|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2024/HS-ST
Ngày 25-10-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chức và bà Trần Thị Thúy.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ML tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Công - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vừ A D, sinh ngày 01/01/1966, tại KO, TU, Lai Châu; Nơi ĐKHKTT: Bản ĐE, xã CL, huyện ML, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 0/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Vừ A M, (đã chết) và con bà Mùa Thị V, (đã chết); Có vợ là Mùa Thị S, sinh năm 1963 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1987, con nhỏ nhất sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 08/12/2020 bị Tòa án nhân dân huyện TU xử phạt 20 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đã được xóa án tích; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/5/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lường Thị T, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt (đã gửi bài luận cứ bào chữa và được bị cáo đồng ý).
Người phiên dịch: Bà Vàng Thị D. Địa chỉ: Tiểu khu 3, thị trấn IO, huyện ML, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 31/5/2024 tổ công tác Công an xã CL, huyện ML phát hiện, bắt quả tang Vừ A D đang có hành vi cất giấu trái phép 01 gói nilon màu hồng, bên trong đựng cục bột màu trắng nghi là Heroine tại khu vực bản ĐE, xã CL, huyện ML, tỉnh Sơn La.
Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon màu hồng, bên trong đựng cục bột màu trắng nghi là Heroine.
Ngày 31/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ML và Viện kiểm sát nhân dân huyện ML tiến hành bóc mở niêm phong và cân tịnh vật chứng thu giữ khi bắt quả tang. Kết quả: cục bột màu trắng bên trong gói nilon màu hồng có khối lượng 0,16 gam, lấy 0,06 gam làm mẫu giám định ký hiệu D1; còn lại 0,10 gam ký hiệu D1A nhập kho vật chứng. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ML ra quyết định trưng cầu giám định số 422.
Tại Kết luận giám định số 1188 ngày 04/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã kết luận: Mẫu gửi giám định D1 là chất ma túy; loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là D1 = 0,10 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,16 gam loại Heroine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, Vừ A D khai nhận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 31/5/2024 Vừ A D đi bộ để tìm mua ma túy về sử dụng. Đi được một đoạn, Vừ A D gặp một người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên, tuổi, địa chỉ), Vừ A D đã hỏi và mua được của người này 01 gói Heroine với số tiền 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Vừ A D cất vào túi quần rồi đi bộ về nhà, đi gần đến nhà thì bị tổ công tác Công an xã CL, huyện ML phát hiện bắt quả tang.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông theo lời khai của Vừ A D đã bán ma túy cho Vừ A D vào ngày 31/5/2024, Vừ A D không biết tên, tuổi, địa chỉ, việc mua bán không ai biết hoặc chứng kiến. Ngoài lời khai của Vừ A D Cơ quan điều tra Công an huyện ML không thu thập được tài liệu chứng cứ khác nên không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
Tại Bản cáo trạng số 114/CT-VKS-ML ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố bị cáo Vừ A D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Vừ A D đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vừ A D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt Vừ A D từ 20 tháng đến 26 tháng tù giam; Không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có tài sản.
Đối với vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyện ML được niêm phong dán kín, (đựng 01 mảnh nilon màu hồng; 01 túi nilon màu trắng ký hiệu D1A = 0,10 gam).
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Đề nghị miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Tại bản luận cứ bào chữa người bào chữa cho bị cáo khẳng định bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Song đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng, pháp luật Nhà nước và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì bị cáo là người dân tộc sống ở vùng điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, khối lượng ma túy thu giữ ít, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo từ 13 – 16 tháng tù giam, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, vì gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định, tài sản không có giá trị lớn và đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ML; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ML; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa, người phiên dịch không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Người bào chữa vắng mặt nhưng đã có đề nghị xét xử vắng mặt, đã gửi bản luận cứ bào chữa cho bị cáo và được bị cáo đồng ý. Căn cứ Điều 291 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quyết định xét xử vắng mặt người bào chữa.
[3] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Vừ A D thừa nhận: Ngày 31/5/2024 Vừ A D đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,16 gam Heroine với mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện ML phát hiện bắt quả tang.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, thông báo kết quả giám định vật chứng của vụ án, lời khai của người chứng kiến.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Vừ A D đã thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình làm là nguy hiểm cho xã hội và bản thân, bị cáo đã từng đi chấp hành án, được giáo dục, cải tạo nhưng do nghiện chất ma túy nên bị cáo lại tiếp tục thực hiện tội phạm. Hành vi cất giấu, cất giữ trái phép 0,16 gam Heroine của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, tội phạm bị cáo thực hiện đã hoàn thành. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là thuộc trường hợp nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương.
[4] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Toà cần xem xét chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, vì sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo.
[5] Về hình phạt
Về hình phạt chính: Tòa cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho xã hội và gia đình, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo nghiện chất ma túy, thu nhập không ổn định, tài sản không có gì giá trị lớn, bị cáo không có khả năng thi hành, Toà cần xem xét không áp dụng đối với bị cáo.
[6] Đối với người đàn ông dân tộc Mông bán trái phép chất ma túy cho bị cáo, cơ quan chức năng không có cơ sở chứng minh, xử lý.
[7] Về vật chứng của vụ án:
01 phong bì công văn của Công an huyện ML được niêm phong dán kín, (đựng 01 mảnh nilon màu hồng; 01 túi nilon màu trắng ký hiệu D1A = 0,10 gam). Là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo và người bào chữa xin miễn nộp tiền án phí. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: bị cáo Vừ A D, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Vừ A D 20 (Hai mươi) tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 31/5/2024).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyện ML được niêm phong dán kín, (đựng 01 mảnh nilon màu hồng; 01 túi nilon màu trắng ký hiệu D1A = 0,10 gam).
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện ML và Chi cục Thi hành án dân sự huyện ML).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Miễn nộp tiền án phí sơ thẩm cho bị cáo Vừ A D.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 25/10/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Lê Thị Thu Hà |
Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 15/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA 15 ngày 25.10.2024 Vừ A D Mua bán trái phép chất ma túy
