|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI Bản án số: 15/2023/HS-PT Ngày: 27-11-2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mười .
Các thẩm phán: Ông Phan Ngọc Minh.
Bà Lê Thị Mỹ Giang.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Bình - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 17/2023/TLPT-HS ngày 30/10/2023 đối với bị cáo Dương Đ do có kháng cáo của bị cáo Dương Đ đối với bản án hình sự sơ thẩm số 23/2023/HS-ST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Dương Đ sinh ngày 26/3/1983 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Đ, thôn T, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (Không rõ); con bà Dương Thị V vợ là Lữ Thị S và 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2023 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 08/5/2023, Dương Đ1 khiển xe gắn máy biển số 76HC-3428, trên ba ga xe có để sẵn 01 cây rựa tổng chiều dài 80cm, cán hình trụ tròn bằng tre đường kính 03 cm dài 52cm, lưỡi bằng kim loại dài 28cm nơi rộng nhất 4cm, có mấu rựa 3,5cm từ nhà ở thôn T, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, đến Khu công nghiệp V, tại xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi để đón vợ là Lữ Thị S1 làm công nhân tại Khu công nghiệp V nhà. Khi đến Cầu M thuộc xóm C, thôn P, xã T đợi vợ nhưng không thấy chị Lữ Thị S2 về nên khoảng 19 giờ, Dương Đ1 khiển xe đi theo hướng từ Đ2 lên T Khi đến đoạn đường bê tông thuộc xóm B, thôn P, xã T, D thấy chị Đinh Thị T điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 76B1- 674.55 đi một mình theo chiều ngược lại nên Đ3 đầu xe đi theo sau xe của chị T1 đến khu vực Cầu M, thuộc xóm C, thôn P, xã T quan sát lúc này đường vắng không có người và trời tối nên Đ1 khiển xe vượt lên chạy song song với xe chị T2 “cướp đây, dừng xe” nên chị T3 dừng xe lại. Khi chị T4 xe lại, Dương Đ4 dừng xe nhưng cả hai còn ngồi trên xe. Dương Đại lấy cây rựa từ baga xe gắn máy cầm trên tay trái đưa lưỡi rựa ngang ra trước mặt chị T5 dọa “Có tiền không đưa đây”, chị T6 lời “Không có tiền”, Dương Đ5 “Có điện thoại không đưa đây”, chị T6 lời “có”, do hoảng sợ nên chị T7 lấy 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG Galaxy S22 Ultra 12GB-256GB màu đỏ, trong đó điện thoại có gắn ốp lưng và trong điện thoại có gắn 01 (một) sim điện thoại di động đang để ở cốp trước của xe mô tô của chị đưa cho Dương Đại . Dương Đ tiếp tục hỏi chị T “điện thoại có mật khẩu không”, chị T6 lời “không có”. Khi lấy được điện thoại của chị T Dương Đ6 “đi đi” nên chị T7 vội vàng điều khiển xe đi theo hướng Tây xuống Đ Sau đó, Dương Đại c trong túi áo rồi điều khiển xe quay lại đi theo hướng Đ lên T Trên đường đi, Đ vào cửa hàng điện thoại di động tên V Quốc Lộ A địa phận thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi để bán chiếc điện thoại vừa cướp được của chị Đinh Thị T9 vào cửa hàng gặp Nguyễn Nhật A chủ cửa hàng điện thoại di động Vũ P Đ đưa điện thoại cho Nguyễn Nhật A1 nhặt được điện thoại trên đường đi làm về và hỏi đây là điện thoại nhãn hiệu gì. Sau khi kiểm tra điện thoại, Nguyễn Nhật A1 điện thoại nhãn hiệu Sam Sung nên Đ hỏi P lại điện thoại với giá bao nhiêu, P1 lời nếu mua thì giá 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Đ yêu cầu P đưa thêm ít nữa thì P2 ý đưa thêm 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). D Đại đồng ý bán chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG Galaxy S22 Ultra 12GB-256GB màu đỏ (kèm theo ốp lưng gắn điện thoại di động trên và 01 (một) sim điện thoại di động gắn trong điện thoại này) cho Nguyễn Nhật A2 giá 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm nghìn đồng). Nguyễn Nhật A3 P1 giao cho D Đ 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) tiền mặt và chuyển vào tài khoản 1022768417 Ngân hàng V2 chủ tài khoản tên “DUONG DAI” của Dương Đại số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Sau khi bán điện thoại, Dương Đ7 đỗ xăng, mua thuốc lá, mua thuốc điều trị bệnh cho vợ và mua thức ăn hết 500.000 đồng (năm trăm nghìn), rồi điều khiển xe gắn máy biển số kiểm soát 76HC-3428 đến cổng Công ty P3 đón vợ là Lữ Thị S3. Trong khi đứng đợi vợ tan làm, Dương Đ sử d điện thoại hiệu Samsung J7 prime của mình, đăng nhập vào ứng dụng chuyển tiền của Ngân hàng V2 đã cài đặt sẵn trên điện thoại, số tài khoản 1022768417 của Dương Đại chuyển vào tài khoản số 1020163414 tên chủ tài khoản “LY CHI VINH” số tiền 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng) để trả nợ cho Lý Chí V1 Một lúc sau chị S4 làm ra, Dương Đ8 chị S3 nhà ở thôn T, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
Sau khi bị cướp tài sản, chị Đinh Thị T10 đến Công an xã T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S Dương Đ làm việc. Tại Cơ quan điều tra Dương Đ9 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐG ngày 15/5/2023, của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện S Kết luận:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG Galaxy S22 Ultra 5G 256GB màu đỏ (đã qua sử dụng), giá trị sử dụng còn lại 70% trị giá 12.600.000 đồng.
- - 01 ốp lưng điện thoại di động S2 màu xanh đậm (phần ốp lưng có khoảng trống, mặt ốp lưng điện thoại có in dòng chữ “SAM SUNG”), giá trị sử dụng còn lại 50% trị giá 100.000 đồng.
- - 01 thẻ sim điện thoại di động V3 (đã qua sử dụng), giữ nguyên 100% giá trị, trị giá 170.000 đồng.
Tổng giá trị thành tiền của những tài sản trên tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi cướp tài sản xảy ra ngày 08/5/2023, tại thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi là 12.870.000 đ (mười hai triệu tám trăm bảy mươi nghìn đồng).
Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2023/HS-ST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
Tuyên bố bị cáo Dương Đ phạm tội “Cướp tài sản”;
Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Dương Đ10 (B) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/5/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 09/10/2023, bị cáo Dương Đ kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Dương Đ11 tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục xong hậu quả cho người bị hại; người bị hại Đinh Thị T11 giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có ông ngoại tên D D1 là Liệt sỹ hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ; hiện nay gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, vợ bị cáo bị bệnh lao phổi, mẹ cũng bị đau đi lại khó khăn, bị cáo có 02 con còn nhỏ. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức hình phạt từ 05 năm đến 06 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi của bị cáo Dương Đ: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Dương Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào tối ngày 08/5/2023, tại đoạn đường thuộc xóm B, thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi bị cáo Dương Đ9 cầm 01 cây rựa (là phương tiện nguy hiểm) và đưa lưỡi rựa ngang ra trước mặt chị T5 dọa hỏi có tiền không thì chị T6 lời không có tiền; Dương Đ hỏi tiếp có điện thoại không đưa đây, chị T12 sợ nên đã lấy 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy S22 Ultra 12GB-256GB màu đỏ, điện thoại có gắn ốp lưng và 01 (một) sim điện thoại di động bên trong, đang để ở cốp trước xe mô tô của chị đưa cho Dương Đại . Giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt được định giá là 12.870.000 đồng (Mười hai triệu tám trăm bảy mươi nghìn đồng).
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Dương Đ về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo Dương Đ:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình khắc phục xong hậu quả cho người bị hại; người bị hại Đinh Thị T11 giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có ông ngoại tên D D1 là Liệt sỹ hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, mẹ bị cáo là bà Dương Thị V1 cấp sổ khám bệnh của chị Lữ Thị S5 vợ bị cáo hiện nay đang bị bệnh lao phổi, bà V2 nay cũng bị bệnh đi lại khó khăn nên hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn (có xác nhận của địa phương), bị cáo có 02 con còn nhỏ. Do có tình tiết mới trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Đáp d1 thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[3] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Bị cáo Dương Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Đại . Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 23/2023/HS-ST ngày 22/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 168; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo D (S1) năm tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 09/5/2023).
- Bị cáo Dương Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Mười |
Bản án số 15/2023/HS-PT ngày 27/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI về cướp tài sản
- Số bản án: 15/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Dương Đ phạm tội "Cướp tài sản"
