Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY – TP. HÀ NỘI

Bản án số: 15/2024/DSST

Ngày 17 tháng 6 năm 2024

“V/v: Tranh chấp thừa kế tài sản“

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Quốc Huy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Huy Dương và bà Đào Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xét xử công khai, sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 90/2023/TLST-DS ngày 29 tháng 12 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-DS ngày 03/5/2024 và quyết định hoãn phiên tòa ngày 13/6/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Chu Huy H, sinh năm 1968; (Có mặt)

Địa chỉ: Số E T, phường L, thị xã S, TP .;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:Luật sư Phạm Văn H1, Công ty L1, Đoàn Luật sư T5; (Có mặt)

Địa chỉ: Số C phố T, phường Y, quận C, TP .;

- Bị đơn: Ông Chu Huy T, sinh năm 1959; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số A T, phường L, thị xã S, TP .;

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Anh Chu Huy L, sinh năm 1982; (Có mặt);

Địa chỉ: Số A T, phường L, thị xã S, TP .;

(Giấy ủy quyền công chứng số: 185/2024/GUQ ngày 01/4/2024 tại Văn phòng C, TP.)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Chu Thị V, sinh năm 1946; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số E, ngõ E đường N, phường N, thị xã S, TP .;

2. Bà Chu Thị H2, sinh năm 1948; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số I Hẻm B đường A,Tổ D,Cụm H,phường P, quận T, thành phố Hà Nội;

Đại diện theo ủy quyền của bà Chu Thị H2: Ông Chu Huy H, sinh năm 1968; (Có mặt)

Địa chỉ: Số E T, phường L, thị xã S, TP .;

(Giấy ủy quyền công chứng số: 303/ GUQ Quyển số 02/2024 TP/CC-SCC/HNGĐ ngày 01/4/2024 tại Văn phòng C, TP .)

3.Ông Chu Huy T1, sinh năm 1951; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà A phố Đ, tổ A phường T, quận L, TP .;

Đại diện theo ủy quyền của ông Chu Huy T1: Anh Chu Huy L, sinh năm 1982;

ĐKHKTT: SỐ A T, phường L, thị xã S, TP . (Giấy ủy quyền công chứng số: 1970/2024, quyển số 01/2024/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21/5/2024 tại Văn phòng Cl)

4. Bà Chu Thị T2, sinh năm 1961; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số A T, phường L, thị xã S, TP .;

5. Bà Chu Thị Đ, sinh năm 1963; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số B Tổ dân phố H Hồ N, phường P, thị xã S, TP .;

6. Bà Kiều Thị D, sinh năm 1970 (Có mặt)

Địa chỉ: Số E T, phường L, thị xã S, TP .

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Chu Huy H trình bày:

Bố ông là cụ Chu Ngọc X (Sinh năm 1924 – Mất năm 2015), cụ X có 02 người vợ là:

1. Cụ Nguyễn Thị N (Sinh năm 1926 – Mất năm 1954), cụ X và cụ N sinh được 03 người con là:

  • 1.1 Bà Chu Thị V, sinh năm: 1946;
  • 1.2 Chị Chu Thị H2, sinh năm 1948;
  • 1.3 Ông Chu Huy T1, sinh năm 1951;

2. Cụ Trần Thị H3 (Sinh năm 1931- Mất năm 2017), kết hôn năm 1958. Cụ X và cụ H3 sinh được 05 người con là:

  • 2.1 Ông Chu Huy T, sinh năm 1959;
  • 2.2 Bà Chu Thị T2, sinh năm 1961;
  • 2.3 Bà Chu Thị Đ, sinh năm 1963;
  • 2.4. Ông Chu Huy H, sinh năm 1968;
  • 2.5 Ông Chu Bỉnh K, sinh năm 1971, đã chết năm 1984, chưa có vợ con gì.

Ngoài ra các cụ không còn người con nuôi hay con đẻ nào khác. Khi các cụ qua đời không để lại nghĩa vụ tài sản gì.Việc mai táng các cụ được qua đời thực hiện theo phong tục địa phương, anh em các ông tự nguyện thực hiện. Cụ X và cụ H3 không để lại di chúc.

Cụ X và cụ H3 qua đời để lại di sản thừa kế là thửa đất số 36, tờ bản đồ số 01, diện tích 82,2 m² đã được UBND,thị xã S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ông Chu Ngọc X và Bà Trần Thị H3 ngày 01/12/2003 địa chỉ tại: H T, phường L, thị xã S, thành phố Hà Nội (Địa chỉ hiện nay là: 5 T, phường L, thị xã S, thành phố Hà Nội). Toàn bộ quyền sử dụng đất này có giá trị khoảng 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng.

Khi bố mẹ ông còn sống đã cho ông Chu Huy H ½ quyền sử dụng đất nói trên và vào năm 2007 ông đã xây dựng nhà 3 tầng kiên cố lên phần đất của bố mẹ cho, tuy nhiên thời điểm đấy ông vẫn chưa làm thủ tục tách thửa để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần diện tích còn lại bố mẹ ông có một căn nhà cấp bốn và bố mẹ ông vẫn ở sinh sống ở trên đấy.

Sau đấy, bố mẹ và anh em các ông có họp gia đình để xác nhận bố mẹ đã cho ông ½ quyền sử dụng đất nói trên; Đồng thời cũng thống nhất việc sau khi bố mẹ qua đời sẽ cho anh ông là ông Chu Huy T phần quyền sử dụng đất còn lại (Tương đương với ½ quyền sử dụng đất) để anh em ông chăm sóc, phụng dưỡng bố mẹ lúc già yếu. Nhưng sau khi bố ông qua đời vào năm 2015, mẹ ông là cụ Trần Thị H3 thường xuyên đau ốm, lúc này mẹ cần sự quan tâm, chăm sóc của các con thì anh ông là Chu Huy T lại bỏ mặc, không quan tâm, chăm sóc mẹ, không làm tròn đạo hiếu của một người con. Vậy nên lúc đấy mẹ ông quyết định ½ phần quyền sử dụng đất mà trước đây cả nhà thống nhất cho anh T sẽ không cho ông T nữa mà đề lại dùng làm di sản thờ cúng để anh em, con cháu các ông có chỗ đi về, hương khói cho ông bà, tổ tiên. Đến năm 2017 thì mẹ ông qua đời. Sau khi bố mẹ ông qua đời, ông đã nhiều lần nói chuyện với ông Chu Huy T để đề nghị thực hiện di nguyện của bố mẹ để lại, nhưng ông T phớt lờ và không đồng ý.

Vậy ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu sau đây: Ông đề nghị Toà án chia di sản thừa kế là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 36, tờ bản đồ số 01, diện tích 82,2 m² địa chỉ tại: H T, phường L, thị xã S, thành phố Hà Nội (Địa chỉ hiện nay là: 5 T, phường L, thị xã S, thành phố Hà Nội) và ngôi nhà cấp bốn nêu trên theo quy định pháp luật. Ông đề nghị Q Toà án chia cho ông được quyền sử dụng toàn bộ quyền sử dụng đất, sở hữu ngôi nhà cấp bốn trên đất mà bố mẹ tôi để lại. Ông sẽ thanh toán cho các đồng thừa kế khác số tiền tương đương với phần di sản mà họ được hưởng nếu họ có yêu cầu.

Trường hợp các người thừa kế khác cho ông phần di sản mà họ được hưởng thì ông xin nhận.Trên đây là toàn bộ nội dung vụ việc và yêu cầu của ông, kính mong Quý Tòa xem xét giải quyết.

Về kết quả xem xét thẩm định chỗ định giá tài sản ông H nhất trí và không có ý kiến gì, gia đình ông cũng không có tranh chấp về ranh giới với các hộ liền kề đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Bị đơn là ông Chu Huy T và đại diện theo ủy quyền của bị đơn là anh Chu Huy L trình bày:

Về diện và hàng thừa kế, năm sinh năm mất của cụ Chu Ngọc X và cụ Trần Thị H3 đúng như ông H đã trình bày.

Cụ X và cụ H3 không còn con nuôi, con đẻ nào khác, bố mẹ các cụ đều đã mất từ lâu. Các cụ cũng không để lại nghĩa vụ về tài sản. Ông T cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết về mai táng.

Khi chết cụ X và cụ H3 không để lại di chúc.

Cụ X và cụ H3 qua đời để lại di sản thừa kế là thửa đất số 36, tờ bản đồ số 01, diện tích 82,2m² địa chỉ tại: H T, phường L, thị xã S, thành phố Hà Nội (Địa chỉ hiện nay là: 5 T, phường L, thị xã S, thành phố Hà Nội.

Về việc phân chia di sản thừa kế: Ông T đề nghị Tòa án phân chia cho ông T và ông H mỗi người ½ diện tích thửa đất trên, trong đó ông H tại vị trí ông đã xây nhà, còn ông T tại vị trí ngôi nhà cấp 4 mà gia đình ông T đã xây dựng.

Trường hợp Tòa án phân chia theo quy định của pháp luật thì đề nghị Tòa án chia cho ông T ½ diện tích thửa đất tại vị trí ngôi nhà cấp 4. Ông T đồng ý thanh toán cho các đồng thừa kế khác phần giá trị nếu các đồng thừa kế khác có yêu cầu.

Về án phí: Do ông T là người cao tuổi nên đề nghị Tòa án miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Chu Thị V, bà Chu Thị Đ, Chu Thị H2, bà Chu Thị T2 thống nhất trình bày:

Về diện và hàng thừa kế, nghĩa vụ do người chết để lại, việc mai táng và nguồn gốc di sản thừa kế là thửa đất số 36, tờ bản đồ số 01, diện tích 82,2m² địa chỉ tại: H T, phường L, thị xã S, thành phố Hà Nội (Địa chỉ hiện nay là: 5 T, phường L, thị xã S, thành phố Hà Nội) và tài sản công trình trên đất, các bà thống nhất như ông H trình bày.

Khi bố mẹ các bà còn sống đã cho ông Chu Huy H ½ quyền sử dụng đất nói trên và vào năm 2007 ông H đã xây dựng nhà 3 tầng kiên cố lên phần đất của bố mẹ cho, tuy nhiên thời điểm đấy ông Chu Huy H vẫn chưa làm thủ tục tách thửa để cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất cho. Phần diện tích còn lại bố mẹ ông bà có một căn nhà cấp bốn và bố mẹ vẫn ở sinh sống ở trên đấy.

Sau đấy, bố mẹ và anh em có họp gia đình để xác nhận bố mẹ đã cho ông Chu Huy H ½ quyền sử dụng đất nói trên; Đồng thời cũng thống nhất việc sau khi bố mẹ qua đời sẽ cho anh tôi là ông Chu Huy T phần quyền sử dụng đất còn lại (Tương đương với ½ quyền sử dụng đất) để anh em các bà chăm sóc, phụng dưỡng bố mẹ lúc già yếu.

Nhưng sau khi cụ X qua đời vào năm 2015, cụ H2 thường xuyên đau ốm, lúc này mẹ cần sự quan tâm, chăm sóc của các con thì ông Chu Huy T lại bỏ mặc, không quan tâm, chăm sóc mẹ, không làm tròn đạo hiếu của một người con. Vậy nên lúc đấy cụ H2 quyết định ½ phần quyền sử dụng đất mà trước đây cả nhà thống nhất cho ông T sẽ không cho ông T nữa mà để lại dùng làm di sản thờ cúng để anh em, con cháu chúng tôi có chổ đi về, hương khói cho ông bà, tổ tiên. Đến năm 2017 thì cụ H2 qua đời.

Sau khi bố mẹ tôi qua đời, ông Chu Huy H đã nhiều lần nói chuyện với ông Chu Huy T để đề nghị thực hiện di nguyện của bố mẹ để lại, nhưng ông T phớt lờ và không đồng ý.

Các bà V, bà H2, bà T2, bà Định đề n Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất nói trên theo quy định pháp luật. Phần di sản mà các bà được hưởng, các bà xin tặng cho lại ông Chu Huy H. Các bà đề nghị toà án chia cho em trai tôi là Chu Huy H bằng quyền sử dụng đất.

Về án phí: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Chu Huy T1 trình bày:

Ngày 24/6/2012, cụ Chu Ngọc X đã tổ chức họp toàn thể gia đình công bố ý nguyện về việc phân chia tài sản là mảnh đất có diện tích 82,2m² tại nhà số H phố T, cụ thể:

  • Cho ông Chu Huy H ½ diện tích đất (hiện ông H đã xây nhà kiên cố và đang sử dụng để ở);
  • Cho ông Chu Huy T ½ diện tích đất (thời điểm đó có nhà cấp 4 cụ X và cụ H2 đang ở) việc sang tên thừa kế sẽ thực hiện sau khi cả hai cụ đã qua đời.

Bản di chúc (đồng thời là Biên bản họp gia đình) được sự nhất trí hoàn toàn có chữ ký của tất cả 07 người con đẻ và 02 người hàng xóm chứng kiến.

Do hoàn toàn tin tưởng các con sẽ thực hiện đúng cam kết nên cụ X không làm thủ tục chứng thực, công chứng bản di chúc này. Cho đến khi qua đời, cụ X không lập bản di chúc nào khác. Vì lẽ đó nên ông T1 mong mọi người tôn trọng chứng kiến của mình và thực hiện đúng nguyện vọng của người đã khuất.

Ông T1 yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia tài sản thừa kế là quyền sử dụng đất tại số H T, phường L, thị xã S, TP . thành 02 suất có diện tích bằng nhau cho 02 đương sự là ông Chu Huy T và ông Chu Huy H thụ hưởng. Trường hợp không thực hiện được như trên, ông T1 đề nghị Tòa án phân chia thừa kế theo pháp luật cho 07 người con đẻ (hàng thừa kế thứ nhất).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Kiều Thị D trình bày:

Bà Kiều Thị D có kết hôn với ông Chu Huy H, từ năm 1991, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện B, TP .. Sau khi kết hôn bà D về chung sống với ông H, cụ X và cụ H2 tại thửa đất số 36, tờ bản đồ số 01 tại địa chỉ 81 phố T, phường L, thị xã S, TP .. Năm 2007, cụ X và cụ H2 cho ông H một nửa thửa đất nên ông bà đã xây nhà 03 tầng trên diện tích khoảng 41,1m². Từ đó đên nay bà D và ông H vẫn quản lý, sử dụng phần đất có nhà 03 tầng.

Nay ông H khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, bà D không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết phần công sức của ông bà, đề nghị Tòa án khi phân chia giao cho gia đình ông H được quản lý sử dụng phần diện tích ông H đã xây nhà.

Về án phí: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tòa án cũng tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương phường L. Tại Biên bản xác minh ngày 17/4/2024 tại Ủy ban nhân dân phường L, thị xã S, TP ., đại diện chính quyền địa phương cho biết: Cụ Chu Ngọc X (sinh năm 1924, đã chết năm 2015) có vợ con gồm:

1. Cụ Nguyễn Thị N (Sinh năm 1926 – Mất năm 1954), cụ X và cụ N sinh được 03 người con là:

  • 1.1 Bà Chu Thị V, sinh năm: 1946;
  • 1.2 Chị Chu Thị H2, sinh năm 1948;
  • 1.3 Ông Chu Huy T1, sinh năm 1951;

2. Cụ Trần Thị H3 (Sinh năm 1931- Mất năm 2017), kết hôn năm 1958. Cụ X và cụ H3 sinh được 05 người con là:

  • 2.1 Ông Chu Huy T, sinh năm 1959;
  • 2.2 Bà Chu Thị T2, sinh năm 1961;
  • 2.3 Bà Chu Thị Đ, sinh năm 1963;
  • 2.4. Ông Chu Huy H, sinh năm 1968;
  • 2.5 Ông Chu Bỉnh K, sinh năm 1971, đã chết năm 1984, khi 13 tuổi.

Ngoài ra cụ X, cụ H3, cụ N không có con nuôi, con đẻ nào khác, bố mẹ các cụ đã chết từ lâu.

Về nguồn gốc thửa đất số 36, tờ bản đồ số 01, diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 82,2m² tại địa chỉ hiện tại số E phố T, phường L, thị xã S là do cụ X và cụ H3 tạo lập, mua từ năm 1963, sau đó được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hai cụ năm 2003.

Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ thửa đất và định giá tài sản. Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và Biên bản định giá tài sản ngày 17/4/2024 thể hiện:

Thửa đất số 36, tờ bản đồ số 01 diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 82,2m² đo đạc thực tế là 88,3m² địa chỉ hiện tại; số E T, phường L, thị xã S, TP .; đất đã được cấp GCNQSD đất, loại đất ở đô thị có giá trị: 680.616.000 đồng, tương đương 8.280.000 đồng/m²

Về tài sản công trình trên đất:

  • 01 Nhà 03 tầng bê tông cốt thép, mái lợp tôn, tường 20 xây gạch chỉ, nền lát gạch men, xây dựng năm 2007, còn 60% giá trị sử dụng, trị giá: 455.938.740 đồng;
  • 01 nhà 01 tầng, mái lợp tôn, khung sắt tường xây 20, nền lát gạch men trị giá: 53.841.000 đồng, tương đương 1.310.000 đồng/m²;

Vậy tổng giá trị đất và tài sản trên đất là 1.190.395.700 đồng (Một tỷ một trăm chín mươi triệu ba trăm chín mươi lăm nghìn bảy trăm đồng).

Tòa án đã tiến hành nhiều lần hòa giải nhưng do các đương sự không thỏa thuận được việc phân chia di sản thừa kế để giải quyết toàn bộ nội dung vụ án nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

* Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây phát biểu:

- Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, xác định đúng tư cách tố tụng của các đương sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của ông Chu Huy H.

2.Xác nhận di sản thừa kế của cụ Chu Ngọc X và cụ Trần Thị H3 là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 36, tờ bản đồ số 01, diện tích 82,2m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích đo đạc thực tế là 88,3m² địa chỉ tại: H T, phường L, thị xã S, thành phố Hà Nội (Địa chỉ hiện nay là: 5 T, phường L, thị xã S, thành phố Hà Nội), và 01 nhà 01 tầng, mái lợp tôn, khung sắt tường xây 20, nền lát gạch men.

Tổng giá trị di sản là 786.013.000 đồng (Bảy trăm tám mươi sáu triệu không trăm mười ba nghìn đồng).

Giao cho ông Chu Huy H được tiếp tục quản lý sử dụng quyền sử dụng tại thửa đất thửa đất số 36, tờ bản đồ số 01, diện tích 88,3m² địa chỉ tại số E phố T, phường L, thị xã S, TP .„trên đất có 01 nhà 03 tầng diện tích B3=39,5m² và 01 nhà cấp 4,mái lợp tôn,khung sắt tường xây 20, nền lát gạch men, diện tích 41,9m²,được giới hạn bởi các điểm tư 1,2,3,4,5,6,7,1

Ông Chu Huy H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Chu Huy T số tiền 159.658.890 (Một trăm năm mươi chín triệu sáu trăm năm mươi tám nghìn tám trăm chín mươi đồng). thanh toán cho ông Chu Huy T1 số tiền 49.125.812 (Bốn mươi chín triệu một trăm hai mươi lăm nghìn tám trăm mười hai) đồng;

Về án phí: Ông Chu Huy T và ông Chu Huy T1 là người cao tuổi được miễn toàn bộ tiền tạm ứng án phí. Các đương sự khác phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Tòa án.Giao cho ông Chu Huy H được tiếp tục quản lý sử dụng quyền sử dụng tại thửa đất thửa đất số 36, tờ bản đồ số 01, diện tích đo thực tế là 88,3m2 địa chỉ tại số E phố T, phường L, thị xã S, TP trên đất có 01 nhà 03 tầng và 01 nhà cấp 4,mái lợp tôn,khung sắt tường xây 20, nền lát gạch men. Ông Chu Huy H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Chu Huy T và cho ông Chu Huy T1 số tiền theo quy định của pháp luật;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở trình bày của các bên đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ông Chu Huy H đề nghị Tòa án chia thừa kế di sản của cụ Chu Ngọc X và cụ Trần Thị H3,Toà án xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo khoản 5 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Di sản thừa kế là bất động sản nằm trên địa bàn phường L, thị xã S, TP . nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.Về thời hiệu khởi kiện: Cụ Chu Ngọc X chết ngày 23/3/2015, cụ Trần Thị H3 chết ngày 01/02/2017, căn cứ khoản 1 Điều 611 BLDS 2015 thì thời điểm mở thừa kế với cụ X là năm 2015, với cụ H3 là năm 2017. Ông Chu Huy H nộp Đơn khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế ngày 20/07/2023 nên yêu cầu khởi kiện của ông H vẫn trong thời hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015.Ngoài ra trong quá trình giải quyết vụ án, các hành vi, quyết định tiến hành tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; Các đương sự không khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định tiến hành tố tụng của người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng là đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của các đương sự:

[2.1] Về diện và hàng thừa kế:

Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự thống nhất trình bày cụ Chu Ngọc X (sinh năm 1924, đã chết năm 2015) có vợ con gồm:

1. Cụ Nguyễn Thị N (Sinh năm 1926, đã chết năm 1954), cụ X và cụ N sinh được 03 người con là:

  • 1.1 Bà Chu Thị V, sinh năm: 1946;
  • 1.2 Chị Chu Thị H2, sinh năm 1948;
  • 1.3 Ông Chu Huy T1, sinh năm 1951;

2. Cụ Trần Thị H3 (Sinh năm 1931, đã chết năm 2017), kết hôn năm 1958. Cụ X và cụ H3 sinh được 05 người con là:

  • 2.1 Ông Chu Huy T, sinh năm 1959;
  • 2.2 Bà Chu Thị T2, sinh năm 1961;
  • 2.3 Bà Chu Thị Đ, sinh năm 1963;
  • 2.4. Ông Chu Huy H, sinh năm 1968;
  • 2.5 Ông Chu Bỉnh K, sinh năm 1971, đã chết năm 1984, khi 13 tuổi.

Ngoài ra cụ X, cụ H3 không còn con đẻ, con nuôi nào khác, cả bố và mẹ cụ X và cụ H3 đều đã chết từ rất lâu. Do vậy HĐXX xác định:Tại thời điểm mở thừa kế của cụ Chu Ngọc X năm 2015, hàng thừa kế thứ nhất của cụ Chu Ngọc X gồm: 08 người là vợ cụ Trần Thị H3 và 07 người con là Chu Thị V, Chu Thị H2, Chu Huy T1, Chu Huy T, Chu Huy T3, Chu Thị Đ và Chu Huy H; Tại thời điểm mở thừa kế của cụ Trần Thị H3 năm 2017, hàng thừa kế thứ nhất của cụ H3 là 4 người con: Chu Huy T, Chu Thị T2, Chu Thị Đ và Chu Huy H.

[2.2] Về xác định di sản thừa kế:

Các đồng thừa kế đều xác định di sản thừa kế của cụ X và cụ H3 để lại là: thửa đất số 36, tờ bản đồ số 01, diện tích 82,2m² theo GCNQSD đất, diện tích đo đạc thực tế là 88,3m² địa chỉ tại: H T, phường L, thị xã S, thành phố Hà Nội (Địa chỉ hiện nay là: 5 T, phường L, thị xã S, thành phố Hà Nội). Thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: S083471, số vào sổ cấp số 00640 QSDĐ/LL do Ủy ban nhân dân thị xã S, TP . cấp ngày 05/12/2003 đứng tên cụ Chu Ngọc X và cụ Trần Thị H3.Về nguồn gốc thửa đất: Do cụ X và cụ H3 mua, sử dụng từ năm 1963.

Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ để xác định: Thửa đất số 36, tờ bản đồ số 01, diện tích 82,2m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích đo đạc thực tế là 88,3m² địa chỉ tại: H T, phường L, thị xã S, thành phố Hà Nội (Địa chỉ hiện nay là: 5 T, phường L, thị xã S, thành phố Hà Nội) là di sản thừa kế của cụ X và cụ H3 để lại.

Đối với 01 Nhà 03 tầng bê tông cốt thép, mái lợp tôn, tường 20 xây gạch chỉ, nền lát gạch men, trị giá: 455.938.740 đồng, các đương sự đều xác định là tài sản riêng của ông Chu Huy H xây dựng năm 2007 nên HĐXX không xem xét.

Đối với 01 nhà mái lợp tôn, khung sắt tường xây 20, nền lát gạch men. Do các đương sự trình bày nhà của cụ X và cụ H3 nên HĐXX xác định ngôi nhà là di sản thừa kế của cụ X và cụ H3.

Sau khi đối chiếu kết quả đo đạc thực tế và giá trị di sản do Hội đồng định giá cung cấp tại Biên bản định giá tài sản ngày 17/4/2024 xác định tổng giá trị di sản thừa kế của cụ X và cụ H3 là: 786.013.000 đồng;

[2.3] Về việc phân chia di sản thừa kế:

Ông Chu Huy H đề nghị phân chia di sản thừa kế của cụ Chu Ngọc X và cụ Trần Thị H3 theo pháp luật, trong đó giao ông H quản lý sử dụng toàn bộ quyền sử dụng đất, ông H sẽ thanh toán phần giá trị cho các đồng thừa kế khác. Các đồng thừa kế tặng cho di sản thừa kế cho ông thì ông xin được nhận.

Ông Chu Huy T yêu cầu giao ông và ông H mỗi người ½ diện tích quyền sử dụng đất, ông T nhất trí thanh toán cho các đồng thừa kế khác phần giá trị.

Ông Chu Huy T1 đề nghị mọi người tôn trọng ý chí của cụ Chu Ngọc X tại Bản di chúc (Đồng thời là Biên bản họp gia đình) ngày 24/6/2012, yêu cầu phân chia di sản thừa kế cho ông H và ông T mỗi người ½ quyền sử dụng đất, nếu không được thì ông T1 đề nghị phân chia di sản thừa kế thành 7 kỷ phần cho 07 người con.

Các bà Chu Thị H2, Chu Thị T2, Chu Thị V, Chu Thị Đ yêu cầu Tòa án chia theo quy định của pháp luật trong đó kỷ phần của các bà sẽ tặng cho lại ông Chu Huy H.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Các đương sự đều thống nhất trình bày khi còn sống, cụ Chu Ngọc X đã công khai thể hiện ý chí của mình về việc phân chia tài sản chung của cụ X và cụ H2 là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 36, tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại số E phố T, phường L, thị xã S, TP ., cho 02 người con là ông Chu Huy H và ông Chu Huy T, trong đó ông Chu Huy T đã xây nhà ở trên một phần thửa đất từ năm 2007. Năm 2012, cụ X công khai ý chí của mình về việc phân chia tài sản tại văn bản đề là Di chúc lập ngày 24/6/2012. Xét văn bản có tiêu đề Di chúc lập ngày 24/6/2012 do cụ Chu Ngọc X lập, có chữ ký xác nhận của cụ Chu Ngọc X, các con là ông H, ông T, ông T1, bà V, bà T2, bà Đ, bà H2, cùng 02 người làm chứng là bà Nguyễn Thị T4 và bà Chu Thị H2, có nội dung phân chia tài sản của cụ X và cụ H2 ngay khi còn sống, có một phần thể hiện ý chí của cụ X về tài sản của cụ X và cụ H2 sau khi chết, tuy nhiên không có chữ ký của cụ Trần Thị H3, như vậy việc cụ Chu Ngọc X cùng các con định đoạt phần tài sản chung của cụ X và cụ H3 mà không có ý kiến của cụ H3 là không phù hợp với quy định về quyền sở hữu của của vợ chồng quy định tại khoản 3 Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2005 và khoản 3 Điều 213 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên văn bản đề là Di chúc lập ngày 24/6/2012 không phát sinh hiệu lực pháp luật. Mặt khác các đương sự trong vụ án đều xác định cụ Chu Ngọc X và cụ Trần Thị H3 chết không có di chúc nên Hội đồng xét xử phân chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật. Cụ thể như sau:

Tổng giá trị di sản thừa kế gồm quyền sử dụng đất và 01 nhà mái lợp tôn kèo sắt: 786.013.000 đồng;

Di sản thừa kế của cụ X và cụ H3 có giá trị bằng nhau là: 393.006.500 đồng;

Do cụ X chết trước cụ H3 nên di sản thừa kế của cụ X được chia đều cho hàng thừa kế thứ nhất là cụ Trần Thị H3, bà Chu Thị V, bà Chu Thị H2, bà Chu Huy T1, bà Chu Huy T, bà Chu Thị T2, bà Chu Thị Đ và ông Chu Huy Hoàng t 8 kỷ phần bằng nhau trị giá: 49.125.812 đồng;

Di sản thừa kế của cụ H2 được chia cho 04 con đẻ là Chu Huy T, Chu Huy T3, Chu Huy Đ1 và Chu Huy Hoàng thành 4 kỷ phần bằng nhau trị giá: 110.533.078 đồng;

Do bà V, bà H2, bà T3, bà Đ1 tặng cho kỷ phần được hưởng cho ông H nên tổng kỷ phần ông H được hưởng có trị giá: 577.228.297 đồng;

Về chia hiện vật, Hội đồng xét xử xét thấy ông Chu Huy H là người trực tiếp sinh sống, quản lý và sử dụng thửa đất số 36, tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại số E phố T, phường L, thị xã S, TP ., các đồng thừa kế khác đều có nơi ở riêng, không sinh sống trên cùng thửa đất. Ông Chu Huy T1 đề nghị phân chia di sản thừa kế nhưng không nêu rõ yêu cầu được nhận quyền sử dụng đất hay giá trị; 04 đồng thừa kế trên tổng số 07 đồng thừa kế đều trình bày tặng cho kỷ phần mình được hưởng cho ông Chu Huy H. Do thửa đất có diện tích không đủ để phân chia bằng hiện vật cho các đồng thừa kế, ông Chu Huy H có nguyện vọng được tiếp tục xử dụng toàn bộ thửa đất và đồng ý thanh toán cho các đồng thừa kế khác bằng giá trị nên HĐXX giao toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản công trình trên đất tại thửa đất số 36, tờ bản đồ số 01, diện tích 88,3m² địa chỉ tại số E phố T, phường L, thị xã S, TP . cho ông Chu Huy H. Do ông Chu Huy H được hưởng toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản công trình trên đất có giá trị vượt quá kỷ phần được hưởng nên ông Chu Huy H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Chu Huy T giá trị kỷ phần được hưởng là 159.658.890 đồng và thanh toán cho ông Chu Huy T1 giá trị kỷ phần được hưởng là 49.125.812 đồng.

[3] Về án phí: Ông Chu Huy T, ông Chu Huy T1, bà Chu Thị T2, bà Chu Thị V, bà Chu Thị H2, bà Chu Thị Đ đều là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ tiền án phí. Ông Chu Huy H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo giá ngạch trên phần giá trị tài sản được hưởng theo quy định pháp luật là 35.440.520 đồng. Đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 12.000.000 đồng ông H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây ngày 28/12/2023, ông H còn phải nộp 23.440.520 đồng.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 5 Điều 26, 35, 39, 147, 262, 264, 266, 267 và Điều 271, 277 và 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 254, 609, 611, 612,613, 623, 649, 650, 651 và Điều 660 Bộ luật dân sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;

Xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của ông Chu Huy H.

2.Xác nhận di sản thừa kế của cụ Chu Ngọc X và cụ Trần Thị H3 là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 36, tờ bản đồ số 01, diện tích 82,2m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích đo đạc thực tế là 88,3m² địa chỉ tại: H T, phường L, thị xã S, thành phố Hà Nội (Địa chỉ hiện nay là: 5 T, phường L, thị xã S, thành phố Hà Nội), và 01 nhà 01 tầng, mái lợp tôn, khung sắt tường xây 20, nền lát gạch mem.

Tổng giá trị di sản là 786.013.000 đồng (Bảy trăm tám mươi sáu triệu không trăm mười ba nghìn đồng).

Chia giá trị di sản của cụ Chu Ngọc X là 393.006.500 (Ba trăm chín mươi ba triệu không trăm lẻ sáu nghìn năm trăm đồng) cho hàng thừa kế thứ nhất là cụ Trần Thị H3, bà Chu Thị V, bà Chu Thị H2,ông Chu Huy T1,ông Chu Huy T, bà Chu Thị T2, bà Chu Thị Đ và ông Chu Huy Hoàng t 8 kỷ phần bằng nhau trị giá: 49.125.812 (Bốn mươi chín triệu một trăm hai mươi lăm nghìn tám trăm mười hai đồng)

Chia giá trị di sản của cụ Trần Thị H3 là 442.132.312 (Bốn trăm bốn mươi hai triệu một trăm ba mươi hai nghìn ba trăm mười hai đồng) cho hàng thừa kế thứ nhất là ông Chu Huy T, bà Chu Thị T2, bà Chu Thị Đ và ông Chu Huy Hoàng t 4 kỷ phần bằng nhau trị giá: 110.533.078 (Một trăm mười triệu năm trăm ba mươi ba nghìn không trăm bảy mươi tám đồng)

Giao cho ông Chu Huy H quyền sử dụng tại thửa đất số 36, tờ bản đồ số 01, diện tích 88,3m² địa chỉ tại số E phố T, phường L, thị xã S, TP .„trên đất có 01 nhà 03 tầng diện tích B3=39,5m² và 01 nhà cấp 4,mái lợp tôn,khung sắt tường xây 20, nền lát gạch men, diện tích 41,9m²,được giới hạn bởi các điểm tư 1,2,3,4,5,6,7,1

Ông Chu Huy H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Chu Huy T số tiền 159.658.890 (Một trăm năm mươi chín triệu sáu trăm năm mươi tám nghìn tám trăm chín mươi đồng) thanh toán cho ông Chu Huy T1 số tiền 49.125.812 (Bốn mươi chín triệu một trăm hai mươi lăm nghìn tám trăm mười hai đồng)(Phần đất được chia có sơ đồ đính kèm. Khi làm GCNQSDĐ người được giao đất phải có nghĩa vụ tài chính đối với phần đất mình được giao).

Ông Chu Huy H căn cứ phần đất của mình được chia. Sau khi án có hiệu lực pháp luật có nghĩa vụ đến cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 4 Điều 95 Luật đất đai 2013.

3. Về án phí: Ông Chu Huy T và ông Chu Huy T1 là người cao tuổi được miễn toàn bộ tiền tạm ứng án phí.

Ông Chu Huy H phải chịu 35.440.520 đồng (Ba mươi lăm triệu bốn trăm bốn mươi nghìn năm trăm hai mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, TP . theo Biên lai số 0000826 ngày 28/12/2023, ông H còn phải nộp 23.440.520 (Hai mươi ba triệu bốn trăm bốn mươi nghìn năm trăm hai mươi đồng)

4. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Viện Kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - Viện KSND TX. Sơn Tây;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục THADS TX. Sơn Tây
  • - Lưu hồ sơ

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Ngô Quốc Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/DSST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp thừa kế tài sản

  • Số bản án: 15/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông H khởi kiện ông T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger