Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐOAN HÙNG

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 15/2024/DS-ST
Ngày 16/9/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Duyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đức Cường
  2. Ông Vũ Văn Võ

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh - Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 66/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1974. Có mặt

Địa chỉ: Thôn B Thái Bình, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

Bị đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1982. Có mặt

Địa chỉ: Khu A, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Đinh Thị C, sinh năm 1975. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn B Thái Bình, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay ông nguyên đơn là anh Nguyễn Ngọc H trình bày:

Anh và anh Hoàng Văn T, sinh năm 1982 có nơi cư trú tại khu A, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ có quen biết với nhau thông qua việc làm ăn và giữa hai bên không có mâu thuẫn gì. Vào năm 2016, nhiều lần anh có bán gỗ cho anh Hoàng Văn T và giữa hai bên đều thống nhất theo dõi số liệu bằng sổ về số gỗ anh đã bán, số tiền anh T đã thanh toán hoặc còn nợ. Tổng số tiền hai bên chốt nợ sau cùng là 33.100.000đ và sau khi chốt sổ tiền nợ này thì giữa hai bên không thực hiện giao dịch mua bán nào nữa.

Sau thời gian chốt nợ, nhiều lần anh liên lạc yêu cầu anh T trả nốt số tiền nợ trên và đến ngày 05/01/2017 anh Hoàng Văn T đã trả cho vợ chồng anh số tiền là 10.000.000 đồng còn nợ lại số tiền là 23.100.000 đồng. Thời gian tiếp theo sau đó cho đến nay đã anh T không trả thêm khoản tiền nào nữa mặc dù anh đã thường xuyên liên tục liên lạc và xuống nhà yêu cầu trả nợ nhưng anh T đều lấy lý do khó khăn và khất nợ. Gia đình anh đã yêu cầu trả nợ nhiều lần nhưng vì anh T không trả nên mới khởi kiện yêu cầu giải quyết buộc anh T phải trả số tiền nợ trên và tiền lãi theo quy định pháp luật tính từ ngày 05/01/2017 cho đến nay. Tại phiên tòa, anh yêu cầu anh T phải thanh toán nốt số tiền còn nợ là 23.100.000đ và số tiền lãi từ khi nợ cho đến nay là 15.000.000 đồng cho vợ chồng anh. Ngoài ra anh không yêu cầu gì khác nữa.

Bị đơn là anh Hoàng Văn T trình bày:

Về mối quan hệ quen biết, việc mua bán nguyên liệu gỗ giữa anh và anh H như anh H trình bày là đúng. Anh thừa nhận số tiền chốt nợ sau cùng giữa hai bên là 33.100.000đ như anh H trình bày trên cũng là đúng. Thời điểm sau khi chốt nợ với anh H thì xe ô tô của anh bị tai nạn và hoàn cảnh khó khăn nên anh chưa trả được số tiền nợ trên cho anh H. Anh H nhiều lần yêu cầu anh trả nợ và đến ngày 05/01/2017 anh có trả bớt cho anh H số tiền là 10.000.000 đồng còn nợ lại số tiền là 23.100.000đ, anh đã viết và ký xác nhận số nợ này như trong giấy tờ mà anh H đã nộp cho Tòa án là đúng. Anh có hẹn với anh H là sau một tháng thì anh sẽ thu xếp để trả nốt số tiền trên nhưng vì khó khăn nên chưa trả được. Trong các lời khai tại Tòa và trong biên bản hòa giải thì anh có trình bày là sau đó một vài tháng anh không nhớ rõ ngày nào, anh có lên nhà anh H và trả thêm số tiền là 5.000.000 đồng, trả tiền mặt cho anh H, không có giấy tờ gì về việc trả số tiền 5.000.000 đồng và cũng không có ai làm chứng về việc này. Tại phiên tòa, anh xác nhận còn nợ anh H số tiền 23.100.000 đồng, anh xin được trả dần và không phải trả lãi.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Đinh Thị C (Vợ anh H) đã có bản tự khai, nội dung thống nhất quan điểm như nguyên đơn anh Nguyễn Ngọc H đã trình bày nêu trên: Chị yêu cầu anh T phải trả cho vợ chồng chị số tiền nợ gốc là 23.100.000 và phải trả tiền lãi.

2

Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của các đương sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định pháp luật.

Quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 357; Điều 430, khoản 1 Điều 433, Điều 440 Bộ luật dân sự năm 2015 khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH1430/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Ngọc H về việc yêu cầu anh Hoàng Văn T phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

Buộc anh Hoàng Văn T phải chịu trách nhiệm thanh toán cho vợ chồng anh Nguyễn Ngọc H và chị Đinh Thị C số tiền gốc 23.100.000 đồng (Hai mươi ba triệu một trăm nghìn đồng chẵn) và tiền lãi là 15.000.000 (Mười lăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại điều 357, điều 468 BLDS 2015.

Về án phí: Anh Hoàng Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Trả lại số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ và toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

1]. Về tố tụng: Anh Nguyễn Ngọc H khởi kiện yêu cầu anh Hoàng Văn T phải thanh toán số tiền còn nợ theo giao dịch mua bán gỗ nên xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”. Bị đơn là anh Hoàng Văn T có nơi cư trú tại khu A, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

3

[2]. Về nội dung vụ án:

2.1. Về yêu cầu và ý kiến của các đương sự:

Việc mua bán gỗ giữa anh Nguyễn Ngọc H và anh Hoàng Văn T được hai bên thỏa thuận miệng với nhau mà không ký hợp đồng. Tuy nhiên, hai bên đã thống nhất thực hiện theo dõi về số hàng hóa là nguyên liệu gỗ và số tiền phải thanh toán trên sổ sách. Như vậy, giao dịch giữa hai bên là tự nguyện phù hợp quy định tại Điều 116, Điều 117 và Điều 119 của Bộ luật dân sự nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa hai bên.

Theo nội dung giao dịch giữa hai bên thì anh Nguyễn Ngọc H là bên bán nguyên liệu gỗ còn anh Hoàng Văn T là người mua và phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền hàng cho anh H. Theo nội dung thỏa thuận giữa hai bên, anh H đã thực hiện xong nghĩa vụ giao hàng còn anh T chưa thực hiện xong nghĩa vụ trả số tiền là 33.100.000₫.

Quá trình thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Ngày 05/01/2017, anh Hoàng Văn T đã trả thanh toán cho anh H số tiền 10.000.000 đồng và còn nợ lại số tiền là 23.100.000 đồng, anh T có hứa hẹn sau một tháng tức là ngày 05/02/2017 sẽ thanh toán nốt số tiền trên. Tuy nhiên, thực tế từ đó đến nay mặc dù anh H đã liên tục yêu cầu nhưng anh T vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Tại phiên tòa, phía bị đơn là anh Hoàng Văn T thừa nhận đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền và xác nhận anh H đã liên tục yêu cầu anh phải thanh toán tiền nhưng anh vẫn chưa trả và hiện còn nợ anh Nguyễn Ngọc H số tiền là 23.100.000 đồng.

Do vậy, anh H khởi kiện yêu cầu buộc anh T phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền là có cơ sở chấp nhận phù hợp quy định tại Điều 440 của Bộ luật dân sự pháp luật dân sự.

Về yêu cầu trả lãi: Mặc dù, các bên xác lập giao dịch mua bán gỗ không có nội dung thoả thuận về lãi nhưng anh T đã chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền đối với anh H. Vì vậy, anh T còn phải trả khoản tiền lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả nên anh H yêu cầu anh T phải trả số tiền lãi là 15.000.000 đồng là có cơ sở và phù hợp quy định tại Điều 357, khoản 3 Điều 440 của Bộ luật dân sự.

Từ những nhận định nêu trên, HĐXX cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Ngọc H, buộc anh Hoàng Văn T phải có trách nhiệm thanh toán cho vợ chồng anh Nguyễn Ngọc H số tiền gốc và tiền lãi như đã nêu trên.

4

[3]. Về án phí: Do HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Ngọc H nên anh Hoàng Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 357; Điều 430, khoản 1 Điều 433, Điều 440 Bộ luật dân sự năm 2015 khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH1430/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Ngọc H về việc yêu cầu anh Hoàng Văn T phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

Buộc anh Hoàng Văn T phải chịu trách nhiệm thanh toán cho vợ chồng anh Nguyễn Ngọc H và chị Đinh Thị C số tiền gốc 23.100.000 đồng (Hai mươi ba triệu một trăm nghìn đồng chẵn) và tiền lãi là 15.000.000 (Mười lăm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Anh Hoàng Văn T phải nộp số tiền 1.905.000 đồng (Một triệu chín trăm linh năm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho anh Nguyễn Ngọc H số tiền 577.000 đồng (Năm trăm bẩy mươi bẩy nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số: 0002274 ngày 29/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

5

Nơi nhận:

  • - VKS huyện, tỉnh;
  • - Chi cục Thi hành án DS;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Bùi Thị Duyên

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/DS-ST ngày 16/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

  • Số bản án: 15/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger