Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH SƠN

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HS-ST

Ngày 19/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN, NINH THUẬN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Na.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thanh – Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam xã Lâm Sơn.
  2. Bà Trương Thị Ngọc – Chủ tịch Hội phụ nữ huyện Ninh Sơn.

Thư ký phiên tòa: Ông Võ Minh Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận đưa ra xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2024/HSST ngày 07 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đào Thị Như N; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 30/9/1985, tại Lâm Đồng; Nơi cư trú: Hẻm B L, phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn 9/12; Cha: Bùi Hữu P và mẹ: Trần Thị Ngọc L; Chồng: Bùi Quang T và có 03 người con; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ và chuyển tạm giam từ ngày 31/12/2023. Có mặt.
  2. Đào Bùi Thiên L1; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 29/9/2007 tại: Lâm Đồng; Nơi cư trú: Hẻm B L, phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn 10/12; Cha: Bùi Quang T và mẹ: Đào Thị Như N; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, Có mặt.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đào Bùi Thiên L2: Bà Trần Thị Ngọc L, sinh năm 1953 (Có mặt);

Nơi cư trú: Hẻm B L, phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Người bào chữa cho bị cáo Đào Bùi Thiên L2: Ông Lâm Thế N1, sinh năm 1980 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N (Có mặt).

Bị hại:

  1. Ông Trần Ngọc H, sinh năm 1957 (Xin vắng mặt);
  2. Nơi cư trú: Thôn L, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

  3. Chị Tăng Thị Thanh H1, sinh măm 1993 (Xin vắng mặt);
  4. Nơi cư trú: Khu phố E, thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

  5. Chị Ngô Thị N2, sinh năm 1982 (Có mặt);
  6. Nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Trần Thị Ngọc L, sinh năm 1953 (Có mặt);
  • Nơi cư trú: Hẻm B E2 L, phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

  • - Anh Trần Văn T1, sinh năm1991 (Xin vắng mặt);
  • Nơi cư trú: Số E N, phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

  • - Anh Trương Công D, sinh năm 1992 (Xin vắng mặt);
  • Nơi cư trú: Số A A N, phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 07/8/2023 và ngày 30/12/2023, Đào Thị Như N đã rủ con ruột là Đào Bùi Thiên L2 từ tỉnh Lâm Đồng đến địa bàn huyện N, tỉnh Ninh Thuận tìm địa điểm sơ hở để trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài, cụ thể:

Lần 1: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 07/08/2023, L2 điều khiển xe mô tô biển số 49AD-022.37 chở N lưu thông trên Quốc lộ B, đi ngang qua Tiệm điện thoại di động “Ngọc Huy” của ông Trần Ngọc H ở thôn L, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, thấy cửa tiệm mở không có ai trông coi nên N nói L2 dừng xe. N đứng ngoài xe trước cửa tiệm canh gác, còn L2 đi vào bên trong đến tủ đựng điện thoại lấy 04 chiếc điện thoại gồm: 01 điện thoại di động hiệu Redmi A1; 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9A; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A04 và 01 điện thoại di động hiệu S A03 cầm ra đưa cho N cất giữ, rồi L2 nhanh chóng điều khiển xe mô tô chở N về tỉnh Lâm Đồng. Sau đó N mang 03 chiếc điện thoại trộm cắp được là Redmi A1; S và S A03 bán cho Cửa hàng điện thoại “Mobile Gold” của anh Trương Công D ở số nhà A, đường N, phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng được 2.300.000 đồng. Còn 01 chiếc điện thoại Redmi 9A Ngọc để lại sử dụng được một thời gian, rồi bán cho một người đàn ông (không rõ lại lịch) tại tỉnh Lâm Đồng được 800.000 đồng.

Lần 2: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/12/2023, L2 điều khiển xe mô tô biển số 49AD-022.37 chở N lưu thông trên Quốc lộ B, đi ngang qua Quán tạp hóa “Chánh Hằng” của chị Tăng Thị Xuân H2 ở khu phố E, thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, thấy có một mình chị H2 bán hàng nên N nói L2 dừng xe vào tìm cách lấy trộm tài sản. Khi vào quán, N quan sát thấy 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A22 để trên bàn nên chỉ tay ra hiệu cho L2 đến lấy, đồng thời N dùng thủ đoạn đi đến trước mặt chị H2 giả vờ hỏi mua hàng hóa của chị H2 để chị H2 tìm kiếm hàng hóa bán và mất tập trung cho L2 lên đến lấy chiếc điện thoại đi ra ngoài xe đợi N. Sau khi L2 lấy được điện thoại, N nói chị H2 không mua hàng nữa, rồi nhanh chóng đi ra xe L2 chở lên hướng huyện B, tỉnh Ninh Thuận. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày chị H2 phát hiện mất điện thoại, đã kiểm tra camera ghi lại hình ảnh L2, N trộm cắp nên đi trình báo vụ việc, được lực lượng Công an huyện N truy tìm phát hiện, bắt giữ L2, N và tang vật.

* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 06/KL-ĐGTS ngày 05/02/2024 của Hội đồng Định giá tài sản tố tụng hình sự huyện N, kết luận:

  • - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi A1, trị giá 1.690.000 đồng;
  • - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi 9A, trị giá 1.850.000 đồng;
  • - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu sam sung A04, trị giá 2.590.000 đồng;
  • - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu sam sung A03, trị giá 2.150.000 đồng.

Tổng cộng là: 8.280.000 đồng.

* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-ĐGTS ngày 02/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N, kết luận:

  • - 01 điện thoại di động hiệu S A22, màu đen, trị giá 2.300.000 đồng.

Ngoài ra ngày 13/12/2023, Đào Thị Như NĐào Bùi Thiên L2 còn trộm cắp của chị Ngô Thị N2 ở thôn T, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận 01 chiếc điện thoại di động OPPO A15, trị giá 1.000.000 đồng.

Quá trình điều tra các bị cáo đều khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.

Tại phiên tòa các bị cáo Đào Thị Như N, Đào Bùi Thiên L2 khai nhận hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng. Các bị cáo thừa nhận việc truy tố xét xử là đúng người, đúng tội.

Cáo trạng số: 15/CT-VKS-NS ngày 06/3/2024 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận truy tố các bị cáo Đào Thị Như N, Đào Bùi Thiên L2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích hành vi, nhân thân, mức độ phạm tội của các bị cáo Đại diện Viện kiểm sát huyện N giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 điều 173, điểm g, o khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo: Đào Thị Như N từ 18 đến 24 tháng tù.

Áp dụng dụng khoản 1 điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 91, 101; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo: Đào Bùi Thiên L1 từ 12 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.

Các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo L1 sau khi nghe luận tội không có ý kiến tranh luận chỉ xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt. Người bào chữa cho bị cáo Đào Bùi Thiên L2, ông Lâm Thế N1 thống nhất với tội danh, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát huyện N, ông đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị hại Trần Ngọc HTăng Thị Xuân H2 vắng mặt, quá trình điều tra đề ghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Chị Ngô Thị N2 đã nhận tiền bồi thường từ bị cáo NL2 là 1.000.000 đồng và không có yêu cầu gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, tính chất và mức độ phạm tội của các bị cáo

Xét thấy lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Đào Thị Như N, Đào Bùi Thiên L2 phạm tội như sau:

Ngày 07/8/2023, NL2 vào Tiệm điện thoại di động “Ngọc Huy” của ông Trần Ngọc H ở thôn L, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, lén lút lấy trộm 04 chiếc điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động hiệu Redmi A1; 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9A; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A04 và 01 điện thoại di động hiệu S A03, trị giá 8.280.000 đồng.

Ngày 30/12/2023, NL2 tiếp tục vào Quán tạp hóa “Chánh Hằng” của chị Tăng Thị Xuân H2 ở khu phố E, thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A22 của chị H2 trị giá 2.300.000 đồng.

Như vậy, tổng giá trị tài sản NL2 chiếm đoạt tài sản của ông H và chị H2 trong 02 lần là 10.580.000 đồng. Tuy nhiên hành vi trộm cắp tài sản ngày 07/8/2023 của ông H, L2 chưa đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên L2 chỉ bị chịu trách nhiệm hình sự 01 lần về hành vi trộm cắp chiếc điện thoại ngày 30/12/2023 của chị Tăng Thị Xuân H2 trị giá 2.300.000 đồng.

Hành vi của bị cáo NL2 đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

[3] Đây là vụ án đồng phạm, nhưng tính chất giản đơn, vị trí vai trò các bị cáo đã thực hiện như sau: Đào Thị Như N là người khởi xướng và thực hành; Đào Bùi Thiên L2 là người thực hành tích cực. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội, các bị cáo biết rõ hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì muốn kiếm tiền một cách bất chính nên đã cố tình lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo khi lượng hình.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đào Thị Như N có hành vi phạm tội từ 02 lần trở lên và xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội. Nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo N, L2 đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và được người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt; ngoài ra bị cáo L2 còn có các tình tiết giảm nhẹ: Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; khi phạm tội dưới 18 tuổi (16 tuổi 3 tháng 1 ngày). Vì vậy, bị cáo N được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; bị cáo L2 được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 91, 101 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy, hành vi của bị cáo N là nguy hiểm cho xã hội, vì vậy cần xử phạt bị cáo N mức hình phạt tù có thời hạn để bị cáo có điều kiện cải tạo thành công dân tốt. Đối với bị cáo L2 không cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội, mà cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Đối với việc Đào Thị Như NĐào Bùi Thiên L2 trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động OPPO A15 của chị Ngô Thị N2 ngày 13/12/2023 trị giá 1.000.000 đồng, không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Ninh Thuận chuyển giao thông tin tài liệu cho Công an xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận xử lý vi phạm hành chính đối với NL2 theo quy định pháp luật, nên không xét đến.

[7] Đối với việc anh Trương Công D và anh Trần Văn T1 mua lại điện thoại của Đào Thị Như N là tài sản do N trộm cắp mà có, nhưng anh D và anh T1 không biết đó là tài sản do N trộm cắp mà có, Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn không xem xét xử lý là đúng quy định pháp luật, nên không xét đến.

[8] Đối với 01 xe mô tô biển số 49AD-022.37 là phương tiện phạm tội, thuộc sở hữu của bà Trần Thị Ngọc L cho L2 mượn làm phương tiện đi lại, bà L không biết việc L2 sử dụng làm phương tiện phạm tội, Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn không xem xét xử lý là đúng quy định pháp luật, nên không xét đến. Bà L đã nhận lại xe và không có yêu gì nên không xét đến.

[9] Về trách nhiệm dân sự:

  • - Bị hại ông Trần Ngọc H vắng mặt, ông yêu cầu bị cáo Đào Thị Như NĐào Bùi Thiên L2 phải bồi thường 04 chiếc điện thoại di động bị chiếm đoạt không thu hồi được với tổng số tiền là 8.280.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo N đồng ý một mình bồi thường toàn bộ số tiền cho ông H và quá trình điều tra được ông H chấp nhận. Xét sự thỏa thuận giữa các bên phù hợp với các quy định tại Điều 46, 48 Bộ luật hình sự và Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự nên chấp nhận.
  • - Bị hại chị Tăng Thị Xuân H2 đã nhận lại 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A22, màu đen, nay không có yêu cầu gì khác nên không đề cập đến.
  • - Chị Ngô Thị N2 đã nhận 1.000.000 đồng do Đào Thị Như NĐào Bùi Thiên L2 tự nguyện bồi thường để khắc phục hậu quả việc lấy trộm chiếc điện thoại di động OPPO A15 của chị N2 không thu hồi được.
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Trương Công D và anh Trần Văn T1 không có yêu cầu gì nên không xét đến.

[10] Về vật chứng:

  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu S A10, màu đen không sử dụng vào việc phạm tội quá trình điều tra đã cho Đào Bùi Thiên L2 nên không xét đến.
  • - Đối với các tài sản gồm: 01 điện thoại di động hiệu Redmi A1; 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9A; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A04; 01 điện thoại di động hiệu S; 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A15 mà Đào Thị Như NĐào Bùi Thiên L2 trộm cắp của ông Trần Ngọc H và chị Ngô Thị N2 không thu hồi được nên không đề cập việc xử lý.

[9] Về án phí: Do các bị cáo có tội và phải bồi thường nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người bị hại; người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Đào Thị Như N và bị cáo Đào Bùi Thiên L2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g, o khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Đào Thị Như N 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2023.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 91, 101, khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Đào Bùi Thiên L2 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể thừ ngày tuyên án sơ thẩm (19/4/2024).

Giao bị cáo Đào Bùi Thiên L2 cho Ủy ban nhân dân phường D1, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo vắng mặt, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46, 48 Bộ luật hình sự và Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự.

Công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự: Đào Thị Như N phải bồi thường cho anh Trần Ngọc H số tiền là 8.280.000 (Tám triệu hai trăm tám mươi nghìn) đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán cho người được thi hành án số tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải thanh toán cho người được thi hành án một khoản lãi suất theo quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Đào Thị Như NĐào Bùi Thiên L2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Buộc bị cáo Đào Thị Như N phải chịu 414.000 (Bốn trăm mười bốn nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo; bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận (1);
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận (1);
  • - VKSND huyện Ninh Sơn (1);
  • - CQCSĐT Công an H.Ninh Sơn (1);
  • - Chi cục THADS H.Ninh Sơn (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận (1);
  • - Thi hành án hình sự (5);
  • - Bị cáo (2);
  • - Người bào chữa (1);
  • - Bị hại (3);
  • - Người có QLNVLQ (3);
  • - UBND phường 4, Tp. Đà Lạt (1);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, AV (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Na

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN về trộm cắp tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 15/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ Đào Thị Như Ngọc và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger