Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 15/2024/KDTM-PT

Ngày: 18-6-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Đức Quang

Các Thẩm phán: Ông Bùi Minh Thư

Trần Thị Thu Hiền

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Soan - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà:Phạm Thị Hoà - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ kinh doanh thương mại phúc thẩm thụ lý số: 02/2024/TLPT-KDTM ngày 28 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/QĐ-PT ngày 22/5/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1; địa chỉ: T, số A, đường T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội;

    Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Phan Đức T- Chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị. Vắng mặt.

    Người được uỷ quyền: Ông Nguyễn Đình T1, chức vụ Giám đốc chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1; địa chỉ: Số H, đường P, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

    Người được uỷ quyền lại: Bà Phạm Thị Mai H, chức vụ: Giám đốc phòng giao dịch thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

  2. Bị đơn: Công ty TNHH X; địa chỉ: K, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh; Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị N, chức vụ: Giám đốc. Vắng mặt.
  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    • - Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1954; bà Lê Thị N, sinh năm 1967; cùng địa chỉ: Tổ dân phố F, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
    • - Chị Trần Thị B, sinh năm 1986; anh Trần Minh H1, sinh năm 1980; cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
    • - Anh Nguyễn Ngọc C1, sinh năm 1990; chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1991; cùng địa chỉ: Tổ dân phố F, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
    • - Anh Nguyễn Lê D, sinh năm 1991; chị Lê Thị Đ, sinh năm 1998; cùng địa chỉ: Tổ dân phố F, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Anh Dũng có mặt, chị Đ vắng mặt.
    • - Anh Nguyễn Viết L, sinh năm 1979; chị Tôn Thị T2, sinh năm 1978; cùng địa chỉ: Tổ dân phố D, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
    • - Người đại diện theo uỷ quyền của Nguyễn Ngọc C và bà Lê Thị N: Ông Đặng Thành V và ông Vũ Nghị L1; địa chỉ: Tòa nhà S, số A P, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội. Ông V có mặt, ông L1 vắng mặt.
  4. Người làm chứng:
    • - Ông Nguyễn Đình H2, sinh năm 1950; địa chỉ: Xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
    • - Ông Tôn H3, sinh năm 1965; địa chỉ: Xã V, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
    • - Bà Trần Thị H4, sinh năm 1945; địa chỉ: Số D đường N, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
  5. Người kháng cáo: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc C; bà Lê Thị N; anh Nguyễn Ngọc C1; anh Nguyễn Lê D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 02 năm 2023, các tài liệu có tại hồ sơ, tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1, chi nhánh H6 bà Phạm Thị Mai H trình bày:

Ngân hàng TMCP Đ1 (viết tắt Ngân hàng B1) và Công ty TNHH X (viết tắt Công ty X) đã ký kết các Hợp đồng tín dụng, đến thời điểm hiện tại Công ty X còn dư nợ theo 07 Hợp đồng tín dụng quá hạn chưa thanh toán cụ thể như sau:

Hợp đồng tín dụng số 01/2016/520464/HĐTD, ngày 24/02/2016 với số tiền vay 974.000.000 đồng; thời hạn vay 11 tháng, kể từ ngày 24/02/2016; thời hạn rút vốn 01 ngày kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực; lãi suất vay 9.5%/năm, cố định trong thời hạn hiệu lực của Hợp đồng; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Công ty X rút vốn vào ngày 24/02/2016. Tính đến ngày 22/01/2024 dư nợ gốc: 170.032.000 đồng; lãi trong hạn 221.264.698 đồng; lãi quá hạn 103.307.089 đồng. Tổng dư nợ gốc, lãi và lãi quá hạn là: 494.603.787 đồng (Bốn trăm chín mươi tư triệu, sáu trăm linh ba ngàn bảy trăm tám mươi bảy đồng).

Hợp đồng tín dụng số 02/2016/520464/HĐTD, ngày 31/5/2016 với số tiền vay 2.895.000.000 đồng; thời hạn vay 11 tháng, kể từ ngày 31/5/2016; thời hạn rút vốn 01 ngày kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực; lãi suất vay 9.5%/năm, cố định trong thời hạn hiệu lực của Hợp đồng; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Công ty X rút vốn vào ngày 31/5/2016. Tính đến ngày 22/01/2024 dư nợ gốc: 2.895.000.000 đồng; lãi trong hạn 1.993.167.292 đồng; lãi quá hạn 939.668.726 đồng. Tổng dư nợ gốc, lãi và lãi quá hạn là: 5.827.836.018 đồng (Năm tỷ, tám trăm hai mươi bảy triệu, tám trăm ba mươi sáu nghìn không trăm mười tám đồng).

Hợp đồng tín dụng số 03/2016/520464/HĐTD, ngày 29/6/2016 với số tiền vay 1.150.000.000 đồng; thời hạn vay 11 tháng, kể từ ngày 29/06/2016; thời hạn rút vốn 01 ngày kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực; lãi suất vay 9.5%/năm, cố định trong thời hạn hiệu lực của Hợp đồng; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Công ty X rút vốn vào ngày 29/06/2016. Tính đến ngày 22/01/2024 dư nợ gốc: 1.150.000.000 đồng; lãi trong hạn 782.958.332 đồng; lãi quá hạn 368.566.998 đồng. Tổng dư nợ gốc, lãi và lãi quá hạn là: 2.301.525.330 đồng (Hai tỷ ba trăm linh một triệu năm trăm hai mươi lăm ngàn, ba trăm ba mươi đồng).

Hợp đồng tín dụng số 04/2016/520464/HĐTD, ngày 31/08/2016 với số tiền vay 2.620.000.000 đồng; thời hạn vay 11 tháng, kể từ ngày 31/08/2016; thời hạn rút vốn 01 ngày kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực; lãi suất vay 9.5%/năm, cố định trong thời hạn hiệu lực của Hợp đồng; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Công ty X rút vốn vào ngày 31/08/2016. Tính đến ngày 22/01/2024 dư nợ gốc 2.620.000.000 đồng; lãi trong hạn 1.802.450.833 đồng; lãi quá hạn 817.912.992 đồng. Tổng dư nợ gốc, lãi và lãi quá hạn là: 5.240.363.825 đồng (Năm tỷ hai trăm bốn mươi triệu ba trăm sáu ba ngàn tám trăm hai mươi lăm đồng).

Hợp đồng tín dụng số 05/2016/520464/HĐTD, ngày 28/09/2016 với số tiền vay 1.565.000.000 đồng; thời hạn vay 11 tháng, kể từ ngày 28/09/2016; thời hạn rút vốn 01 ngày kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực; lãi suất vay 9.5%/năm, cố định trong thời hạn hiệu lực của Hợp đồng; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Công ty X rút vốn vào ngày 28/09/2016. Tính đến ngày 22/01/2024 dư nợ gốc: 1.565.000.000 đồng; lãi trong hạn 1.065.917.153 đồng; lãi quá hạn 482.780.756 đồng. Tổng dư nợ gốc, lãi và lãi quá hạn là: 3.113.697.909 đồng (Ba tỷ, một trăm mười ba triệu sáu trăm chín mươi bảy ngàn chín trăm linh chín đồng).

Hợp đồng tín dụng số 06/2016/520464/HĐTD, ngày 31/10/2016 với số tiền vay 1.870.000.000 đồng; thời hạn vay 11 tháng, kể từ ngày 31/10/2016; thời hạn rút vốn 01 ngày kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực; lãi suất vay 9.5%/năm, cố định trong thời hạn hiệu lực của Hợp đồng; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Công ty X rút vốn vào ngày 31/10/2016. Tính đến ngày 22/01/2024 dư nợ gốc: 1.870.000.000 đồng; lãi trong hạn 1.302.273.194 đồng; lãi quá hạn 568.973.456 đồng. Tổng dư nợ gốc, lãi và lãi quá hạn là: 3.741.246.650 đồng (Ba tỷ, bảy trăm bốn mươi mốt triệu hai trăm bốn mươi sáu ngàn, sáu trăm năm mươi đồng).

Hợp đồng tín dụng 06/2016/520464/HĐTD, ngày 26/12/2016 với số tiền vay 166.000.000 đồng; thời hạn vay 05 tháng, kể từ ngày 26/12/2016; thời hạn rút vốn 01 ngày kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực; lãi suất vay 9.5%/năm, cố định trong thời hạn hiệu lực của Hợp đồng; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Công ty X rút vốn vào ngày 26/12/2016. Tính đến ngày 22/01/2024 dư nợ gốc: 166.000.000 đồng; lãi trong hạn 107.194.500 đồng; lãi quá hạn 50.464.000 đồng. Tổng dư nợ gốc, lãi và lãi quá hạn là: 323.658.500 đồng (Ba trăm hai ba triệu sáu trăm năm mươi tám ngàn năm trăm đồng).

Như vậy, tính đến ngày 22/01/2024, Công ty X dư nợ 07 Hợp đồng trên với số tiền nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn tổng cộng 21.042.932.019 đồng. (Bằng chữ: Hai mươi mốt tỷ, không trăm bốn mươi hai triệu, chín trăm ba mươi hai nghìn, không trăm mười chín đồng). Trong đó, dự nợ gốc 10.436.032.000 đồng, nợ lãi trong hạn 7.275.226.002 đồng, lãi quá hạn 3.331.674.017 đồng.

Để bảo đảm cho khoản vay, Công ty X và bên thứ ba là vợ chồng bà Lê Thị N, ông Nguyễn Ngọc C đã thế chấp các tài sản gồm:

  • Quyền sử dụng đất số 1155, tờ bản đồ 04 tại khối B (Nay là tổ dân phố F) phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh theo GCNQSD đất số X245712 do Ủy ban nhân dân thị xã H cấp ngày 24/12/2003 có diện tích 216,0m² mang tên hộ bà Lê Thị N theo hợp đồng thế chấp số 02/10/HĐ ngày 22/06/2010 và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm vào ngày 13/7/2010 tại phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh.
  • + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất là ngôi nhà 02 tầng tại thửa đất số 1154, tờ bản đồ số 04 tại khối B (Nay là tổ dân phố F) phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh theo GCNQSD đất số X245812 do Ủy ban nhân dân thị xã H cấp ngày 12/01/2004 có diện tích 375,0 m² mang tên hộ ông Nguyễn Ngọc C theo hợp đồng thế chấp số 03/2014/520464/HĐBĐ ngày 29/5/2014 và được đăng ký giao dịch bảo đảm vào ngày 03/6/2014 tại phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh.
  • + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất là ngôi nhà 02 tầng tại thửa đất số 256, tờ bản đồ số 05 tại khối A (Nay là tổ dân phố C) phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh theo GCNQSD đất số AM095002 do Ủy ban nhân dân thị xã H cấp ngày 17/4/2008 có diện tích 212,0m² t heo hợp đồng thế chấp số 04/2014/520464/HĐBĐ ngày 29/5/2014 và được đăng ký giao dịch bảo đảm vào ngày 03/6/2014 tại phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh.
  • + 01 máy đào bánh xích Caterpillar số seri 240B, số khung: 9PF00481, gầu: 0,9m³, nước sx: Nhật Bản; 01 máy xúc Caterpillar, số seri: 320B, số khung: 02967, số máy: 278261B, nước SX: Nhật Bản; 01 máy ủi bánh xích hiệu Caterpillar số seri D3C, số khung: 5CJ01262, nước SX: Nhật Bản đều theo hợp đồng thế chấp số 02/2014/520464/HĐBĐ ngày 29/5/2014 và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Đà Nẵng vào ngày 09/6/2014.
  • + 01 máy đào bánh xích hiệu KOMATSU PC 400LC-6LM, số khung: 0A85058; Số động cơ: 6D125-210046 theo hợp đồng thế chấp số 03/2015/520464/HĐBĐ ngày 27/8/2015 và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Đà Nẵng vào ngày 28/8/2015.

Trong quá trình sử dụng vốn Công ty X đã vi phạm cam kết trả nợ gốc, lãi theo quy định tại các Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Ngân hàng B1 đã gửi các thông báo tới khách hàng và bên bảo đảm để yêu cầu trả nợ, tuy nhiên đến nay khách hàng vay và bên bảo đảm không có thiện chí trong việc trả nợ. Do đó, Ngân hàng B1 yêu cầu Toà án giải quyết các vấn đề sau:

  • - Yêu cầu Tòa án buộc Công ty X phải thanh toán toàn bộ khoản nợ gốc và khoản tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng B1 tính đến thời điểm Tòa án xét xử ngày 22/01/2024 là 21.042.932.019 đồng. (Bằng chữ: Hai mươi mốt tỷ, không trăm bốn mươi hai triệu, chín trăm ba mươi hai nghìn, không trăm mười chín đồng); Trong đó nợ gốc: 10.436.032.000 đồng; Lãi trong hạn 7.275.226.002 đồng; Lãi quá hạn 3.331.674.017 đồng.
  • - Lãi phát sinh đến thời điểm thi hành án xong theo mức lãi suất tại các Hợp đồng tín dụng.
  • - Trường hợp Công ty X không trả được nợ, yêu cầu Tòa án tuyên Ngân hàng B1 được quyền phát mãi hoặc đề nghị cơ quan thi hành án kê biên phát mãi tài sản bảo đảm của Công ty X và của bên thứ ba để thu hồi nợ gồm các tài sản thế chấp trên.

* Quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo pháp luật của bị đơn Công ty X đồng thời cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Lê Thị N trình bày:

Quá trình kinh doanh Công ty X đã đề xuất và được Ngân hàng B1 chấp thuận cho vay vốn trên cơ sở Công ty X có tài sản để đảm bảo và kèm theo toàn bộ hồ sơ đủ điều kiện để Ngân hàng B1 cho Công ty X vay vốn. Nhưng tính đến thời điểm hiện tại Công ty X còn nợ Ngân hàng B1 số nợ cụ thể bao nhiêu bà không rõ vì chưa có đối chiếu công nợ với Ngân hàng. Đối với các tài sản đã thế chấp bà Lê Thị N thừa nhận các loại tài sản như Ngân hàng đã liệt kê. Trong thời gian qua, Công ty X gặp khó khăn trong kinh doanh và đã thanh lý một số tài sản, bất động sản để trả một phần gốc, lãi cho Ngân hàng theo quy định. Tuy nhiên, trong khoảng từ năm 2020 đến nay Công ty X không thanh toán được nợ gốc và lãi cho Ngân hàng theo như cam kết. Nay Ngân hàng yêu cầu Công ty X trả số tiền gốc và lãi trên nếu không trả được thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp bà có ý kiến như sau: Đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1154, tờ bản đồ 04 ở tại khối B (Nay là tổ dân phố F), phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh đã được UBND thị xã H cấp giấy CNQSD đất số X245812 ngày 12/01/2004 mang tên hộ ông Nguyễn Ngọc C. Và thửa đất số 1155, tờ bản đồ 04 ở tại khối B (Nay là tổ dân phố F), phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh đã được UBND thị xã H cấp giấy CNQSD đất số X245712 ngày 24/12/2003 mang tên hộ bà Lê Thị N. Đây đều là tài sản hộ gia đình đặc biệt trên thửa đất số 1154 hiện tại gia đình bà cùng vợ chồng hai người con là anh Nguyễn Ngọc C1 và anh Nguyễn Lê D đang sinh sống. Trước đây GCNQSD đất mang tên hộ gia đình, quá trình thế chấp gửi tại ngân hàng từ năm 2004 đến nay gia đình bà không thực hiện thủ tục cấp đổi. Nhưng hiện tại hai thửa đất này đã được cấp đổi là trái quy định pháp luật, đề nghị Tòa án xem xét. Còn đối với tài sản thế chấp là thửa đất số 256 tờ bản đồ số 05 tại khối A (Nay là Tổ dân phố C) phường N được cấp GCNQSDĐ số AM 095002 ngày 17/4/2008 mang tên ông Nguyễn Ngọc C và bà Lê Thị N; Hiện tại trên thửa đất này chị Trần Thị B đang thuê mặt bằng để mở quán kinh doanh cafê, còn ngôi nhà 02 tầng anh Võ Viết L2 đang thuê để sinh sống. Sau khi Tòa án thụ lý yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N tiếp tục có văn bản trình bày ý kiến về nguồn gốc thửa đất 1154 là của cụ Tôn Thị L3 chuyển nhượng cho hộ ông Nguyễn Ngọc C (gồm vợ chồng bà và các con Nguyễn Ngọc C1, Nguyễn Lê D). Đối với thửa đất 1155 nhận chuyển nhượng từ ông Đoàn Ngọc T3 và bà Trần Thị Kim T4, bà Tôn Thị L3 đã đưa cho vợ chồng bà 6 cây vàng cùng 03 triệu đồng tiền mặt. Tại thời điểm ký các Hợp đồng thế chấp với Ngân hàng B1 đối với thửa đất số 1154 và 1155 bà và ông Nguyễn Ngọc C không thông báo hay trao đổi gì với anh Nguyễn Ngọc C1 và anh Nguyễn Lê D nên việc anh C1, anh D đề nghị tuyên bố hai hợp đồng thế chấp này vô hiệu là có cơ sở để nghị Tòa án chấp nhận. Đối với việc cấp đổi GCNQSD đất số X245812 sang CD 251449 và GCNQSD đất số X245712 sang BY 362592 là trái pháp luật nhưng thuộc lĩnh vực hành chính hoặc hình sự nên bà sẽ thực hiện việc tố cáo ra cơ quan điều tra có thẩm quyền hoặc khởi kiện vụ án hành chính độc lập đối với các cá nhân/tổ chức liên quan.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc C vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án và ủy quyền cho ông Đặng Thành V, ông Vũ Nghị L1. Đồng thời, ông V, ông L1 cũng là người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị N với phương diện là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Quá trình giải quyết vụ án ông Đặng Thành V và ông Vũ Nghị L1 có văn bản trình bày ý kiến và tại phiên tòa ông Đặng Thành V tiếp tục trình bày về các vấn đề cụ thể sau:

  • - Về việc cấp đổi GCNQSDĐ số X245712 và X245812 là hoàn toàn trái pháp luật và đề nghị Tòa án trưng cầu giám định chữ ký của ông Nguyễn Ngọc C và bà Lê Thị N tại hồ sơ cấp đổi có dấu hiệu bị làm giả.
  • - Về thủ tục cấp đổi GCNQSD đất vào thời điểm năm 2015 chưa đảm bảo quy định pháp luật, Văn phòng đăng ký đất (viết tắt VPĐKĐ) thị xã H lập hồ sơ cấp đổi hoàn toàn không khách quan và trái pháp luật. Sau khi cấp đổi VPĐKĐ thị xã H không thông báo cho ông C, bà N về kết quả cấp đổi này.
  • - Nội dung trả lời của VPĐKĐ thị xã H - C tại Văn bản số 265/CV – VPĐK ngày 20/10/2023 là trái pháp luật.
  • - Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là có căn cứ do tài sản thế chấp là tài sản chung của hộ gia đình ông C, bà N (gồm cụ Tôn Thị L3, vợ chồng ông C, bà N cùng các con là anh Nguyễn Ngọc C1 và anh Nguyễn Lê D). Phía Ngân hàng không đề nghị hoặc yêu cầu ông C, bà N phải thông báo hoặc yêu cầu anh C1, anh D ký vào các hợp đồng thế chấp là chưa đảm bảo quyền lợi cho các thành viên hộ gia đình.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc C1 và anh Nguyễn Lê D có yêu cầu độc lập: Đề nghị Tòa án tuyên bố các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 02/10/HĐ ngày 22/6/2010; số 03/2014/520464/HĐBĐ ngày 29/5/2014 giữa bà Lê Thị N, ông Nguyễn Ngọc C với Ngân hàng B1 là vô hiệu vì tài sản thế chấp là thửa đất số 1154 có GCNQSDĐ số X245812 và thửa đất số 1155 có GCNQSDĐ số X245712 là tài sản chung của hộ gia đình. Quá trình ông Nguyễn Ngọc C và bà Lê Thị N thế chấp tài sản tại Ngân hàng các anh không biết và không ký vào hợp đồng thế chấp nên không có hiệu lực. Đối với việc cấp đổi hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 251449 và BY 362592 thủ tục cấp đổi là hoàn toàn trái pháp luật, tại đơn đề nghị ngày 25/10/2023 hai anh đề nghị Tòa án xem xét tính hợp pháp của việc cấp đổi. Tại bản tự bảo vệ ngày 09/01/2024 và trình bày tại phiên tòa anh Nguyễn Lê D đề nghị Tòa án tuyên hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị B đang kinh doanh càfê trên thửa đất số 256, tờ bản đồ 05 ở khối A (Nay là tổ dân phố C), phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh: Quá trình giải quyết vụ án chị Trần Thị B có văn bản trình bày đề nghị ông Nguyễn Ngọc C và bà Lê Thị N trả lại số tiền thuê mặt bằng kinh doanh và chi phí chị đã bỏ ra sửa chữa với tổng số tiền là 236.500.000đ. Chị Trần Thị B cũng trình bày về các tài sản hiện có tại vị trí thuê, chị cho biết số tiền chị bỏ ra để xây dựng và sửa chữa tôn tạo mặt bằng kinh doanh là tiền chung vợ chồng. Tuy nhiên, khi Tòa án ra thông báo nộp tạm ứng án phí để xem xét yêu cầu độc lập chị không thực hiện, tại biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa chị trình bày đây là quan hệ dân sự giữa chị và bà N, chị mong muốn tiếp tục hợp đồng thuê để kinh doanh còn hiện tại bà N chưa lấy lại mặt bằng nên chị chưa có yêu cầu gì. Còn đối với chồng chị anh Trần Minh H1 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng, được thông báo tham gia với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án nhưng đều vắng mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Võ Viết L2 – người thuê nhà tại thửa đất số 256, tờ bản đồ 05 ở khối A (Nay là tổ dân phố C), phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh: Quá trình giải quyết vụ án anh đề nghị bà Lê Thị N phải thanh toán số tiền anh đã bỏ ra thuê nhà đến 06/11/2024 và chi phí sửa chữa 3.000.000đ. Tuy nhiên, khi Tòa án ra thông báo nộp tạm ứng án phí để xem xét yêu cầu độc lập anh không thực hiện. Tòa án tiến hành lấy lời khai của vợ anh chị Tôn Thị T2 được biết hiện tại vợ chồng đã chuyển đến nơi ở mới số A đường Q, phường N, thị xã H còn trước đó việc thuê nhà giữa anh L2 và bà N chị không nắm rõ. Tại phiên tòa anh L2 khẳng định vợ chồng anh chưa chấm dứt hợp đồng thuê nhà với bà N và anh cũng không có yêu cầu gì.

* Những người làm chứng ông Nguyễn Đình H2, ông Tôn H3 tham gia phiên tòa: trình bày mối quan hệ thân thích với gia đình ông Nguyễn Ngọc CLê Thị N và cho biết khi bà L3 còn sống bà L3 nói có góp tiền, vàng để mua đất cho ông C, bà N và các cháu C1, D. Đồng thời họ khẳng định hai thửa đất số 1154 và 1155 là tài sản chung của hộ gia đình ông CN và anh C1, anh D nhưng không đem ra được tài liệu chứng cứ gì chứng minh cho nội dung đã trình bày.

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2024/KDTM – ST, ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh đã căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 2 Điều 227, Điều 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 117, 299, 317, 318, 319, 335, 336, 357, 401, 463, 466, 468, 500, 501, 502, 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng, tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ1.
  2. Buộc Công ty TNHH X phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ1 số tiền nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn tính đến ngày xét xử (ngày 22/01/2024) là 21.042.932.019 đồng. (Bằng chữ: Hai mươi mốt tỷ, không trăm bốn mươi hai triệu, chín trăm ba mươi hai nghìn, không trăm mười chín đồng). Trong đó, dư nợ gốc 10.436.032.000 đồng, nợ lãi trong hạn 7.275.226.002 đồng, nợ lãi quá hạn 3.331.674.017 đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ngày 22/01/2024 Công ty TNHH X còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất tại các Hợp đồng tín dụng.

    Trường hợp Công ty TNHH X không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ thì Ngân hàng TMCP Đ1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp của Công ty X và bên thứ ba để thu hồi nợ gồm các tài sản:

    • + Quyền sử dụng đất của thửa đất số 1155, tờ bản đồ 04 ở tại khối B, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, đã được UBND thị xã H cấp GCNQSD đất số X245712, ngày 24/12/2003 mang tên hộ bà Lê Thị N. (Hiện nay thuộc thửa đất số 63, tờ bản đồ 38 ở tổ dân phố F, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, được thể hiện trong GCNQSD đất cấp đổi số BY 362592, ngày 28/9/2015 mang tên hộ bà Lê Thị N), theo Hợp đồng đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02/10/HĐ ngày 22/06/2010 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Đ1 và vợ chồng ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị N.
    • + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà 02 tầng của thửa đất số 1154, tờ bản đồ 04 ở tại khối B, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, đã được UBND thị xã H cấp GCNQSD đất số X245812, ngày 12/01/2004 mang tên hộ ông Nguyễn Ngọc C. (Hiện nay thuộc thửa đất số thửa 64, tờ bản đồ 38 ở tổ dân phố F, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, được thể hiện trong GCNQSD đất đã được cấp đổi số CD 251449, ngày 16/02/2016 mang tên bà Lê Thị N và ông Nguyễn Ngọc C), theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 03/2014/520464/HĐBĐ ngày 29/5/2014 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Đ1 và vợ chồng ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị N.
    • + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà 02 tầng thuộc thửa đất số 256, tờ bản đồ 05 ở khối A (Nay là tổ dân phố C) phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, đã được UBND thị xã H cấp GCNQSD đất số AM 095002, ngày 17/4/2008 mang tên ông Nguyễn Ngọc CLê Thị N theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 04/2014/520464/HĐBĐ ngày 29/5/2014 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Đ1 và vợ chồng ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị N.
    • + 01 máy đào bánh xích Caterpillar số seri 240B, số khung: 9PF00481, gầu: 0,9m3, nước sx: Nhật Bản; 01 máy xúc Caterpillar, số seri: 320B, số khung: 02967, số máy: 278261B; 01 máy ủi bánh xích hiệu Caterpillar số seri D3C, số khung: 5CJ01262, nước SX: Nhật Bản, theo hợp đồng thế chấp số 02/2014/520464/HĐBĐ ngày 29/5/2014.
    • + 01 máy đào bánh xích hiệu KOMATSU PC 400LC-6LM, số khung: 0A85058; Số động cơ: 6D125-210046 theo hợp đồng thế chấp số 03/2015/520464/HĐBĐ ngày 27/8/2015.
  3. Bác yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc C1, anh Nguyễn Lê D về việc tuyên bố Hợp đồng thế chấp số 02/10/HĐ ngày 22/6/2010 và Hợp đồng thế chấp số 03/2014/520464/HĐBĐ ngày 29/5/2014 ký giữa ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị N với Ngân hàng TMCP Đ1 là vô hiệu.
  4. Không xem xét yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc C1, anh Nguyễn Lê D về việc tuyên Hủy GCNQSD đất cấp đổi số CD 251449 cấp ngày 16/02/2016 mang tên bà Lê Thị N ông Nguyễn Ngọc C và GCNQSD đất số BY 362592 cấp ngày 28/9/2015 mang tên hộ bà Lê Thị N.

  5. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị N; Vợ chồng anh Nguyễn Ngọc C1, chị Nguyễn Thị Q; Vợ chồng anh Nguyễn Lê D, chị Lê Thị Đ phải di dời toàn bộ tài sản cá nhân và có trách nhiệm bàn giao toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà 02 tầng có tại thửa đất số 1154, tờ bản đồ 04 ở tại khối B, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh được UBND thị xã H cấp GCNQSD đất số X 245812, ngày 12/01/2004 mang tên hộ ông Nguyễn Ngọc C. (Hiện nay thuộc thửa đất số thửa 64, tờ bản đồ 38 ở tổ dân phố F, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, Giấy CNQSD đất đã được cấp đổi số CD 251449, ngày 16/02/2016 mang tên bà Lê Thị N và ông Nguyễn Ngọc C) để xử lý tài sản thế chấp.
  6. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị N; Vợ chồng chị Trần Thị B, anh Trần Minh H1; Vợ chồng anh Võ Viết L2, chị Tôn Thị T2 phải di dời toàn bộ tài sản cá nhân và có trách nhiệm bàn giao toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là 01 ngôi nhà 02 tầng trên thửa đất số 256, tờ bản đồ 05 ở khối A (Nay là Tổ dân phố C) phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, được UBND thị xã H cấp GCNQSD đất số AM 095002, ngày 17/4/2008 mang tên ông Nguyễn Ngọc CLê Thị N để xử lý tài sản thế chấp.

    Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

    - Ngày 02/02/2024 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc C; bà Lê Thị N; anh Nguyễn Ngọc C1; anh Nguyễn Lê D kháng cáo đối với Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2024/KDTM-ST ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

Những vấn đề cụ thể trong đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm:

  • - Ông Nguyễn Ngọc C và bà Lê Thị N kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2024/KDTM-ST ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh và huỷ bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm nêu trên.
  • - Anh Nguyễn Ngọc C1 và anh Nguyễn Lê D kháng cáo đề nghị Toà án cấp sơ thẩm xem xét lại toàn bộ bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2024/KDTM-ST ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh và sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của anh C1 và anh D về việc tuyên bố các Hợp đồng thế chấp số 02/10/HĐ ngày 22/6/2010 và Hợp đồng thế chấp số 03/2014/520464/HĐBĐ ngày 29/5/2014 ký giữa ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị N (bên thế chấp) với Ngân hàng TMCP Đ1 (bên nhận thế chấp) là vô hiệu do việc xác lập các hợp đồng này là trái quy định pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị N, anh Nguyễn Ngọc C1 vắng mặt, nhưng người diện theo ủy quyền của ông C, bà N là ông Đặng Thành V vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo của ông C, bà N; anh Nguyễn Lê D vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Tại phiên tòa người đại diện của ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị N phân tích, đánh giá các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ vụ án cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng về tố tụng, thiếu khách quan trong việc đánh giá chứng cứ, nhiều sai lầm trong việc áp dụng pháp luật, vì vậy đề nhị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự hủy bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã phân tích đánh giá các chứng cứ của vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung đơn kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị N, anh Nguyễn Ngọc C1, anh Nguyễn Lê D đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị N, anh Nguyễn Ngọc C1, anh Nguyễn Lê D, giữ nguyên quyết định của bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2024/KDTM-ST ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng:
    1. [1.1] Đơn kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị N, anh Nguyễn Ngọc C1, anh Nguyễn Lê D làm trong thời hạn luật định nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
    2. [1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với bị đơn là Công ty TNHH X; địa chỉ: K, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, Tòa án nhân thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp.
    3. [1.3] Về xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án đã được cấp sơ thẩm thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự.

    Về xác minh, thu thập chứng cứ được cấp sơ thẩm thực hiện đúng quy định tại Điều 97, 98, 99, 101, 106 của Bộ luật tố tụng dân sự;

    Thủ tục người người đại diện được thực hiện đúng quy định tại Điều 85 của Bộ luật tố tụng dân sự.

  2. [2] Về nội dung:
    1. [2.1] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc C và bà Lê Thị N, Hội đồng xét xử nhận thấy:
    2. - Về yêu cầu trả số tiền nợ gốc của Ngân hàng B1: Năm 2016 Ngân hàng B1Công ty X đã ký kết 07 hợp đồng tín dụng gồm: Hợp đồng tín dụng số 01/2016/520464/HĐTD ngày 24/02/2016, Hợp đồng tín dụng số 02/2016/520464/HĐTD ngày 31/5/2016; Hợp đồng tín dụng số 03/2016/520464/HĐTD ngày 29/6/2016; Hợp đồng tín dụng số 04/2016/520464/HĐTD ngày 31/8/2016; Hợp đồng tín dụng số 05/2016/520464/HĐTD ngày 28/9/2016; Hợp đồng tín dụng số 06/2016/520464/HĐTD ngày 31/10/2016; Hợp đồng tín dụng số 06/2016/520464/HĐTD ngày 26/12/2016; tại thời điểm ký kết hợp đồng hai bên có đầy đủ tư cách pháp nhân, việc ký kết là hoàn toàn tự nguyện, không ai bị lừa dối, ép buộc và trong quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng các bên tuân thủ và nhất trí thực hiện không bên nào có ý kiến gì khác. Các điều khoản hai bên thỏa thuận trong hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Như vậy, các hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng B1Công ty X này đều phù hợp với các Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 theo đó các hợp đồng này là hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

      Ngay sau khi ký kết 07 hợp đồng tín dụng nêu trên Ngân hàng B1 đã giải ngân cho Công ty X tổng số tiền 11.240.000.000 đồng và Công ty X đã nhận đủ số tiền này (phản ánh tại các bảng kê rút vốn, các chứng từ nhận tiền mà Ngân hàng đã nộp). Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty X đã trả nợ cho Ngân hàng B1 số tiền 1.101.188.695 đồng trong đó trả nợ gốc 803.968.000 đồng, nợ lãi 297.220.695 đồng và đến tháng 01/2017 Công ty X bắt đầu quá hạn việc trả nợ, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng B1 đúng thời hạn đã ký kết và Ngân hàng B1 đã ra các thông báo nợ đến hạn, nợ quá hạn và mời đại diện Công ty X đến làm việc nhưng đến ngày 22/01/2024 vẫn chưa thanh toán được toàn bộ số tiền nợ gốc là 10.436.032.000 đồng (Mười tỷ bốn trăm ba sáu triệu không trăm ba hai ngàn đồng).

      Do Công ty X đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được ký kết trong các hợp đồng nên Ngân hàng B1 yêu cầu Công ty X phải trả số tiền vay còn nợ theo các Hợp đồng đã ký kết là đúng quy định. Tại Toà án cấp sơ thẩm bà N thừa nhận Công ty X có nợ Ngân hàng B1 nhưng giá trị nợ bao nhiêu thì bà chưa đối chiếu công nợ với Ngân hàng B1 nên chưa nắm được; tại cấp sơ thẩm, cũng như tại cấp phúc thẩm bà N không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh cho việc thanh toán các khoản nợ đối với các hợp đồng này. Do đó có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng B1, Toà án cấp sơ thẩm đã buộc Công ty X phải trả nợ cho Ngân hàng B1 tổng số tiền nợ gốc tính đến ngày 22/1/2024 là 10.436.032.000 đồng (Mười tỷ bốn trăm ba sáu triệu không trăm ba hai ngàn đồng) là có căn cứ

      - Về số tiền nợ lãi: Căn cứ vào các bảng kê tính lãi nguyên đơn cung cấp, bản tự khai của nguyên đơn thể hiện việc tính lãi, số tiền lãi phù hợp với thỏa thuận trong các hợp đồng hai bên đã ký kết, phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01 ngày 11/1/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Do đó Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng B1, buộc Công ty X phải có nghĩa vụ thanh toán tổng số tiền nợ lãi theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết tính đến ngày 22/1/2024 gồm tiền lãi 7.275.226.002 đồng, lãi quá hạn là 3.331.674.017 đồng và Công ty X còn phải chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong 07 hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc là có căn cứ.

      - Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Căn cứ vào các tài liệu mà nguyên đơn nộp và lời khai của đại diện Ngân hàng B1 thể hiện từ năm 2010 Công ty X đã có quan hệ tín dụng với Ngân hàng B1 và đã ký các hợp đồng thế chấp gồm 01 hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02/10/HĐ ngày 22/6/2010, 02 hợp đồng thế chấp bằng bất động sản của bên thứ ba số 03, 04/2014/520464/HĐBĐ đều ngày 29/5/2014, và 02 hợp đồng thế chấp tài sản gồm hợp đồng số 02/2014/520464/HĐBĐ ngày 29/5/2014 và hợp đồng số 03/2015/520464 ngày 27/8/2015. Sau khi thanh lý các hợp đồng tín dụng đã ký trước đó thì năm 2016 Công ty XNgân hàng B1 tiếp tục ký kết 07 hợp đồng tín dụng tiếp theo và hai bên thỏa thuận giữ nguyên các hợp đồng thế chấp này để đảm bảo cho các khoản vay. Và tại Điều 8 của 07 hợp đồng tín dụng đã ký kết năm 2016 giữa Ngân hàng B1Công ty X thì tài sản bảo đảm cho 07 hợp đồng tín dụng là 05 hợp đồng thế chấp đã ký kết để bảo đảm cho các khoản vay. Do đó đây là căn cứ để xem xét 05 hợp đồng thế chấp này.

      Đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02/10/HĐ ngày 22/6/2010 giữa bên thế chấp là bà Lê Thị N cùng chồng là ông Nguyễn Ngọc C, bên nhận thế chấp là Ngân hàng B1, tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X245712 do UBND thị xã H cấp ngày 24/12/2003 thuộc thửa đất số 1155, tờ bản đồ số 04, diện tích 216m² mang tên hộ bà Lê Thị N tại khối B phường N, thị xã H và thửa đất này đã được cấp đổi Giấy CNQSD đất số BY 362592 ngày 28/9/2015 mang tên hộ bà Lê Thị N có diện tích 208,6m². Thửa đất này có nguồn gốc vào năm 2003 ông CN nhận chuyển nhượng của ông Đoàn Ngọc T3. Theo kết quả xác minh của Tòa án cấp sơ thẩm thì năm 2003 UBND thị xã H cấp giấy CNQSD đất này là cấp cho vợ chồng ông CN mà không cấp cho thành viên nào khác. Nên việc ông CN ký hợp đồng thế chấp số 02/10/HĐ ngày 22/6/2010 và hợp đồng được công chứng vào ngày 09/7/2010 tại phòng C2 tỉnh Hà Tĩnh cũng như tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất này được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Phòng tài nguyên và môi trường thị xã H vào ngày 13/7/2010 là có hiệu lực theo đúng quy định tại Điều 401 Bộ luật dân sự nên các bên ký kết trong hợp đồng thế chấp này phát sinh quyền và nghĩa vụ phải thực hiện.

      Đối với hợp đồng thế chấp bằng bất động sản của bên thứ ba số 03/2014/520464/HĐBĐ ngày 29/5/2014 giữa bên thế chấp là ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị N, bên được bảo đảm là Công ty X, bên nhận thế chấp là Ngân hàng B1, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo Giấy CNQSD đất số X245812 cấp ngày 12/1/2004, thửa đất số 1154, tờ bản đồ số 04 diện tích 375m² và tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà 02 tầng mang tên hộ ông Nguyễn Ngọc C tại khối B phường N thị xã H và thửa đất này đã được UBND thị xã H cấp đổi giấy CNQSD đất số CD 251449 ngày 16/2/2016 mang tên bà Lê Thị N và ông Nguyễn Ngọc C có diện tích 395,6m² thuộc thửa đất số 64, tờ bản đồ số 38 ở TDP F phường N, thị xã H. Theo kết quả xem xét thẩm định của Toà án cấp sơ thẩm thì diện tích thửa đất thực tế hiện tại là 393,2m². Thửa đất này có nguồn gốc từ năm 1984 UBND xã T cấp cho bà Tôn Thị L3 (mẹ ông C), đến năm 1991 UBND huyện C ban hành Quyết định cấp đất cho bà L3. Năm 2003 bà L3 chuyển nhượng đất này cho ông CN và thửa đất được cấp giấy CNQSD đất số X245812 ngày 12/1/2004 mang tên hộ ông Nguyễn Ngọc C. Theo kết quả xác minh của Tòa án cấp sơ thẩm thì từ khi chuyển nhượng đất đến nay không phát sinh tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện gì, có sự chênh lệch về diện tích là do sai số khi đo vẽ và thửa đất này là cấp cho vợ chồng ông Nguyễn Ngọc C và bà Lê Thị N mà không cấp cho thành viên nào khác. Như vậy có căn cứ khẳng định thửa đất này là tài sản của ông C, bà N và ông C, bà N đã ký hợp đồng thế chấp số 03/2014/520464/HĐBĐ ngày 29/5/2014 thể chấp thửa đất này với Ngân hàng B1 để bảo đảm cho các khoản vay theo các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp có xác nhận của UBND phường N xác nhận chủ sử dụng thửa đất này là ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị N và được công chứng ngày 29/5/2014 tại Văn phòng công chứng Thành Sen tỉnh H, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất này được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thị xã H ngày 03/6/2014. Như vậy hợp đồng thế chấp này có hiệu lực theo đúng quy định tại Điều 401 Bộ luật dân sự nên các bên ký kết trong hợp đồng phát sinh quyền và nghĩa vụ phải thực hiện.

      Đối với hợp đồng thế chấp bằng bất động sản của bên thứ ba số 04/2014/520464/HĐBĐ ngày 29/5/2014 giữa bên thế chấp là ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị N, bên được bảo đảm là Công ty X và bên nhận thế chấp là Ngân hàng B1, tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số AM095002 cấp ngày 17/4/2008 thửa đất số 256 tờ bản đồ 05 diện tích 212m² và tài sản gắn liền với đất là 01 ngôi nhà 02 tầng mang tên ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị N tại khối A, phường N (nay là TDP C, phường N), thị xã H. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Toà án cấp sơ thẩm thì diện đích đất thực tế hiện tại là 223,5m², chênh lệch 11,5m² so với giấy chứng nhận QSD đất. Tuy nhiên theo kết quả xác minh thì diện tích đất chênh lệch này là do sai số khi đo vẽ, thửa đất không có tranh chấp gì về ranh giới và thuộc quyền sử dụng của ông C, bà N. Do đó việc ông C, bà N ký kết hợp đồng thế chấp tài sản này cho Ngân hàng B1 là hợp pháp. Hợp đồng thế chấp được hai bên ký kết hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và hợp đồng được công chứng ngày 29/5/2014 tại Văn phòng C, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thị xã H ngày 03/6/2014. Như vậy hợp đồng thế chấp này có hiệu lực thi hành theo quy định tại Điều 401 Bộ luật dân sự theo đó phát sinh quyền và nghĩa vụ phải thực hiện của các bên ký kết hợp đồng.

      Đối với 02 hợp đồng thế chấp tài sản gồm hợp đồng số 02/2014/520464/HĐBĐ ngày 29/5/2014 và hợp đồng số 03/2015/520464 ngày 27/8/2015, giữa bên thế chấp là Công ty X đã thế chấp cho Ngân hàng B1 các tài sản gồm: 01 Máy đào bánh xích Caterpillar số seri 240B; 01 máy xúc Caterpillar số seri 320B; 01 máy ủi bánh xích hiệu Caterpillar số seri D3C. 01 máy đào bánh xích hiệu Komatsu PC 400LC-6LM. Hai hợp đồng này sau khi ký kết đều được công chứng tại văn phòng công chứng Thành Sen tỉnh H với nội dung các bên đều có năng lực hành vi dân sự, tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp đồng và đồng ý toàn bộ nội dung trong hợp đồng. Tài sản thế chấp đều được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Đà nẵng vào ngày 09/6/2014 và 28/87/2015 do đó 02 hợp đồng thế chấp này có hiệu lực pháp luật và phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên phải thực hiện theo nội dung đã ký kết.

      Như vậy, hợp đồng thế chấp được ký kết giữa Công ty X với Ngân hàng B1, hợp đồng thế chấp ký kết giữa ông Nguyễn Ngọc CLê Thị NNgân hàng B1 nêu trên đều được lập thành văn bản, đều có công chứng, các tài sản thế chấp đều đã được đăng ký giao dịch bảo đúng các trình tự, thủ tục và có hiệu lực theo quy định tại Điều 401 Bộ luật dân sự.

      Quá trình giải quyết vụ án, đối với 04 chiếc xe mà Công ty X đã thế chấp để bảo đảm cho các khoản vay gồm: 01 Máy đào bánh xích Caterpillar số seri 240B; 01 máy xúc Caterpillar số seri 320B; 01 máy ủi bánh xích hiệu Caterpillar số seri D3C. 01 máy đào bánh xích hiệu Komatsu PC 400LC-6LM, thì Ngân hàng B1 đã có đơn không yêu cầu xem xét thẩm định và đề nghị Tòa án giải quyết tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp đã ký kết. Căn cứ vào 02 hợp đồng thế chấp tài sản gồm hợp đồng số 02/2014/520464/HĐBĐ ngà y 29/5/2014 và hợp đồng số 03/2015/520464 ngày 27/8/2015 thì bên nhận thế chấp là Ngân hàng B1 và bên thế chấp là chủ sở hữu tài sản hợp pháp Công ty X phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 295 Bộ luật dân sự. Do đó, yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là 01 Máy đào bánh xích Caterpillar số seri 240B; 01 máy xúc Caterpillar số seri 320B; 01 máy ủi bánh xích hiệu Caterpillar số seri D3C. 01 máy đào bánh xích hiệu Komatsu PC 400LC-6LM để thanh toán khoản nợ cho Công ty X theo yêu cầu của Ngân hàng B1 là hoàn toàn có căn cứ.

      Đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với QSD đất của thửa đất số 256 tờ bản đồ 05 tại khối A, phường N (nay là TDP C, phường N), thị xã H thì hiện bà N, ông C đang cho chị Trần Thị B thuê mặt bằng sân vườn (trừ ngôi nhà 02 tầng không được sử dụng) để kinh doanh trong thời hạn 10 năm. Quá trình giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm chị B đã nộp các tài liệu hợp đồng cho thuê mặt bằng kinh doanh ngày 25/4/2015, giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, các giấy nhận tiền cho thuê nhà mà bà N đã nhận từ chị B, văn bản ghi ý kiến về các chi phí sửa chữa, tôn tạo cũng như yêu cầu ông CN trả lại tiền thuê mặt bằng kinh doanh mà chị đã trả đến ngày 25/4/2026 cũng như số tiền chị bỏ ra sửa chữa là 236.500.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã thông báo cho chị B nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí đối với yêu cầu của mình nhưng sau khi nhận được thông báo, hết thời hạn chị B không đến nộp tạm ứng án phí do đó Tòa án cấp sơ thẩm không thụ lý yêu cầu của chị để xem xét trong vụ án này là có căn cứ.

      Ngoài ra trên thửa đất này ông C, bà N còn cho vợ chồng anh Võ Văn L4 và chị Tôn Thị T2 thuê từ ngày 06/11/2019 và đến ngày 06/11/2024 thì hết hạn thuê. Anh L4 đã hoàn thành tiền thuê nhà vào tháng 6/2020. Theo lời khai của anh L4 phản ánh quá trình thuê nhà anh L4 có sửa chữa chi phí hết khoảng 3 triệu đồng. Anh L4 cũng đề nghị buộc bà N phải thanh toán lại cho anh tiền thuê nhà những tháng còn lại và chi phí anh đã sửa chữa là 3 triệu đồng, đối với tài sản của anh L4, chị T2 có tại nhà bà N nơi anh L4, chị T2 đang thuê thì Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh nhưng chị T2 (vợ anh L4) cho biết vợ chồng anh L4, chị T2 đã chuyển sang chỗ ở mới, và không có tài sản gì tại nhà bà N. Đối với yêu cầu của anh L4 về số tiền thuê nhà và chi phí anh L4 bỏ ra để sửa chữa thì Tòa án đã thông báo cho anh L4 nộp tạm ứng án phí để thụ lý yêu cầu độc lập nhưng hết thời hạn anh L4 không thực hiện, do đó yêu cầu của anh L4 không được xem xét trong vụ án này. Nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

      Việc ông Nguyễn Ngọc C và bà Lê Thị N cho chị Trần Thị B thuê mặt bằng sân vườn từ ngày 25/4/2015 và cho vợ chồng anh L4 chị T2 thuê nhà từ ngày 06/11/2019 tại thửa đất số 256 tờ bản đồ 05 ở khối A, phường N (nay là TDP C, phường N), thị xã H khi quyền sử dụng đất này đang thế chấp tại Ngân hàng B1 là đã vi phạm quy định tại điểm f khoản 2 Điều 7 của Hợp đồng thế chấp số 03, 04/2014/520464/HĐBĐ ngày 29/5/2014, là vi phạm nghĩa vụ của bên thế chấp. Theo đó nếu Công ty X vi phạm nghĩa vụ trả nợ mà Ngân hàng B1 yêu cầu xử lý tài sản thế chấp thì buộc vợ chồng chị Trần Thị B, anh Trần Văn H5; vợ chồng anh Võ Văn L4, chị Tôn Thị T2 phải dời dọn toàn bộ tài sản và có trách nhiệm bàn giao toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là 01 ngôi nhà 02 tầng mang tên ông Nguyễn Ngọc CLê Thị N tại khối A, phường N (nay là TDP C, phường N), thị xã H để xử lý tài sản thế chấp.

      Từ những phân tích trên, xét thấy không đủ căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc C và bà Lê Thị N và quan điểm của người đại diện của ông C, bà N tại phiên tòa phúc thẩm về việc đề nghị hủy bản án sơ thẩm.

    3. [2.2]. Xét kháng cáo của anh Nguyễn Ngọc C1 và anh Nguyễn Lê D, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
    4. Thửa đất số 1154, tờ bản đồ số 04 và tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà 02 tầng mang tên hộ ông Nguyễn Ngọc C, nay đã cấp đổi sang giấy CNQSD đất số CD 251449 ngày 16/2/2016, thuộc thửa đất số 64, tờ bản đồ số 38 mang tên bà Lê Thị N, ông Nguyễn Ngọc C và thửa đất số 1155, tờ bản đồ số 04 nay đã cấp đổi sang giấy CNQSD đất số BY362592 ngày 28/9/2015 thuộc thửa đất số 63, tờ bản đồ số 38 mang tên hộ bà Lê Thị N.

      Hai thửa đất này nằm liền kề nhau và hiện tại trên thửa đất này ngoài ông C, bà N sinh sống thì có anh Nguyễn Ngọc C1, Nguyễn Lê D, chị Nguyễn Thị Q, Lê Thị Đ đang cùng sinh sống. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định những người này tham gia vụ án với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Anh Nguyễn Ngọc C1Nguyễn Lê D đã có đơn đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp đã ký kết giữa ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị NNgân hàng B1 đối với hai thửa đất số 1154 và 1155 là vô hiệu vì hai thửa đất này là của hộ gia đình gồm cả bà Tôn Thị L3, và anh C1, anh D. Khi ông CN ký kết các hợp đồng thế chấp 02 thửa đất này tại Ngân hàng B1 thì anh C1, anh D hoàn toàn không biết đồng thời anh C1, anh D tại cấp sơ thẩm đã đề nghị Tòa án làm rõ tính hợp pháp của việc cấp đổi đối với 02 thửa đất này. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đây là yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nên đã thụ lý để giải quyết trong vụ án này là có căn cứ.

      Như đã phân tích hợp đồng thế chấp được ký kết giữa ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị NNgân hàng B1 đối với 02 thửa đất số 1154 và 1155 là 02 hợp đồng thế chấp bằng bất động sản của bên thứ ba số 03, 04/2014/520464/HĐBĐ ngà y 29/5/2014. Hai hợp đồng thế chấp này đảm bảo đúng quy định của pháp luật và có hiệu lực thi hành nên đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên sau khi được ký kết. Thời điểm cấp giấy CNQSD đối với 02 thửa đất số 1154 và 1155 là thời điểm năm 2003 và năm 2004, theo kết quả xác minh tại Công an thị xã H thì năm 2003 không có hộ bà Lê Thị N, năm 2004 không có hộ ông Nguyễn Ngọc C, từ năm 1994 đến năm 2005 chỉ có hộ bà Tôn Thị L3 theo đó bà Lê Thị N, anh Nguyễn Ngọc C1, anh Nguyễn Lê D thuộc hộ bà Tôn Thị L3 mà không có ông Nguyễn Ngọc C. Mặt khác năm 2003 và năm 2004 thì anh Nguyễn Ngọc C1 mới 13 tuổi, anh Nguyễn Lê D mới 12 tuổi, đang còn là học sinh và sống hoàn toàn phụ thuộc vào bố mẹ. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm anh D khai có công sức trong việc bảo vệ tài sản, trồng cây, sửa sang nhà cửa và cung cấp cho Tòa án cấp sơ thẩm đơn trình bày của ông Tôn H3, bà Trần Thị H4, ông Nguyễn Đình H2 đều trình bày việc bà L3 chuyển nhượng thửa đất số 1154 là chuyển nhượng cho cả gia đình ông C, bà N, anh C1, anh D và bà L3 có góp tiền cùng với bà N, ông C nhận chuyển quyền sử dụng thửa đất số 1155 của ông Đoàn Ngọc T3 mục đích là góp cùng mua để cho con và cháu nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã nhiều lần yêu cầu họ cung cấp tài liệu chứng minh cho những nội dung mà họ đã trình bày nhưng họ không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì nên Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết là hoàn toàn đúng quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Theo UBND thị xã HUBND phường N thì sau khi làm thủ tục chuyển nhượng đối với 02 thửa đất này (năm 2003, 2004) cho đến nay thì ông C, bà N cũng như anh C1, anh D không có khiếu nại, khiếu kiện gì. Do đó yêu cầu độc lập của anh Nguyễn Ngọc C1Nguyễn Lê D về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ký kết giữa ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị NNgân hàng B1 đối với hai thửa đất số 1154 và 1155 tại TDP F, phường N vô hiệu là hoàn toàn không có cơ sở, không được Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận là có căn cứ.

      Từ những phân tích trên, xét thấy không đủ căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo của anh Nguyễn Ngọc C1 và anh Nguyễn Lê D

    5. [2.3] Về án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm: Yêu cầu của Ngân hàng TMCP Đ1 được chấp nhận nên Công ty TNHH X phải nộp toàn bộ tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ1 số tiền tạm hứng án phí sơ thẩm đã nộp.
    6. Yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc C1 và anh Nguyễn Lê D không được Toà án chấp nhận nên phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

    7. [2.4]. Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Ông Nguyễn Ngọc C và bà Lê Thị N; anh Nguyễn Ngọc C1 và anh Nguyễn Lê D phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị N, anh Nguyễn Ngọc C1, anh Nguyễn Lê D. Giữ nguyên quyết định của bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2024/KDTM-ST ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 2 Điều 227, Điều 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 117, 299, 317, 318, 319, 335, 336, 357, 401, 463, 466, 468, 500, 501, 502, 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 3, điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 1 Điều 25, khoản 2, 6 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ1:
  2. Buộc Công ty TNHH X phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ1 số tiền nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn tính đến ngày xét xử (ngày 22/01/2024) là 21.042.932.019 đồng. (Bằng chữ: Hai mươi mốt tỷ, không trăm bốn mươi hai triệu, chín trăm ba mươi hai nghìn, không trăm mười chín đồng). Trong đó, dư nợ gốc 10.436.032.000 đồng, nợ lãi trong hạn 7.275.226.002 đồng, nợ lãi quá hạn 3.331.674.017 đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ngày 22/01/2024 Công ty TNHH X còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thoả thuận trong các hợp đồng tín dụng số 01/2016/520464/HĐTD, ngày 24/02/2016 ; Hợp đồng tín dụng số 02/2016/520464/HĐTD, ngày 31/5/2016; Hợp đồng tín dụng số 03/2016/520464/HĐTD, ngày 29/6/2016; Hợp đồng tín dụng số 04/2016/520464/HĐTD, ngày 31/08/2016; Hợp đồng tín dụng số 05/2016/520464/HĐTD, ngày 28/09/2016; Hợp đồng tín dụng số 06/2016/520464/HĐTD, ngày 31/10/2016; Hợp đồng tín dụng số 06/2016/520464/HĐTD, ngày 26/12/2016 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

    Trường hợp Công ty TNHH X không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ thì Ngân hàng TMCP Đ1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp của Công ty X và bên thứ ba để thu hồi nợ gồm các tài sản:

    • + Quyền sử dụng đất của thửa đất số 1155, tờ bản đồ 04 ở tại khối B, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, đã được UBND thị xã H cấp GCNQSD đất số X245712, ngày 24/12/2003 mang tên hộ bà Lê Thị N (Hiện nay thuộc thửa đất số 63, tờ bản đồ 38 ở tổ dân phố F, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, được thể hiện trong GCNQSD đất cấp đổi số BY 362592, ngày 28/9/2015 mang tên hộ bà Lê Thị N), theo Hợp đồng đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02/10/HĐ ngày 22/06/2010 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Đ1 và vợ chồng ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị N.
    • + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà 02 tầng của thửa đất số 1154, tờ bản đồ 04 ở tại khối B, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, đã được UBND thị xã H cấp GCNQSD đất số X245812, ngày 12/01/2004 mang tên hộ ông Nguyễn Ngọc C (Hiện nay thuộc thửa đất số thửa 64, tờ bản đồ 38 ở tổ dân phố F, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, được thể hiện trong GCNQSD đất đã được cấp đổi số CD 251449, ngày 16/02/2016 mang tên bà Lê Thị N và ông Nguyễn Ngọc C), theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 03/2014/520464/HĐBĐ ngày 29/5/2014 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Đ1 và vợ chồng ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị N.
    • + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà 02 tầng thuộc thửa đất số 256, tờ bản đồ 05 ở khối A (Nay là tổ dân phố C) phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, đã được UBND thị xã H cấp GCNQSD đất số AM 095002, ngày 17/4/2008 mang tên ông Nguyễn Ngọc CLê Thị N theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 04/2014/520464/HĐBĐ ngày 29/5/2014 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Đ1 và vợ chồng ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị N.
    • + 01 máy đào bánh xích Caterpillar số seri 240B, số khung: 9PF00481, gầu: 0,9m3, nước sx: Nhật Bản; 01 máy xúc Caterpillar, số seri: 320B, số khung: 02967, số máy: 278261B; 01 máy ủi bánh xích hiệu Caterpillar số seri D3C, số khung: 5CJ01262, nước SX: Nhật Bản, theo hợp đồng thế chấp số 02/2014/520464/HĐBĐ ngày 29/5/2014.
    • + 01 máy đào bánh xích hiệu KOMATSU PC 400LC-6LM, số khung: 0A85058; Số động cơ: 6D125-210046 theo hợp đồng thế chấp số 03/2015/520464/HĐBĐ ngày 27/8/2015.
  3. Bác yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc C1, anh Nguyễn Lê D về việc tuyên bố Hợp đồng thế chấp số 02/10/HĐ ngày 22/6/2010 và Hợp đồng thế chấp số 03/2014/520464/HĐBĐ ngày 29/5/2014 ký giữa ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị N với Ngân hàng TMCP Đ1 là vô hiệu.
  4. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị N; Vợ chồng anh Nguyễn Ngọc C1, chị Nguyễn Thị Q; Vợ chồng anh Nguyễn Lê D, chị Lê Thị Đ phải di dời toàn bộ tài sản cá nhân và có trách nhiệm bàn giao toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà 02 tầng có tại thửa đất số 1154, tờ bản đồ 04 ở tại khối B, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh được UBND thị xã H cấp GCNQSD đất số X 245812, ngày 12/01/2004 mang tên hộ ông Nguyễn Ngọc C (Hiện nay thuộc thửa đất số thửa 64, tờ bản đồ 38 ở tổ dân phố F, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, Giấy CNQSD đất đã được cấp đổi số CD 251449, ngày 16/02/2016 mang tên bà Lê Thị N và ông Nguyễn Ngọc C) để xử lý tài sản thế chấp.
  5. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Ngọc C, bà Lê Thị N; Vợ chồng chị Trần Thị B, anh Trần Minh H1; Vợ chồng anh Võ Viết L2, chị Tôn Thị T2 phải di dời toàn bộ tài sản cá nhân và có trách nhiệm bàn giao toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là 01 ngôi nhà 02 tầng trên thửa đất số 256, tờ bản đồ 05 ở khối A (Nay là Tổ dân phố C) phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, được UBND thị xã H cấp GCNQSD đất số AM 095002, ngày 17/4/2008 mang tên ông Nguyễn Ngọc CLê Thị N để xử lý tài sản thế chấp.

    Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án; yêu cầu người phải thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  6. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
  7. Buộc Công ty TNHH X phải nộp 129.042.932 đồng (Một trăm hai mươi chín triệu không trăm bốn mươi hai nghìn, chín trăm ba mươi hai đồng) án phí kinh doanh thương mại có giá ngạch.

    Buộc anh Nguyễn Ngọc C1, anh Nguyễn Lê D phải nộp 3.000.000đ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh C1 và anh D đã nộp 3.000.000đ theo biên lai số 0004389 ngày 13/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hồng Lĩnh.

    Trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ1 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004360, ngày 17/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự Thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

  8. Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:
  9. Buộc ông Nguyễn Ngọc C và bà Lê Thị Ngọc c 2.000.000 án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông C và bà N đã nộp 2.000.000 đồng theo biên lai số 0004403 ngày 05/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hồng Lĩnh.

    Buộc anh Nguyễn Ngọc C1 và anh Nguyễn Lê D chịu 2.000.000 án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh C1 và anh D đã nộp 2.000.000 đồng theo biên lai số 0004404 ngày 05/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hồng Lĩnh.

  10. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lục pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - TAND thị xã Hồng Lĩnh;
  • - VKSND thị xã Hồng Lĩnh;
  • - Chi cục THADS thị xã Hồng Lĩnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS VA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Đức Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/KDTM-PT ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 15/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam- Công ty TNHH xây dựng và thương mại Việt Dũng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger