TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2023/HS-ST | Ngày 16 - 11 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thương Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thái và bà Nguyễn Thị Việt Hà
Thư ký phiên tòa: Bà Quàng Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Năng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2023/HSST, ngày 31 tháng 10 năm 2023; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo.
Họ và tên: Vì Văn H (Tên gọi khác: Không có) - Sinh năm 1964; Nơi sinh: Tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản Y, xã M P, thành phố B, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vì Văn T (Đã chết) và bà Lường Thị S; Vợ: Lò Thị Giót, đã ly hôn; Bị cáo có bốn con, con lớn nhất sinh năm 1986, con nhỏ nhất sinh năm 1992; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 12/8/2002, Vì Văn H bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn 02 năm. Đến nay đã hết thời hạn và được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 03/8/2023, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 03/8/2023 Vì Văn H một mình đi bộ từ nhà bản Yên 2, xã Mường Phăng, thành phố Điện Biên Phủ đến bản Co Luống, xã Mường Phăng để ăn sáng và tìm mua ma túy, khi gặp Lò Văn Pâng, trú tại bản Co Luống, xã Mường Phăng, H đã đưa cho Pâng 50.000đồng để Nhờ Pâng mua hộ ma túy để sử dụng, Pâng nhận lời. Khoảng 30 phút sau Pâng đưa cho H 01 gói ma túy được gói bằng giấy nilon màu hồng. H cầm gói ma túy cất vào trong gấu quần bên trái đang mặc rồi đi bộ về nhà. Hổi 12 giờ 30 phút cùng ngày khi đi đến đầu bản Co Luống, xã Mường Phăng, thành phố Điện Biên Phủ thì bị tổ công tác Công an thành phố Điện Biên Phủ làm nhiệm vụ phát hiện bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.
Vật chứng thu giữ gồm: 0,22 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu hồng.
Tại bản kết luận giám định số: 1240/KL-KTHS ngày 10/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng ký hiệu M gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine. Khối lượng vật chứng: 0,22 gam. Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, túy STT: 9, mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018, sau khi giám định hoàn lại 0,17 gam Heroine.
Tại bản kết luận giám định số: 1528/KL-KTHS ngày 24/10/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Dấu vân trên Danh bản, chỉ bản số 12852, mang tên Vì Văn H, sinh ngày 24/10/1964. Nơi ĐKNKTT: Co Luống, Mường Phăng, Điện Biên, Lai Châu, lập ngày 30/8/2002, tại PV27 – Lai Châu, ký hiệu A với dâu vân trên Danh bản, chỉ bản số 239, mang tên Vì Văn H, sinh ngày 24/10/1964. Nơi thường trú: Bản Y, xã M P, thành phố B, tỉnh Đ, lập ngày 12/8/2023, ký hiệu là M là của cùng một người.
Tại bản cáo trạng số: 160/CT-VKSTPĐBP ngày 30/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đã truy tố bị cáo Vì Văn H về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38/BLHS: Xử phạt bị cáo Vì Văn H từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 0,17 gam Heroine còn lại sau khi giám định, 01 mảnh nilon màu hồng.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận gì về phần luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với Biên bản bắt người quả tang, biên bản khám xét, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng chất ma tuý; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 03/8/2023 tại khu vực bản Co Luống, xã Mường Phăng, thành phố Điện Biên Phủ bị cáo đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,22 gam Heroine, mục đích để bản thân sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ 01 năm đến 05 năm:
...c) Heroine,... có khối lượng từ 0,1 gam đến 05 gam"
[2] Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên bị cáo đã đi mua ma túy cất giấu để phục vụ nhu cầu bản thân sử dụng, bị cáo đã coi thường pháp luật. Chính vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3]. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
- - Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.
- - Về nhân thân của bị cáo: Ngày 12/8/2002, Vì Văn H bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn 02 năm. Đến nay đã hết thời hạn và được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo có nhân thân xấu.
[4]. Hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù phù hợp, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cho bị cáo có thời gian cai nghiện để trở thành công dân tốt, có ý thức tuân thủ pháp luật.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS thì ngoài hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng... Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản gì có giá trị và bị cáo đi chấp hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có khả năng thi hành.
[6]. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,17 gam Heroine còn lại sau khi giám định, 01 mảnh nilon màu hồng theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
[7]. Các vấn đề khác:
Đối với Lò Văn Pâng, Cơ quan điều tra đã triệu tập nhiều triệu tập nhiều lần, nhưng Pâng vắng mặt tại nơi cứ trú, nên chưa làm rõ được hành vi của Pâng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Thông báo truy tìm đối với Pâng. Do vậy HĐXX không đặt vấn đề xử lý trong vụ án.
[8]. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[9]. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Vì Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Vì Văn H 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (03/8/2023).
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,17 gam Heroine còn lại sau khi giám định, 01 mảnh nilon màu hồng
(Vật chứng đã được Công an thành phố Điện Biên Phủ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/11/2023);
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/11/2023).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thương Huyền |
Bản án số 15/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 15/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử 01 năm 03 tháng
