|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2024/DS-ST
Ngày 17-8-2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Hữu Hường
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Tâm
Bà Phạm Thị Khanh
Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2024/TLST- DS ngày 24 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2024/QĐST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q; địa chỉ: Tầng A (tầng trệt) và tầng 2, tòa nhà S A, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
- Ông Phạm Tiến L, Chức vụ: Cán bộ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q; địa chỉ: Tầng D, tòa nhà C, số D T, phường T, Quận Đ, Thành phố Hà Nội (Theo Giấy ủy quyền ngày 28-02-2024 của Giám đốc thu hồi nợ và xử lý nợ V-Khối NHBL); có mặt.
- Ông Tô Văn L1, Chức vụ: Cán bộ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q; địa chỉ: Tầng D, tòa nhà C, số D T, phường T, Quận Đ, Thành phố Hà Nội (Theo Giấy ủy quyền ngày 28-02-2024 của Giám đốc thu hồi nợ và xử lý nợ V-Khối NHBL); có mặt.
- Bị đơn: Anh Ngô Ngọc T; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 28-02-2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn thông qua người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 13-5-2021, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q, Chi nhánh H, Phòng G (sau đây viết tắt là Ngân hàng Q) và ông Ngô Ngọc T đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 3979443.21 để vay vốn của Ngân hàng Q. Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng Q đã giải ngân cho ông T số tiền 567.000.000 đồng theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm giấy nhận nợ ngày 13-5-2021; thời hạn cho vay 96 tháng kể từ ngày tiếp theo sau của ngày giải ngân đầu tiên; mục đích sử dụng vốn vay: Thanh toán mua xe ô tô phục vụ mục đích tiêu dùng. Tài sản bảo đảm cho khoản vay là 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda, số loại Mazda 3, Biển kiểm soát số 15A-713.60 theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 3979443.21 ngày 13-5-2021. Quá trình thực hiện hợp đồng, bên vay đã vi phạm nghĩa vụ, không trả tiền nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng Q theo như thỏa thuận đã cam kết tại hợp đồng tín dụng cho nên, Ngân hàng Q đã chuyển khoản vay sang nợ quá hạn. Mặc dù Ngân hàng Q đã tạo điều kiện để khách hàng vay có kế hoạch trả nợ, tất toán khoản vay nhưng bên vay vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Q. Do vậy, Ngân hàng Q khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Ngô Ngọc T phải trả cho Ngân hàng Q toàn bộ số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng (tính đến ngày 28-02-2024) là 427.210.470 đồng; trong đó: Nợ gốc 400.132.000 đồng, nợ lãi trong hạn 1.903.774 đồng, nợ lãi quá hạn 25.174.696 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng Q yêu cầu ông Ngô Ngọc T phải thanh toán cho Ngân hàng Q số tiền còn nợ (tính đến ngày 17-8-2024) là 471.542.738 đồng; trong đó: Nợ gốc 400.132.000 đồng, nợ lãi trong hạn 26.438.823 đồng, nợ lãi quá hạn 44.971.915 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 18-8-2024 cho đến khi trả hết nợ theo lãi xuất quá hạn của hợp đồng đã ký kết. Ngân hàng Q không yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là 01 ô tô nhãn hiệu Mazda, số loại Mazda 3, Biển kiểm soát số 15A-713.60, số khung RN2B14AA6MM059130, số máy P520726160 theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 3979443.21 ngày 13-5-2021.
Bị đơn: Ông Ngô Ngọc T vắng mặt tại phiên toà. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn cũng như đã nhiều lần triệu tập bị đơn đến Toà án để làm việc, nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do và không giao nộp văn bản trình bày quan điểm, ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho Toà án.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Thẩm phán đã xác định đúng về thẩm quyền giải quyết vụ án; về quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết; về tư cách tham gia tố tụng; về việc thu thập chứng cứ; về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát; việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự và khi có đương sự vắng mặt tại phiên tòa; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự tại phiên tòa đã được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 117, 138, 139, 317, 318, 319, 463, 466, 468, 562 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Q1, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Ngô Ngọc T phải trả cho Ngân hàng Q số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng là 471.542.738 đồng; bao gồm: Nợ gốc 400.132.000 đồng, nợ lãi trong hạn 26.438.823 đồng, nợ lãi quá hạn 44.971.915 đồng. Ông Ngô Ngọc T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Về việc xử lý tài sản bảo đảm: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về án phí: Ông Ngô Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả tiền nợ gốc, nợ lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với mục đích sử dụng vốn vay, thanh toán mua xe ô tô phục vụ mục đích tiêu dùng. Do đó, đây là tranh chấp dân sự. Bị đơn có địa chỉ tại Thôn A, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
- Về sự vắng mặt của đương sự. Bị đơn ông Ngô Ngọc T mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không có lý do và không có căn cứ xác định việc vắng mặt của bị đơn là do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt đối với bị đơn.
- Về nội dung vụ án:
- Về hiệu lực của hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp: Hợp đồng tín dụng số 3979443.21 ngày 13-5-2021 và Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 3979443.21 ngày 13-5-2021 giữa Ngân hàng Q với ông Ngô Ngọc T được ký kết do các bên tự nguyện, mục đích và nội dung của hợp đồng phù hợp quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự nên hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
- Về yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc của nguyên đơn: Quá trình thực hiện hợp đồng, nguyên đơn đã thực hiện đúng các thỏa thuận, đã giải ngân cho bị đơn số tiền 567.000.000đồng theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 13-5-2021. Bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn theo thỏa thuận và cam kết trong hợp đồng nên nguyên đơn đã chuyển khoản nợ của bị đơn sang nợ quá hạn. Trong khi đó, bị đơn ông Ngô Ngọc T vắng mặt tại phiên tòa và không có quan điểm, ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Theo tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp thì bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền nợ gốc theo hợp đồng tín dụng (tính đến ngày 17-8-2024) là 400.132.000 đồng.
- Về yêu cầu thanh toán tiền nợ lãi: Tại hợp đồng tín dụng lãi suất các bên thỏa thuận là 9,1 %/năm (có sự điều chỉnh theo quy định của Ngân hàng); lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Theo bản kê tính lãi do nguyên đơn giao nộp, tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17-8-2024), bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền nợ lãi trong hạn 26.438.823 đồng, nợ lãi quá hạn 44.971.915 đồng.
- Từ những phân tích và đánh giá tại mục [4], [5], xét thấy yêu cầu đòi nợ của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 3979443.21 ngày 13-5-2021 (tính đến ngày 17-8-2024) là 471.542.7388 đồng; bao gồm: Nợ gốc 400.132.000 đồng, nợ lãi trong hạn 26.438.823 đồng, nợ lãi quá hạn 44.971.915 đồng là có căn cứ, phù hợp với sự thỏa thuận của các bên tại hợp đồng tín dụng, phù hợp các điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự, các điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng nên chấp nhận.
- Về việc xử lý tài sản bảo đảm: Nguyên đơn không yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo là 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda, số loại Mazda 3, Biển kiểm soát số 15A-713.60 theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 3979443.21 ngày 13-5-2021, nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về án phí: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả đồng được Tòa án chấp nhận toàn bộ, nên theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền phải trả cho nguyên đơn được Tòa án chấp nhận là 22.861.711 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 117, Điều 138, Điều 139, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 562 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 30, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Q1; xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Buộc ông Ngô Ngọc T phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 3979443.21 ngày 13-5-2021 (tính đến ngày 17-8-2024) là 471.542.738 (B trăm bẩy mươi mốt triệu năm trăm bốn mươi hai nghìn bẩy trăm ba mươi tám) đồng; bao gồm: Nợ gốc 400.132.000 (bốn trăm triệu một trăm ba mươi hai nghìn) đồng, nợ lãi trong hạn 26.438.823 (Hai mươi sáu triệu bốn trăm ba mươi tám nghìn tám trăm hai mươi ba) đồng, nợ lãi quá hạn 44.971.915 (Bốn mươi bốn triệu chín trăm bẩy mươi mốt nghìn chín trăm mười lăm) đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí: Ngô ngọc Tuấn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 22.861.711 (Hai mươi hai triệu tám trăm sáu mươi mốt nghìn bẩy trăm mười một) đồng. Trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp 10.545.000 (Mười triệu năm trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009330 ngày 24-5-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đinh Hữu Hường |
Bản án số 15/2024/DS-ST ngày 17/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 15/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án dân sự giữa Ngân hàng VIB - Ngô Ngọc T
