|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 15/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20 - 6 - 2024 V/v tranh chấp Ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- TH1nh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ngọc Lan và Ông Hoàng Thanh Diện.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thục Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 23/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: anh Phan Thái H, sinh năm 1988; nơi cư trú: Khu phố 5, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Có mặt.
- - Bị đơn: chị Mai Thị H1, sinh năm 1994; nơi ĐKHK thường trú: thôn L, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; chổ ở hiện nay: Số 154/6, Â, Phường 3, Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Phan Thái H trình bày:
Anh và chị Mai Thị H1 kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 13 tháng 01 năm 2022 tại Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau. Vì không sống chung được nữa nên vợ chồng đã ly thân vào tháng 02 năm 2022, từ đó đến nay không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, sống ly thân nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với chị Mai Thị H1.
Về con chung: không có.
Về tài sản chung, nợ chung: không có.
Tại Đơn xin xét xử vắng mặt, chị Mai Thị H1 trình bày: chị đã nhận được thông báo của Tòa án về việc yêu cầu xin ly hôn của anh Phan Thái H. Tuy nhiên do đang đi làm ăn xa, không thể trực tiếp tham gia giải quyết vụ án, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt với nội dung: giải quyết ly hôn theo quy định của pháp luật; về con chung, tài sản chung và nợ chung chị xác định không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng:
- - Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: anh Phan Thái H có đơn yêu cầu xin ly hôn với anh chị Mai Thị H1, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bị đơn chị Mai Thị H1 có đăng ký cư trú tại thôn L, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
- - Về sự vắng mặt của đương sự: chị Mai Thị H1 có Đơn xin xét xử vắng mặt; căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H1.
- [2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:
- [2.1] Về quan hệ hôn nhân: anh H và chị H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Cơ quan có thẩm quyền nên quan hệ hôn nhân của hai người được xác định là hoàn toàn hợp pháp theo quy định tại các Điều 8 và 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Anh H trình bày, sau kết vợ chồng chung sống nhưng không hạnh phúc do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau. Phía chị H1 không trình bày mâu thuẫn và đề nghị giải quyết ly hôn theo quy định của pháp luật. Xét thấy, anh H yêu cầu ly hôn với lý do mâu thuẫn như trên, chị H1 không phản bác cũng như không có ý kiến, phương án cứu vãn cuộc hôn nhân và đề nghị giải quyết ly hôn theo quy định. Từ đó có căn cứ khẳng định mâu thuẫn giữa chị anh H và chị H1 là có thật, sống ly thân nhau, cuộc sống hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Phan Thái H, xử cho anh Phan Thái H được ly hôn với chị Mai Thị H1.
- [2.2] Về quan hệ con chung: anh chị xác định không có nên không xem xét.
- [2.3] Về tài sản chung, nợ chung: anh chị xác định không có nên không xem xét.
- [2.1] Về quan hệ hôn nhân: anh H và chị H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Cơ quan có thẩm quyền nên quan hệ hôn nhân của hai người được xác định là hoàn toàn hợp pháp theo quy định tại các Điều 8 và 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- [3] Về án phí: anh Phan Thái H phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định.
- [4] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Điều 8; khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về “mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Tuyên xử:
- Xét xử vắng mặt chị Mai Thị H1.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Phan Thái H, xử cho anh Phan Thái H được ly hôn chị Mai Thị H1.
- Án phí sơ thẩm: anh Phan Thái H chịu trách nhiệm nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn để sung vào ngân sách NH1 nước nH được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp trước đây tại Chi cục Thi H1nh án dân sự thị xã Ba Đồn theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003312 ngày 12 tháng 4 năm 2024, anh Phan Thái H đã nộp đủ tiền án phí.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/6/2024), bị đơn có quyền làm đơn kháng án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Anh Đức |
Bản án số 15/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn
- Số bản án: 15/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thái H - Mai Thị H
