cầm gói H còn lại ở tay trái rồi đi ra góc nhà cạnh thùng đựng nước ở gần cửa ra vào, mục đích để sử dụng Heroin. Ngay sau đó, vào 13 giờ 15 phút cùng ngày khi D, P1 và T vừa sử dụng xong Heroin thì bị công an huyện T phát hiện thu giữ của mỗi người 01 mảnh nilon màu xanh, mỗi người 01 bơm kim tiêm màu trắng đã qua sử dụng. Tại chỗ D, P1 và T cùng khai nhận số H vừa sử dụng do D, P1 và T mua của Tráng A T1. Căn cứ lời khai của D, P1 và T, công an huyện T tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Tráng A T1 khi T1 đang đứng cạnh thùng nước để chuẩn bị sử dụng gói Heroin còn lại. Thấy công an đến T1 đã dùng tay trái thả gói Heroin vào trong thùng nước nhưng bị công an phát hiện và thu giữ. Gói Heroin thu giữ của Tráng A có khối lượng 0,12 gam, mục đích Trừ để sử dụng và ngoài ra còn thu giữ trong túi áo khoác bên trái của T1 số tiền 300.000 đồng do T1 bán H mà có.

Ngày 01/6//2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T đã tiến hành thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại kết luận giám định số 44/KL-TCGĐ ngày 01/6/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: Vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Tráng A có khối lượng là 0,12 gam.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã lấy toàn bộ 0,12 gam chất bột khô, màu trắng thu giữ của Tráng A T1 theo T1 khai nhận là H gửi giám định. Tại bản Kết luận giám định số 656/KL-KTHS ngày 05/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 01 (một) Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroin (H1), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã lấy số tiền 300.000 đồng thu giữ của Tráng A T1 do T1 bán Heroin cho Lò Văn D, Hoàng Văn T và Lò Văn P1 mà có. Tại bản kết luận giám định số: 660/KL-KTHS ngày 06/6/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: Số tiền 300.000 VNĐ gửi giám định là tiền thật.

Bản Cáo trạng số 86/CT -VKS - TU, ngày 16/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên để xét xử Tráng A T1 về các tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 2 Điều 251 và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Tráng A T1 mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chịu hình phạt từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù. Đề nghị xem xét miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 04 mảnh nilon màu xanh, 03 bơm kim tiêm đã qua sử dụng; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Tráng A T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 11 giờ ngày 01/6/2024, tại nhà ở của Tráng A thuộc bản T, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu, vào cùng một thời điểm, Tráng A đã cùng lúc bán trái phép 03 gói Heroin cho 03 người là Lò Văn D, Lò Văn P1 và Hoàng Văn T mỗi người một gói Heroin với giá 100.000 đồng thu được tổng số 300.000 đồng. Sau khi mua được H, D, P1 và T cùng nhau sử dụng hết Heroin trong nhà T1 nhưng T1 không biết. Đến 13 giờ 15 phút cùng ngày D, P1 và T bị công an huyện T phát hiện về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Căn cứ lời khai của D, P1 và T, Công an huyện T giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Tráng A T1 về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ của Trừ 01 gói Heroin có khối lượng 0,12 gam, mục đích Trừ để sử dụng và số tiền 300.000 đồng do T1 bán H mà có.

Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, tuy nhiên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo T1 đã đủ yếu tố cấu thành các tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn làm ảnh hưởng đến đời sống sức khỏe con người, làm gia tăng tệ nạn và các loại tội phạm khác, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Xét thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Tráng A T1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, trình độ học vấn không biết chữ nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bị cáo có bố đẻ là ông Tráng A S tham gia dân công hoả tuyến trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo T1 khó khăn, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, bị cáo làm ruộng, thu nhập thấp và không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: 0,12 gam Heroin thu giữ của Tráng A đã trích gửi giám định hết nên không đề cập giải quyết; 04 mảnh nilon màu xanh, 03 bơm kim tiêm đã qua sử dụng là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; Số tiền 300.000 đồng thu giữ của Tráng A T1 là tiền thu lợi bất chính do bán Heroin mà có, do vậy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[6] Về án phí: Bị cáo Tráng A Trừ gia đình thuộc diện hộ nghèo, bị cáo xin được miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[8] Các đối tượng hành vi liên quan đến vụ án:

Về nguồn gốc Heroin Tráng A khai do T1 mua của một người phụ nữ không rõ nhân thân, lai lịch tại sân nhà của T1 ở bản T, xã H, huyện T. Quá trình điều tra, không xác định được người phụ nữ này nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với các đối tượng Lò Văn D, Lò Văn P1, Hoàng Văn T đã mua Heroin của Tráng A và sử dụng hết nên Công an huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính cùng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định.

Đối với hành vi sử dụng trái phép Heroin của Lò Văn D, Lò Văn P1 và Hoàng Văn T tại nơi ở do Tráng A quản lý. Quá trình điều tra xác định: việc D, P1 và T tự ý sử dụng Heroin tại nơi ở do Trừ quản lý thì T1 không biết nên cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T không đề cập xử lý Tráng A T1 về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về điều luật áp dụng và tội danh:

    Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Tráng A T1 phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

  2. Xử phạt bị cáo T2 A Trừ 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và xử phạt bị cáo T2 A Trừ 01 năm 03 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là 08 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2024.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư của Công an huyện T màu trắng, hình chữ nhật, bên trong đựng 01 mảnh nilon màu xanh thu giữ của Tráng A L.01 (một) bì thư của Công an huyện T màu trắng, hình chữ nhật, bên trong đựng 01 mảnh nilon màu xanh; 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng thu giữ của Lò Văn D. 01 (một) bì thư của Công an huyện T màu trắng, hình chữ nhật, bên trong đựng 01 mảnh nilon màu xanh; 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng thu giữ của Lò Văn P1. 01 (một) bì thư của Công an huyện T màu trắng, hình chữ nhật, bên trong đựng 01 mảnh nilon màu xanh; 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng thu giữ của Hoàng Văn T.
    • + Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng.

    (Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng hồi 09 giờ 55 phút, ngày 28/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu).

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tráng A T1.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Tân Uyên;
  • - Chi Cục THADS huyện Tân Uyên;
  • - Công an huyện Tân Uyên;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HSVA./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU về hình sự (mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 15/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger