Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH A

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:15/2024/HS-ST

Ngày: 19 – 4 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Á

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Hoa Lài

Ông Trần Văn Thanh

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu giang tham gia phiên tòa: Ông Phan Phát Tấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

ĐOÀN THỊ TRANG Đ - sinh năm 1967; tên gọi khác: Không; nơi sinh:

Tại V, tỉnh Hậu Giang. Nơi cư trú: Ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Cha: Đoàn Văn T (chết) và mẹ bà Nguyễn Thị H (chết); Bị cáo: Chưa có chồng con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân tốt. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Nguyễn Thị H1 – sinh năm 1927

Địa chỉ: Khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. (Vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Trịnh Thị Trúc L – Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hậu Giang. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Trương Đình Thanh T1; địa chỉ: Số B đường H khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 07 giờ 50 phút ngày 29/11/2023, Công an thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang, tiếp nhận nguồn tin về tội phạm của chị Nguyễn Thu H2 về việc vào khoảng 08 giờ ngày 28/11/2023, chị H2 đang nuôi mẹ ruột tên Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1927) tại nhà chị ruột Nguyễn Vọng N (sinh năm 1958) toạ lạc tại ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang) thì có người em bà con tên Đoàn Thị Trang Đ đến thăm và ngồi lại nói chuyện với bà H1 trên giường. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, Trang Đ ra về. Sau đó, chị H2 phát hiện bà H1 bị mất chiếc lắc bằng vàng đeo trên tay, sau khi tiến hành kiểm tra camera phát hiện Đoàn Thị Trang Đ đã lấy chiếc lắc nên chị H2 trình báo Công an thị trấn C.

Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 08 giờ ngày 28/11/2023, Đoàn Thị Trang Đ đến nhà chị Nguyễn Vọng N để thăm bà Nguyễn Thị H1, Quá trình ngồi nói chuyện với bà H1, Đ phát hiện trên tay của bà H1 có đeo chiếc lắc iu rinh ý định lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Lúc này, Đ ngồi trên giường cạnh nửa người phía dưới của bà H1, Đ hỏi thăm sức khoẻ nói chuyện với bà H1, được một lúc thấy bà H1 đã ngủ, Đ đi lên ngồi cạnh đầu bà H1, vừa vuốt ve, vừa dùng tay mở chiếc lắc bằng vàng 9999, loại mắc khúc trọng lượng 05 chỉ 02 phân 03 ly bà H1 đang đeo trên tay phải. Sau khi lấy được chiếc lắc vàng, Đ bỏ vào trong túi áo khoác rồi đi ra về.

Sau đó, khoảng 10 giờ ngày 28/11/2023, Đ đem chiếc lắc vàng đến tiệm V toạ lạc tại chợ C, gặp chị Trương Đình Thanh T1 để bán. Lúc này, chị T1 kiểm tra xác định chiếc lắc bằng vàng có trọng lượng 05 chỉ 02 phân 03 ly và đồng ý mua với số tiền 30.754.000 đồng, thì Đ đồng ý bán. Sau khi bán chiếc lắc, Đ cất giữ tiền 30.754.000 đồng, đến khi lực lượng Công an mời làm việc, Đ đã thừa nhận vi phạm tội như trên và giao nộp số tiền 30.754.000 đồng cho lực lượng Công an.

Vật chứng vụ án gồm: Một bộ đồ bằng vải thun, kiểu nữ, màu đen-tím-đỏ có nhiều hoa văn, ngắn tay; một cái áo khoát màu vàng đen có nhiều hoa văn, dài tay đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam 30.754.000 đồng, hiện đang tạm giữ tại kho vật chứng.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 71/KL-ĐGTS, ngày 03/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc UBND huyện C kết luận định giá tài

2

sản trong vụ “Trộm cắp tài sản” xảy ra ngày 28/11/2023 tại ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang, tổng giá trị là: 30.072.500 đồng (bút lục 51-52).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị H1 yêu cầu bị cáo trả lại chiếc lắc bị chiếm đoạt có trọng lượng 10 chỉ vàng 9999.

Tại Cáo trạng số 12/CT-VKS-HCTA ngày 04/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Đoàn Thị Trang Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày đơn xét xử vắng mặt của bà Nguyễn Thị H1 lập ngày 17/4/2024: Bị hại đồng ý trọng lượng vàng là 05 chỉ 09 phân 03 ly và yêu cầu bị cáo bồi thường theo giá tại thời điểm xét xử (7.200.000 đồng/chỉ), thống nhất với tội danh và khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát truy tố. Đồng thời, có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Thị Trang Đ khai bị cáo nhà ở Cần Thơ nhưng mới bán nhà và về thị trấn C sinh sống, hiện đang ở nhờ nhà chị dâu, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và ăn năn hối cải xin giảm nhẹ hình phạt và đồng ý bồi thường cho bà Nguyễn Thị H1 giá vàng theo giá tại thời điểm xét xử là 7.200.000 đồng/chỉ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đoàn Thị Trang Đ về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đoàn Thị Trang Đ từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo: Một bộ đồ bằng vải thun, kiểu nữ, màu đen-tím-đỏ có nhiều hoa văn, ngắn tay; một cái áo khoát màu vàng đen có nhiều hoa văn, dài tay đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị H1 yêu cầu bị cáo trả lại giá trị vàng theo giá thị trường là 7.200.000 đồng/chỉ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bị hại.

Về án phí hình sự: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường

3

vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Đoàn Thị Trang Đ phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa Trương Đình Thanh T1 vắng mặt, không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C; Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A; Điều tra viên; kiểm sát viên đã thực hiện theo quy định pháp luật về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Đối với bà Nguyễn Thị H1, chị Trương Đình Thanh T1 vắng mặt tại phiên tòa, xét thấy lời khai của người này đã thể hiện rõ trong hồ sơ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến quá trình xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt họ là có căn cứ.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Đoàn Thị Trang Đ thừa nhận hành vi phạm tội. Đối chiếu lời thừa nhận của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án là phù hợp, chứng minh được như sau: Vào khoảng sáng ngày 28/11/2023, bị cáo Đoàn Thị Trang Đ lợi dụng sự sơ hở của bị hại, khi bị hại đang ngủ, bị cáo đã lén lút lấy trộm chiếc lắc hơn 05 chỉ vàng 9999 đang đeo trên tay của bị hại để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

[4] Về tội danh: Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội đối với người trên 70 tuổi được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đoàn Thị Trang Đ, trong quá trình điều tra, bị cáo tự nguyện nộp lại tài sản phạm tội mà có; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là tình tiết

4

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự.

[7] Xét về tính chất, mức độ phạm tội và hình phạt áp dụng: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì bản chất lười lao động muốn có tiền để tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Xét, bị cáo có chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, tuy nhiên bị cáo cho rằng mình không có nhà tại thị trấn C mà đang ở nhờ nhà bà chị, cho thấy bị cáo không có nơi cư trú ổn định. Do đó, không thể giao bị cáo cho chính quyền thị trấn C quản lý, giáo dục được. Mặt khác, số vàng bị cáo chiếm đoạt của bị hại khá lớn. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã lớn tuổi, neo đơn, Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt tương đối thấp hơn so với hành vi phạm tội bị cáo gây ra để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[8] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo thu nhập không ổn định, không tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo: Một bộ đồ bằng vải thun, kiểu nữ, màu đen-tím-đỏ có nhiều hoa văn, ngắn tay; một cái áo khoát màu vàng đen có nhiều hoa văn, dài tay đã qua sử dụng. Tịch thu lưu hồ sơ 02 đĩa DVD gồm 01 đĩa DVD nhãn hiệu Maxell chứa tập tin video clip ghi lại hình ảnh bị cáo Đ thực hiện hành vi trộm cắp; 01 đĩa DVD nhãn hiệu Maxell chứa tập tin video clip ghi lại hình ảnh bị cáo Đ đến tiệm V bán tài sản phạm tội.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị H1 yêu cầu giá trị 05 chỉ 09 phân 03 ly theo giá tại thời điểm xét xử và bị cáo đồng ý bồi thường giá vàng theo giá thị trường tại thời điểm xét xử. Hội đồng xét xử, xét thấy đây là ý chí tự nguyện của hai bên nên Hội đồng xét xử ghi nhận, cụ thể, giá vàng tại thời điểm xét xử là 7.200.000 đồng/chỉ x 05 chỉ 05 phân x 03 phân = 39.816.000 đồng.

[11] Từ những phân tích nêu trên xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là có căn cứ chấp nhận.

[12] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

5

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017; Điều 292, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Thị Trang Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Xử phạt: Bị cáo Đoàn Thị Trang Đ 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo: Một bộ đồ bằng vải thun, kiểu nữ, màu đen-tím-đỏ có nhiều hoa văn, ngắn tay; một cái áo khoát màu vàng đen có nhiều hoa văn, dài tay đã qua sử dụng. Tịch thu lưu hồ sơ 02 đĩa DVD gồm 01 đĩa DVD nhãn hiệu Maxell chứa tập tin video clip ghi lại hình ảnh bị cáo Đ thực hiện hành vi trộm cắp; 01 đĩa DVD nhãn hiệu Maxell chứa tập tin video clip ghi lại hình ảnh bị cáo Đ đến tiệm V bán tài sản phạm tội.

3. Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện bị cáo Đoàn Thị Trang Đ bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị H1 số tiền 39.816.000 đồng. Tiếp tục tạm giữ số tiền 30.754.000 đồng để đảm bảo thi hành án. Bị cáo Đoàn Thị Trang Đ còn phải nộp thêm số tiền 9.062.000 đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, lãi suất được áp dụng theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

5. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Đoàn Thị Trang Đ phải chịu án phí hình sự là 200.000đồng và phải chịu án phí dân sự 1.990.800 đồng.

6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6

7. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định tại nơi cư trú. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND huyện Châu Thành A;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hậu Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành A;
  • - Công an huyện Châu Thành A;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mỹ Á

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 15/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRỘM VÀNG
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger