|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 15/2024/DS-ST Ngày 27/9/2024. V/v tranh chấp về thừa kế tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do- Hạnh phúc |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Thu Hà và bà Nguyễn Thị Thơ.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Thúy - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số 11/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024 về việc tranh chấp về thừa kế tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST - DS ngày 05/9/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QĐST-DS ngày 20/9/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Lê Thị T sinh năm 1975; nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
* Bị đơn: Ông Lê Tiến N, sinh năm 1966; nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi tạm trú: Số nhà C ngõ A N, tổ E, phường T, quận C, thành phố Hà Nội.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị N1 sinh năm 1975; nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Bà Lê Thị P sinh năm 1969; nơi cư trú: thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Bà Lê Thị L, sinh năm 1970; nơi cư trú: Tổ dân phố số C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Bà Trương Thị D; Nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
(Bà T, bà N1, bà P có mặt; ông N, bà L, bà D vắng mặt lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày: Bố mẹ bà là cụ Lê Tiến T1, sinh năm 1944, chết ngày 21/01/2016 và cụ Đào Thị Đ, sinh năm 1943, chết ngày 05/5/2023. Cụ T1 và cụ Đ chết không để lại di chúc. Cụ Lê Tiến T1 và cụ Đào Thị Đ có 05 người con gồm: Bà, ông Lê Tiến N, bà Lê Thị N1, bà Lê Thị P, bà Lê Thị L. Cụ T1 và cụ Đ không có con nuôi, con chung, con riêng nào khác. Bố mẹ của cụ T1 và cụ Đ đều đã chết trước cụ T1, cụ Đ từ rất lâu các bà không nhớ rõ năm các cụ chết.
Về di sản thừa kế của cụ Lê Tiến T1 và cụ Đào Thị Đ gồm: Quyền sử hữu 02 ngôi nhà và quyền sử dụng thửa đất số 29 tờ bản đồ số 01 bản đồ 299 (nay là thửa đất số 154, 480 thuộc tờ bản đồ số 13 bản đồ 2006) và thửa đất số 33 tờ bản đồ số 01 bản đồ 299 (nay là thửa đất số 155 thuộc tờ bản đồ số 13 bản đồ 2006) tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình và các tài sản xây dựng trên thửa đất số 480, 155. Bà xác định các tài sản xây dựng trên thửa đất 154 đều ông N sửa chữa, tôn tạo nên thuộc quyền sở hữu của ông N, không phải di sản thừa kế. Bà không xác định được cụ thể vị trí đất ở và đất trồng cây cùng nằm trong 02 thửa đất 154, 480.
Bà đề nghị Tòa án chia sản thừa kế của bố mẹ bà theo quy định của pháp luật. Trong đó bà, bà P, bà N1 được quyền đồng sử dụng, không phân chia ranh giới 02 thửa đất là thửa số 480 và 155 tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình và tài sản trên đất, ông N được quyền sử dụng thửa đất số 154 và tài sản trên đất. Ông N phải thanh toán tiền chênh lệch tài sản.
* Tại bản tự khai ngày 20/9/2024, bị đơn ông Lê Tiến N trình bày: Ông được nhận thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng và quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình về việc bà Lê Thị T yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản thừa kế bố mẹ ông để lại. Ông có ý kiến như sau:
Về nhân thân và năm sinh năm mất của bố mẹ ông như bà T đã trình bày là đúng. Bố mẹ ông chết không để lại di chúc. Quan điểm của ông về việc chia thừa kế như sau: Bố mẹ ông để lại di sản là quyền sử dụng thửa đất số 29 tờ bản đồ số 01 bản đồ 299 (thửa đất số 154, 480 thuộc tờ bản đồ số 13 bản đồ 2006) và thửa đất số 33 tờ bản đồ số 01 bản đồ 299 (thửa đất số 155 thuộc tờ bản đồ số 13 bản đồ 2006) tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Năm 1992 khi ông có gia đình riêng, bố mẹ ông đã cho ông sử dụng quyền sử dụng thửa đất số 154 tờ bản đồ số 13 tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Sau đó vợ chồng ông đã xây dựng ngôi nhà 02 tầng như hiện nay và các công trình trên đất. Khi bố mẹ ông cho ông chỉ nói bằng miệng không có văn bản. Nay các em ông yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ ông để lại. Quan điểm của ông đề nghị tòa án xem xét công sức ông trông nom cải tạo đất, đóng thuế sử dụng đất và là người thờ cúng bố mẹ để chia cho ông được phần nhiều hơn. Ông có nguyện vọng được quyền sử dụng toàn bộ thửa đất số 154 tờ bản đồ số 13 tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, và 01 phần đất ao của thửa số 155 kéo thẳng từ thửa đất 154 ra đường. Giao cho các em của ông thửa đất số 480, phần đất ao còn lại của thửa số 155 và các tài sản trên đất. Hai bên không phải thanh toàn chênh lệch tài sản cho nhau. Ông đã thông báo và bàn bạc với vợ ông là Trương Thị D, bà D đồng ý với ý kiến của ông không bổ sung gì thêm.
* Tại bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Lê Thị P trình bày: Bà nhất trí với toàn bộ phần trình bày của bà T, không bổ sung gì. Đối với phần di sản thừa kế của bà L tặng cho bà, bà nhận và xin chịu toàn bộ phần án phí của bà L.
* Tại bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Lê Thị N1 trình bày: Bà đồng ý với toàn bộ ý kiến của bà T và bà P, không bổ sung gì.
* Tại văn bản từ chối nhận di sản thừa kế và đơn trình bày nguyện vọng bà Lê Thị L trình bày:
Đối với di sản thừa kế của bố mẹ bà có nguyện vọng được hưởng di sản thừa kế của bố mẹ bà để lại nhưng vì điều kiện ở xa bà từ chối nhận đồng thời tặng cho phần bà được hưởng thừa kế cho bà Lê Thị P.
* Tại biên bản xác minh UBND xã T cung cấp:
Theo bản đồ 2006:
- Thửa đất 154 bản đồ 2006 và tài sản trên đất trước đây do cụ T1, cụ Đ sử dụng. Hiện nay do bà Lê Thị T sử dụng.
- Thửa đất 480 bản đồ 2006 và tài sản trên đất được vợ chồng ông Lê Tiến N và vợ là bà Trương Thị D sử dụng.
Tuy nhiên khi xem xét thẩm định tại chỗ thì:
- Thửa đất 154 tờ bản đồ số 02 bản đồ 2006 và tài sản trên đất do ông Lê Tiến N và bà Trương Thị D quản lý sử dụng.
- Thửa đất 480 tờ bản đồ số 02 bản đồ 2006 và tài sản trên đất do bà Lê Thị T quản lý, sử dụng.
Ngoài ra cụ T1 và cụ Đ còn sử dụng thửa đất ao số 33 tờ bản đồ số 01 bản đồ 299 (thửa đất số 155 thuộc tờ bản đồ số 02 bản đồ 2006) tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Về việc diện tích khi xem xét thẩm định tại chỗ và theo bản đồ đo đạc năm 2006 có sự chênh lệch về diện tích có thể là do các hộ gia đình liền kề đã trao đổi cho nhau. Về diện tích thửa đất ao giảm và diện tích đất vườn tăng là do hộ gia đình ông T1 đã lấp 01 phần đất ao tại thửa 155 để mở ngõ đi từ thửa 480 ra ngõ đi chung. Tuy nhiên việc trao đổi đất, chuyển mục đích sử dụng đất này đều này chưa thông qua chính quyền địa phương. Vì vậy, địa phương đề nghị Tòa án căn cứ diện tích đo đạc theo bản đồ 2006 để xác định chính xác quyền sử dụng các thửa đất số 155, 154, 480 tờ bản đồ số 02 bản đồ 2006.
Khi làm công tác dồn điền đổi thửa năm 2011, cả ba thửa đất 154, 155, 480 đều không phải khấu trừ vào đất nông nghiệp.
Đối với thửa đất 155 đã được hộ gia đình ông T1 sử dụng ổn định từ trước năm 1993 và thửa đất 155 không có ngõ đi riêng, nếu người dân có đề nghị thì có thể chuyển đổi phần đất nuôi trồng thủy sản sang đất giao thông để mở ngõ đi.
Đối với phần đất trồng lúa đã san lấp thành vườn có diện tích 156,7 m², hộ gia đình ông T1 chưa làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Theo hồ sơ lưu trữ tại UBND xã thì phần đất ruộng này thuộc quyền sử dụng của ông Lê Tiến T2 là em trai ông Lê Tiến T1.
Về việc nộp thuế quyền sử dụng đất: Từ năm 2016, UBND xã không thu thuế quyền sử dụng đất ở đối với tất cả các hộ gia đình. Từ năm 2016 trở về trước, người nộp thuế và đứng tên trong sổ thu thuế đất ở toàn bộ các thửa đất 154, 155, 480 là ông Lê Tiến T1.
* Tại biên bản lấy lời khai của bà Đào Thị N2 – là hộ liền kề thửa đất 480, bà N2 trình bày:
Giữa gia đình bà và gia đình ông Lê Tiến T1 là hàng xóm, không có quan hệ họ hàng. Trước đây, bà không nhớ rõ thời gian khi ông T1 xây dựng lại công trình phụ, giữa ông T1 và chồng bà là ông Lưu Đình C đã thỏa thuận miệng trao đổi phần đất giáp ranh giữa hai gia đình để cho thửa đất của cả hai gia đình vuông vắn, thuận tiện cho việc sử dụng. Sau khi đổi đất, ông T1 đã xây dựng tường rào như hiện trạng. Từ đó đến nay hai gia đình sử dụng ổn định, không có tranh chấp. Nay bà đề nghị Tòa án căn cứ kết quả xem xét thẩm định tại chỗ để xác định ranh giới giữa hai gia đình.
* Tại biên bản lấy lời khai của ông Lê Tiến T2 – là hộ liền kề thửa đất 154, ông T2 trình bày:
Ông là em trai của ông Lê Tiến T1, sử dụng thửa đất giáp ranh với đất ông T1. Bố mẹ ông và ông T1 đều đã chết từ 50, 60 năm trước, thời gian đã quá lâu ông không nhớ chính xác năm mất. Từ trước đến nay giữa hai bên gia đình sử dụng đất ổn định không có tranh chấp, khi Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ ông có chứng kiến và chỉ rõ mô mốc ranh giới giữa hai bên gia đình. Tuy nhiên do gia đình ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định, có chữ ký giáp ranh các hộ liền kề nên để chính xác đề nghị Tòa án căn cứ giấy chứng nhận quyến sử dụng đất của gia đình ông để xác định mô mốc giữa thửa đất.
* Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ (số liệu do Công ty Cổ phần T4 cung cấp), định giá tài sản ngày 15/8/2024 xác định:
- * Thửa đất số 154 tờ bản đồ số 13 tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình có diện tích 362,6m² được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 11, 12, 13, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23.
- * Thửa đất số 480 tờ bản đồ số 13 tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình có diện tích 430,1m² được giới hạn bởi các điểm 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11.
- * Thửa đất ao số 155 tại thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình có diện tích 224,1m² được giới hạn bởi các điểm 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15.
- * Phía sau giáp 2 thửa đất số 154 và 480 là thửa đất trồng lúa đã san lấp thành vườn tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình có diện tích 156,7m².
- Giá đất ở tại nông thôn tại thửa số 154 và thửa 480 là: 560.000 đồng/m² x 360m² = 201.600.000 đồng.
- Giá đất trồng cây lâu năm tại thửa số 154 và thửa 480 là: 121.500 đồng/m² x 432.7 m² = 52.573.000 đồng.
- Giá đất ao thửa số 155 là: 113.400 đồng/m² x 224,1 m² = 25.412.940 đồng.
Tổng giá trị đất của các thửa 154, 155 và 480 là 279.585.940 đồng.
Giá trị tài sản xây dựng trên thửa đất 154 gồm:
- Nhà ở mái bằng hai tầng, công trình phụ mái bằng một tầng, sân lát gạch tráng men đỏ, bể nước mưa, sân giáp bể nước, sân giáp bờ ao, hai bồn trồng cây xanh, hai trụ cổng bê tông, hai cánh cổng inox, mái tôn. Ngoài ra, trên vườn có một số cây ăn quả ngắn ngày đương sự không yêu cầu nên không xem xét định giá. Tổng giá trị còn lại của tài sản trên thửa đất 154 là: 255.410.373 đồng.
Giá trị tài sản xây dựng trên thửa đất 480 gồm:
Nhà ở mái bằng một tầng, công trình phụ mái bằng một tầng, mái tôn, hai trụ cổng bê tông, hai bồn trồng cây xanh, sân lát gạch tráng men đỏ, sân giáp bờ ao, sân bê tông giáp đường. Ngoài ra, trên vườn có một số cây ăn quả ngắn ngày. Đương sự không yêu cầu nên không xem xét định giá. Tổng giá trị còn lại của tài sản trên thửa đất 480 là: 43.239.894 đồng.
Trên 2 thửa đất số 154 và 480 có kè bờ ao. Xác định giá trị còn lại tại thời điểm định giá là 594.230 đồng.
Trên 2 thửa đất 154 và 480 có 5 đoạn tường dậu vây quanh đến nay đều đã hết khấu hao, giá trị bằng 0 đồng.
Các đương sự không có ý kiến gì về kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của các đương sự đều tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 259 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên toà với lý do để xác minh thu, thập bổ sung tài liệu chứng cứ để giải quyết vụ án do không thể thực hiện ngay tại phiên toà, cụ thể như sau:
Tại biên bản xác minh 15/8/2024 do Ủy ban nhân dân xã T cung cấp cho Toà án có nội dung: “Khi làm công tác dồn điền đổi thửa năm 2011, Uỷ ban nhân dân xã đã đối trừ tổng diện tích đất dư thừa của 02 thửa 154 và 480 với tổng diện tích 409,5m² đất trồng cây lâu năm vào phần diện tích đất cơ bản của ông Lê Tiến T1 và và Đào Thị Đ. Đối với thửa đất 155 không khấu trừ vào đất nông nghiệp”. Nhưng Toà án chưa tiến hành xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ để xác định cụ T1 và cụ Đ có di sản là đất nông nghiệp để lại hay không, nếu có hiện ai đang quản lý sử dụng.
Tại biên bản thẩm định ngày 15/8/2024, xác định: “Phía sau giáp 2 thửa đất số 154 và 480 là thửa đất trồng lúa đã san lấp thành vườn tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, có diện tích 156,7m². Tại phiên toà nguyên đơn bà Lê Thị T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị N1, Lê Thị P đều khai, diện tích đất này trước kia là đất trồng lúa của bố mẹ các bà, sau đó bố mẹ các đã tạo lập thành vườn trồng rau và sử dụng đến khi bố mẹ bà chết thì bà T quản lý sử dụng. Các bà đều xác định đó là tài sản của bố mẹ các bà để lại, các bà không yêu cầu Toà án chia.
Tại biên bản xác minh do Ủy ban nhân dân xã T cung cấp: “Đối với diện tích đất trồng lúa đã san lấp thành vường có diện tích 156,7m² chưa được các cấp có thẩm quyền làm thủ tục cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất trồng lúa sang đất trồng lây lâu năm. Theo bản đồ đo đạc năm 2006 tại Ủy ban nhân dân xã Q thì phần đất trồng lúa này thuộc quyền sử dụng của ông Lê Tiến T2 là em trai ông Lê Tiến T1, nhưng không có tài liệu quản lý, đo đạc đất của Uỷ ban nhân dân xã cung cấp kèm theo, như vậy là chưa thu thập đầy đủ tài liệu.
Toà án đã tiến hành lấy lời khai của ông Lê Tiến T2, ông T2 xác định phần đất ruộng này của gia đình ông T2, gia đình ông không sử dụng mà cho ông Lê Tiến N sử dụng và đề nghị Toà án không xem xét giải quyết. Như vậy, giữa lời khai của các bà T, bà N1, bà P với lời khai của ông T2 và thông tin do Uỷ ban nhân dân xã cung cấp có sự mâu thuẫn về quyền sử dụng đất thuộc quyền của ai nhưng Toà án chưa làm rõ.
Tại phiên toà bà T, bà P, bà N1 trình bày trên hai thửa đất 154 và 480 có bờ kè ao xây dựng năm 2015 định giá 594.230 đồng, là do cụ T1 và cụ Đ xây dựng, bờ kè liên quan đến thửa đất số 154 của ông N, nhưng ông N vắng mặt tại phiên toà, không có lời khai của ông N trình bày về nội dung liên quan này, đề nghị Toà án lấy lời khai của ông N để làm rõ để đảm bảo quyền lợi của ông N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Đây là vụ án tranh chấp về thừa kế tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Căn cứ quy định khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy.
[2] Về tố tụng:
[2.1] Ông N, bà L, bà D đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng ông N, bà L, bà D.
[2.2] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đề nghị tạm ngừng phiên tòa để tiến hành xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ để xác định cụ T1 và cụ Đ có di sản là đất nông nghiệp để lại hay không, nếu có hiện ai đang quản lý sử dụng và lấy lời khai của ông Lê Tiến N về việc ai là người xây bờ kè tại thửa đất 154. Hội đồng xét xử xét thấy, tại đơn khởi kiện, các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa các đương sự đều không trình bày về đất nông nghiệp, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về đất nông nghiệp của cụ T1, cụ Đ nên xét thấy không cần thiết phải thu thập tài liệu chứng cứ liên quan đến đất nông nghiệp. Khi nào các đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ án khác. Đối với việc lấy lời khai của ông Lê Tiến N về việc ai là người xây bờ kè tại thửa đất 154 trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông N, bà D đều không chấp hành, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Ông N đã được thông báo nội dung khởi kiện, thông báo kết quả định giá nhưng không có tài liệu chứng cứ về các tài sản trên đất. Theo quy định về nghĩa vụ chứng minh quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự: “1. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.... 2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó...”. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy không cần tạm ngừng phiên tòa.
[3] Về xác định thời điểm mở thừa kế và hàng thừa kế:
[3.1] Cụ Lê Tiến T1 chết ngày 21/01/2016 và cụ Đào Thị Đ chết ngày 05/5/2023 nên thời hiệu chia di sản thừa kế vẫn còn.
[3.2] Cụ T1, cụ Đ chết không để lại di chúc nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chia di sản thừa kế của cụ T1, cụ Đ theo pháp luật.
[3.3] Cụ T1 và cụ Đ không có con riêng, không có con nuôi nên hàng thừa kế thứ nhất của cụ T1 là cụ Đ, bà T, ông N, bà N1, bà P, bà L; hàng thừa kế thứ nhất của cụ Đ là bà T, ông N, bà N1, bà P, bà L.
[3.4] Bà Lê Thị L có đơn từ chối nhận di sản của thừa của cụ T1 và cụ Đ, tuy nhiên nội dung đơn của bà thể hiện nguyện vọng của bà là nhường phần thừa kế của bà cho bà Lê Thị P. Nên cần xác định bà không từ chối nhận di sản thừa kế mà tặng cho phần di sản thừa kế của bà được hưởng cho bà Lê Thị P.
[4]. Về di sản thừa kế của cụ T1 và cụ Đ: Theo lời khai của những người thừa kế và kết quả xác minh tại Ủy ban xã T, các giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất thì cụ T1 và cụ Đ có tài sản chung là quyền sử dụng thửa đất số 33 tờ bản đồ số 01 bản đồ 299 (thửa đất số 155 thuộc tờ bản đồ số 13 bản đồ 2006) và thửa đất số 29 tờ bản đồ số 01 bản đồ 299 (thửa đất số 154, 480 thuộc tờ bản đồ số 13 bản đồ 200) tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình và các tài sản xây dựng trên thửa đất số 155 và 480. Theo bản đồ 299 từ thửa đất số 01 bản đồ 299 thửa đất có diện tích 780 m², đến bản đồ 2006 thửa đất 01 bản đồ 299 được tách thành 02 thửa là thửa số 480 có diện tích 388,6 m² và thửa số 154 có diện tích 380,8 m² (tổng diện là 769,4 m²). Về diện tích các thửa đất có sự chênh lệch về diện tích có thể theo UBND xã xác định là do các hộ gia đình liền kề đã trao đổi cho nhau và diện tích thửa đất ao giảm, diện tích đất vườn tăng là do hộ gia đình ông T1 đã lấp 01 phần đất ao tại thửa 155 để mở ngõ đi từ thửa 480 ra ngõ đi chung. Qua xác minh với các hộ liền kề đều xác định không có tranh chấp ranh giới với các thửa 154, 155 và 480.
Các đương sự đều xác định các tài sản trên thửa 480, 155 là tài sản chung của cụ T1 và cụ Đ, các tài sản trên thửa 154 do ông N tạo dựng không phải là di sản thừa kế. Theo tài liệu lưu trữ tại UBND xã T thì không có việc chuyển nhượng, tặng cho, trao đổi quyền sử dụng đất đối với các thửa đất trên. Ông N cho rằng ông được cụ T1 và cụ Đào T3 cho quyền sử dụng thửa đất số 155 tuy nhiên ông không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Do đó, có căn cứ xác định di sản thừa kế cụ T1 và cụ Đ để lại gồm: Thửa đất số 154, 155, 480 tờ bản đồ số 13 (đo đạc bản đồ 2006) tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình và các tài sản trên thửa đất 155, 480.
Ngoài ra, các đương sự không yêu cầu chia di sản thừa kế nào khác.
[5] Về xem xét công sức tôn tạo, bảo quản giữ gìn tài sản và thờ cúng:
Bà T là người sống cùng cụ T1 và cụ Đ trên thửa đất 480 tuy nhiên cụ Đ mới chết, các tài sản trên đất đều do cụ T1 và cụ Đào tạo D1 nên không tính công sức tôn tạo, bảo quản tài sản của bà T. Ông N cho rằng mình là người nộp thuế và có công sức tôn tạo, bảo quản tài sản là quyền sử dụng thửa đất số 154 tuy nhiên ông N là người được các cụ cho mượn đất xây nhà, được sử dụng đất từ đó đến nay. Mặt khác theo UBND xã T cung cấp không có căn cứ xác định ông N là người đóng thuế sử dụng đất nên không tính công sức tôn tạo, bảo quản tài sản cho ông N. Việc thờ cúng cụ T1 và cụ Đ hiện nay các đương sự đều thực hiện nên không tính công sức tôn tạo, bảo quản giữ gìn tài sản và thờ cúng đối với các đồng thừa kế.
[6] Đối với đất nông nghiệp của cụ T1 và cụ Đ và phần đất vượt lập trên đất nông nghiệp, các đương sự không yêu cầu chia thừa kế nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
[7] Về phần giáp ranh với các hộ liền kề: Đối với phần đất giáp ranh thửa đất mang tên ông Lưu Đình R (Hiện do vợ chồng anh Lưu Đình C là con trai ông R quản lý sử dụng), hai thửa đất đều chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quá trình sử dụng đất hai bên có sự trao đổi đất cho nhau để thuận tiện cho việc sử dụng đất, mặc dù việc trao đổi trên chưa thông qua chính quyền địa phương nhưng hiện nay hai gia đình đều xác định sử dụng đất ổn định, xây tường bao cố định, không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử căn cứ kết quả xem xét thẩm định tại chỗ để xác định ranh giới giữa thửa đất. Đối với phần giáp ranh thửa đất ông Lê Tiến T2, phần giáp ranh giữa hai gia đình khi đo đạc thẩm định tại chỗ có sự sai số với giấy chứng nhận quyền sử đụng đất đã cấp cho ông Lê Tiến T2. Các đương sự đều xác định không tranh chấp ranh giới và đề nghị căn cứ giấy chứng nhận đã cấp cho ông Lê Tiến T1 để xác định ranh giới giữa hai gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy, đề nghị của các đương sự là phù hợp nên cần chấp nhận.
[8] Về chia di sản thừa kế:
[8.1] Về giá trị di sản thừa kế:
Từ những căn cứ trên và kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản các di sản thừa kế của cụ T1 và cụ Đ được xác định như sau:
Tổng giá trị đất của các thửa 154, 155 và 480 là 279.585.940 đồng.
Tổng giá trị còn lại bờ tường kè ao ở hai thửa đất 154 và 480 là 594.230 đồng. Trong đó phần bờ tường kề bên phía thửa 480 có chiều dài 11,67 m xác định giá trị còn lại là 203.840 đồng.
Tổng giá trị còn lại của tài sản trên thửa đất 480 là 43.239.894 đồng + 203.840 đồng = 43.443.734 đồng.
Tổng giá trị di sản của cụ T1 và cụ Đ là: 323.029.674 đồng.
[8.2]. Về xác định diện tích đất ở, đất vườn và giá trị đất đối với thửa 154 và 480: Khi cụ T1 và cụ Đ cho ông Ngọc M đất không xác định cho ông N mượn bao nhiêu diện tích đất ở. Theo đo đạc, thửa đất số 154 có diện tích 362,6 m², thửa đất số 480 có diện tích 430,1 m², không xác định được vị trí đất ở, vị trí đất vườn. Theo quy định, hạn mức đất ở của cụ T1 và cụ Đ là 360m². Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào tỷ lệ của đất ở và đất vườn ( 360/792,7) để xác định diện tích đất ở, diện tích đất vườn của 2 thửa đất như sau:
- - Thửa 154 có diện tích đất ở là 165 m², đất vườn là 197,6m².
- Giá trị thửa đất 154 là: 165 m² x 560.000 đồng/m² + 197,6 m² x 121.500 đồng/m² = 116.408.500 đồng
- - Thửa 480 có diện tích đất ở là 195 m², đất vườn là 235,1 m².
- Giá trị thửa đất 480 là: 195m² x 560.000 đồng/m² + 235,1m² x 121.500 đồng/m² = 137.764.650 đồng.
[8.3]. Cụ T1 có 6 đồng thừa kế, cụ Đ có 5 đồng thừa kế. Cụ Đ chết thì hàng thừa kế thứ nhất của cụ Đ sẽ được hưởng phần di sản thừa kế mà cụ Đ được nhận từ cụ T1. Do đó, xác định di sản thừa kế của cụ T1 và cụ Đ được chia thành 5 phần bằng nhau cho bà T, ông N, bà N1, bà P, bà L. Như vậy mỗi người được hưởng là 64.606.000 đồng (làm tròn).
Bà L có nguyện vọng tặng cho phần di sản thừa kế của mình cho bà P nên bà P được hưởng 2 suất thừa kế tương ứng với số tiền 129.212.000 đồng.
[8.4] Xét nguyện vọng về việc nhận chia di sản thừa kế bằng hiện vật của các đương sự thì thấy: Hiện nay, ông N là người đang sử dụng và xây dựng các tài sản trên thửa đất 154 và có nguyện vọng được sử dụng thửa 154; bà N1, bà T và bà P đều có nguyện vọng giao cho ông N thửa đất 154, bà N1, bà P và bà T được sử dụng chung, không phân chia ranh giới thửa đất 155 và 480. Xét thấy, nguyện vọng của bà N1, bà L và bà T là phù hợp nên cần chấp nhận. Theo hồ sơ địa chính tại UBND xã T thì thửa đất 480 không có lối đi, mà đi qua thửa đất số 154, tuy nhiên thực tế cụ T1 đã lấp 01 phần đất ao tại thửa 155 để mở ngõ đi từ thửa 480 ra ngõ đi chung. Theo xác minh tại UBND xã đối với thửa đất 155 đã được hộ gia đình ông T1 sử dụng ổn định từ trước năm 1993 nên nếu không có ngõ đi riêng và người dân có đề nghị thì có thể chuyển đổi phần đất nuôi trồng thủy sản sang đất giao thông để mở ngõ đi. Vì vậy việc giao thửa đất 480, 155 cho bà N1, bà L, bà T vẫn đảm bảo có lối đi riêng. Ông N có nguyện vọng được nhận một phần thửa 155 tuy nhiên ông được chia thửa 154 đã vượt quá giá trị phần di sản thừa kế mà ông được nhận nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu này của ông N. Do đó, giao cho ông N được sử dụng thửa đất số 154 (tương đương với số tiền 116.408.500 đồng), giao cho bà N1, bà P và bà T được sử dụng chung thửa đất số 155 và 480 và các tài sản trên hai thửa đất này (bao gồm giá trị: thửa đất 480 là 137.764.650 đồng, thửa số 155 là 25.412.940 đồng, giá trị còn lại của tài sản trên thửa đất 480 là 43.443.734 đồng, tổng là 206.621.000 đồng).
Bà N3, bà T đã nhận đủ phần di sản thừa kế của mình, ông N có trách nhiệm thanh tiền chênh lệch tài sản cho bà P số tiền là 51.802.500 đồng.
[9]. Về chi phí tố tụng: Bà T tự nguyện chịu cả số tiền chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản, các đương sự khác đều nhất trí. Bà T đã thanh toán xong số tiền 8.000.000 đồng chi phí thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
[10]. Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí tương ứng 5% giá trị tài sản được nhận. Bà Lê Thị T là người khuyết tật có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí cho bà T. Bà P được nhận phần di sản từ bà L và có nguyện vọng nhận nộp án phí thay cho bà L, xét đây là sự tự nguyện nên cần chấp nhận.
[11].Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 609, 610, 611, 612, 613, 614, 615, 623, 649, 650, 651, 660 Bộ luật Dân sự; Điều 37 Luật Đất đai năm 2024. Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, các Điều 91, 147, 157, 158, 165, 166, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 26/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Tuyết .
- Chia cho bà T, bà N3, bà P được quyền đồng sử dụng thửa đất 480 thuộc tờ bản đồ số 13 tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình có diện tích 430,1 m² trong đó đất ở là 195 m², đất vườn là 235,1 m², thửa đất được giới hạn bởi các điểm 2,3,4,5,6,7,8,9,10,11 và thửa đất 155 có diện tích 224,1 m² là đất ao thuộc tờ bản đồ số 13 tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, thửa đất được giới hạn bởi các điểm 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15.
- Chia cho ông Lê Tiền N4 được quyền sử dụng thửa đất 154, tờ bản đồ số 13 tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình có diện tích 362,6 m² trong đó đất ở là 165 m², đất vườn là 197,6m², thửa đất được giới hạn bởi các điểm 1,2, 11, 12, 13, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23.
- (Tất cả các thửa đất Có sơ đồ kèm theo)
- Ông N4 phải thanh toán cho bà P số tiền là 51.802.500 đồng.
- Về chi phí tố tụng: Chấp nhận sự tự nguyện của bà T chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 8.000.000 đồng. Bà T đã nộp đủ 8.000.000 đồng.
- Về án phí: Miễn án phí cho bà T. Ông N4, bà N3 mỗi người phải chịu 3.230.300 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà P phải chịu 6.460.600 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bà T, bà N3, bà P có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông N4, bà L, bà D vắng mặt, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 9 Luật thi hành án dân sự; điều 7 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Vương |
Bản án số 15/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 15/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thừa kế bà T và ông N
