TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2024/DS-ST
Ngày: 17/6/2024.
“V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG-TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Vương Thị Hội.
- Bà Võ Thị Cảnh.
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Tố Uyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Vũ Hữu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 17/6/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 08/2024/TLST-DS ngày 19/01/2024 về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-DS ngày 14/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/QĐST- DS ngày 30/5/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng N.
Địa chỉ: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đình P, chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng N chi nhánh huyện K.
Địa chỉ chi nhánh: Số C V, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai.
Bị đơn: Bà Phạm Thị Hồng L, sinh năm 1954 và ông Lê Hùng C, sinh năm 1946;
Cùng địa chỉ: Thôn B, xã S, huyện K, tỉnh Gia Lai.
Ông P có đơn xin xét xử vắng mặt; bà L và ông C lần thứ hai vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng, được bổ sung tại bản tự khai ngày 19/01/2024 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng ông Trần Đình P trình bày:
Ông Lê Hùng C và bà Phạm Thị Hồng L đã vay vốn tại Ngân hàng N thông qua Ngân hàng N-Chi nhánh huyện K theo Hợp đồng tín dụng số: 5008LAV202201079 ngày 21/4/2022 với số tiền nợ gốc là 400.000.000 đồng, mục đích sử dụng tiền vay: Chăn nuôi Bò thịt 18 con, với lãi suất cho vay là: 9,6%/năm, lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Thời hạn vay vốn 12 tháng kể từ ngày 21/4/2022, hạn trả nợ cuối cùng ngày 21/4/2023.
Khoản vay này được bảo đảm bằng: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 306 ngày 15/4/2020 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 307 ngày 15/4/2020; Tài sản bảo đảm là 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BD 610481 và CG 659445 do UBND huyện K cấp ngày 27/12/2010 và ngày 20/4/2017.
Trong thời gian vay vốn, ông C và bà L đã sử dụng vốn vay không hiệu quả, đồng thời Ngân hàng cũng nhiều lần thông báo đòi nợ, đôn đốc, nhắc nhở bằng nhiều hình thức nhưng ông C, bà L vẫn không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ. Tính đến hết ngày 07/12/2023, ông C và bà L còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là: 379.465.648 đồng (Ba trăm bảy mươi chín triệu, bốn trăm sáu mươi lăm nghìn, sáu trăm bốn mươi tám đồng), bao gồm: Nợ gốc là: 366.920.000 đồng; nợ lãi trong hạn là: 1.447.575 đồng và nợ lãi quá hạn là: 11.098.073 đồng.
Ông C và bà L phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 08/12/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng.
Tại bảng kê tính lãi, Ngân hàng bổ sung số tiền ông C, bà L còn nợ tính từ ngày 08/12/2023 đến hết ngày 17/6/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) là: Nợ lãi trong hạn là: 18.625.462 đồng và nợ lãi quá hạn là: 9.312.731 đồng. Tổng cộng, số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông C, bà L phải trả cho Ngân hàng thông qua Ngân hàng N-Chi nhánh huyện K là: 407.403.841 đồng. Bao gồm, nợ gốc là: 366.920.000 đồng; nợ lãi trong hạn là: 20.073.037 đồng và nợ lãi quá hạn là: 20.410.804 đồng (các khoản lãi tính đến ngày 17/6/2024).
Ngoài ra theo thỏa thuận của hai bên tại Hợp đồng tín dụng nên Ngân hàng còn yêu cầu:
Trường hợp bị đơn ông Lê Hùng C và bà Phạm Thị Hồng L không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng thông qua Ngân hàng N - Chi nhánh huyện K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của ông C, bà L theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 306 ngày 15/4/2020 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 307 ngày 15/4/2020 để thu hồi nợ theo quy định. Trường hợp việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng thông qua Ngân hàng N chi nhánh huyện K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông C, bà L để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Đối với bị đơn ông Lê Hùng C và bà Phạm Thị Hồng L: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai đã triệu tập ông C, bà L đến Tòa án làm việc để nhận Thông báo về việc thụ lý vụ án, làm bản tự khai trình bày quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tham gia phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa do Tòa án tổ chức nhưng ông C, bà L luôn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Tuy nhiên ông C, bà L đã trình bày quan điểm của mình tại bản tự khai với nội dung: Ông, bà thừa nhận còn nợ Ngân hàng N chi nhánh huyện K số tiền nợ gốc là 366.920.000 đồng kèm lãi phát sinh. Lý do đến nay ông, bà vẫn chưa trả được nợ cho Ngân hàng là vì việc chăn nuôi bị thất thoát, giá cả quá thấp nên ông, bà bị thua lỗ.
Các tài liệu, chứng cứ được nguyên đơn giao nộp, gồm:
- 01 Quyết định ủy quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án số 2665/QĐ-NHNo - PC ngày 01/12/2022 của Ngân hàng N (bản sao);
- 01 Giấy uỷ quyền số 358/NHNo.KBĐGL-TH ngày 07/12/2023 giữa ông Đỗ Thanh B và ông Trần Đình P (bản chính);
- 01 Hợp đồng tín dụng số 5008LAV202201079 ngày 21/4/2022 kèm phụ lục Hợp đồng giữa A chi nhánh huyện K Gia Lai với bà Phạm Thị Hồng L và ông Lê Hùng C (bản sao);
- 01 Phương án sử dụng vốn của bà Phạm Thị Hồng L và ông Lê Hùng C (bản sao);
- 01 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 306 ngày 15/4/2020 giữa bên nhận thế chấp là A chi nhánh huyện K với bên thế chấp là bà Phạm Thị Hồng L và ông Lê Hùng C (bản sao);
- 01 Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất ngày 15/4/2020 giữa bên nhận thế chấp là A chi nhánh huyện K với bên thế chấp là bà Phạm Thị Hồng L và ông Lê Hùng C (bản sao);
- 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 610481 do UBND huyện K, tỉnh Gia Lai cấp ngày 27/12/2010 mang tên người sử dụng đất bà Phạm Thị Hồng L và ông Lê Hùng C (bản sao);
- 01 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 307 ngày 15/4/2020 giữa bên nhận thế chấp là A chi nhánh huyện K với bên thế chấp là bà Phạm Thị Hồng L và ông Lê Hùng C (bản sao);
- 01 Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất ngày 15/4/2020 giữa bên nhận thế chấp là A chi nhánh huyện K với bên thế chấp là bà Phạm Thị Hồng L và ông Lê Hùng C (bản sao);
- 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 659445 do UBND huyện K, tỉnh Gia Lai cấp ngày 20/4/2017 mang tên người sử dụng đất bà Phạm Thị Hồng L và ông Lê Hùng C (bản sao);
- 01 Giấy báo nợ đến hạn ngày 11/4/2023 (bản sao);
- 01 Thông báo chuyển nợ quá hạn ngày 22/4/2023 (bản sao);
- 03 Biên bản làm việc v/v giải quyết nợ vay ngân hàng quá hạn ngày 28/4/2023; ngày 04/6/2023 và ngày 05/7/2023 (bản sao);
- 02 Bảng kê tạm tính lãi tên khách hàng Phạm Thị Hồng L (bản chính);
- 01 Lịch sử giao dịch tiền vay tên khách hàng Phạm Thị Hồng L (bản pho to);
- 01 chứng minh nhân dân mang tên Lê Hùng C và 01 Căn cước công dân mang tên Phạm Thị Hồng L (bản sao);
- 01 Sổ hộ khẩu mang tên chủ hộ Lê Hùng C (bản sao);
Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh:
Ông Lê Hùng C và bà Phạm Thị Hồng L, có địa chỉ tại thôn B, xã S, huyện K, tỉnh Gia Lai, điều này thể hiện qua chứng cứ do Ngân hàng giao nộp là 01 Sổ hộ khẩu gia đình đứng tên chủ hộ Lê Hùng C; 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Lê Hùng C và 01 Căn cước công dân mang tên Phạm Thị Hồng L.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai về việc giải quyết vụ án như sau:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 26, 35, 39, 91, 93, 94, 95, 101, 108, 143, 144, 147, 155, 156, 157, 158, 179, 227, 228, 238 và 266 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Áp dụng các Điều 117, 118, 119, 280, 299, 317, 319, 322, 357, 463, 466, 468 và 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N, buộc bị đơn ông Lê Hùng C và bà Phạm Thị Hồng L phải trả cho Ngân hàng số tiền là 407.403.841 đồng. Bao gồm, nợ gốc là 366.920.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 20.073.037 đồng và nợ lãi quá hạn là 20.410.804 đồng (các khoản lãi tính đến ngày 17/6/2024).
Ông C, bà L phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 18/6/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Buộc bị đơn ông Lê Hùng C và bà Phạm Thị Hồng L phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng dân sự:
Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lê Hùng C và bà Phạm Thị Hồng L có địa chỉ tại thôn B, xã S, huyện K, tỉnh Gia Lai phải trả số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để triệu tập ông C, bà L đến Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn, tham gia các phiên họp và hoà giải; tham gia các phiên tòa của Toà án nhưng ông, bà đều vắng mặt không có lý do và cũng không ủy quyền cho ai tham gia tố tụng. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng là ông Trần Đình P vắng mặt nhưng ông P có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
Xét Hợp đồng tín dụng số 5008LAV202201079 ngày 21/4/2022 được ký kết giữa Ngân hàng với ông C, bà L thấy rằng:
Hợp đồng được lập thành văn bản có chữ ký của ông Lê Hùng C và bà Phạm Thị Hồng L chủ thể tham gia hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, mục đích, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp theo quy định tại các Điều 117, Điều 118, và Điều 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Hợp đồng thể hiện rõ việc Ngân hàng cho ông, bà vay số tiền nợ gốc là: 400.000.000 đồng, mục đích sử dụng tiền vay: Chăn nuôi Bò thịt 18 con, với lãi suất cho vay là: 9,6%/năm, lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Thời hạn vay vốn 12 tháng kể từ ngày 21/4/2022, hạn trả nợ cuối cùng ngày 21/4/2023.
Khoản vay này được bảo đảm bằng: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 306 ngày 15/4/2020 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 307 ngày 15/4/2020; Tài sản bảo đảm là 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BD 610481 và CG 659445 do UBND huyện K cấp ngày 27/12/2010 và ngày 20/4/2017.
Sau khi vay tiền ông C, bà L đã sử dụng vốn vay không hiệu quả, đã không trả được tiền nợ gốc và lãi theo cam kết mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở ông, bà trả nợ. Ông, bà đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay nên buộc Ngân hàng phải chuyển thành nợ quá hạn và khởi kiện yêu cầu ông, bà thực hiện nghĩa vụ trả nợ là có cơ sở. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông, bà luôn vắng mặt trong các lần Tòa án triệu tập đến làm việc, không chấp hành các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đã tự chối bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. Ông, bà biết việc Ngân hàng khởi kiện, đã trình bày quan điểm thừa nhận còn nợ số tiền mà Ngân hàng khởi kiện.
Từ những phân tích trên, căn cứ vào các Điều 463, Điều 466 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Lê Hùng C và bà Phạm Thị Hồng L phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền là: 407.403.841 đồng. Bao gồm, nợ gốc là: 366.920.000 đồng; nợ lãi trong hạn là: 20.073.037 đồng và nợ lãi quá hạn là: 20.410.804 đồng (các khoản lãi tính đến ngày 17/6/2024).
Tại Hợp đồng tín dụng số 5008LAV202201079 ngày 21/4/2022 giữa hai bên còn thoả thuận:
Trường hợp bị đơn ông Lê Hùng C và bà Phạm Thị Hồng L không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng thông qua Ngân hàng N - Chi nhánh huyện K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của ông C, bà L theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 306 ngày 15/4/2020 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 307 ngày 15/4/2020 để thu hồi nợ theo quy định. Trường hợp việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng thông qua Ngân hàng N chi nhánh huyện K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông C, bà L để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Xét các thỏa thuận này của hai bên là tự nguyện và đúng pháp luật nên Ngân hàng có các quyền này khi yêu cầu thi hành án đối với nghĩa vụ trả nợ của bị đơn.
Ngày 08/4/2024, Tòa án nhân dân huyện Kbang đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là:
- Thửa đất số 276 tờ bản đồ số 20, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BD 610481, do UBND huyện K cấp ngày 27/12/2010 cho ông Lê Hùng C và bà Phạm Thị Hồng L. Qua xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc thực tế đã xác định: Vị trí của thửa đất là đúng và có diện tích thực tế đang sử dụng là 264m² đất ở, phù hợp với diện tích đã được cấp trong GCNQSDĐ số: BD 610481 và đất không có tranh chấp với bên thứ ba.
- Thửa đất số 01, tờ bản đồ số: Trích đo 1, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CG 659445, do UBND huyện K cấp ngày 20/4/2017 cho ông Lê Hùng C và bà Phạm Thị Hồng L. Qua xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc thực tế đã xác định: Vị trí của thửa đất là đúng và có diện tích thực tế đang sử dụng là 626m² (trong đó có 100m² đất ở và 526m² đất trồng cây lâu năm), phù hợp với diện tích đã được cấp trong GCNQSDĐ số: CG 659445 và đất không có tranh chấp với bên thứ ba.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định là: 20.296.153 đồng.
[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn ông Lê Hùng C và bà Phạm Thị Hồng L phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Do nguyên đơn đã nộp đủ số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ nên bị đơn ông Lê Hùng C và bà Phạm Thị Hồng L phải hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 93; Điều 94; Điều 95; Điều 101; Điều 108; Điều 143; Điều 144, Điều 147; Điều 155; Điều 156; Điều 157; Điều 158; Điều 179; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và 266 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 117; Điều 118; Điều 119; Điều 280; Điều 299; Điều 317; Điều 319; Điều 322; Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N, cụ thể như sau:
1. Buộc bị đơn ông Lê Hùng C và bà Phạm Thị Hồng L phải trả cho nguyên đơn Ngân hàng N thông qua Ngân hàng N-Chi nhánh huyện K số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số: 5008LAV202201079 ngày 21/4/2022 là: 407.403.841 đồng (Bốn trăm lẻ bảy triệu, bốn trăm lẻ ba nghìn, tám trăm bốn mươi mốt đồng). Bao gồm, nợ gốc là: 366.920.000 đồng; nợ lãi trong hạn là: 20.073.037 đồng và nợ lãi quá hạn là: 20.410.804 đồng (các khoản lãi tính đến ngày 17/6/2024). Ông C, bà L phải tiếp tục trả các khoản lãi phát sinh cho nguyên đơn theo thoả thuận đã ký kết trong Hợp đồng tín dụng giữa hai bên từ ngày 18/6/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
2. Trường hợp bị đơn ông Lê Hùng C và bà Phạm Thị Hồng L không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng thông qua Ngân hàng N - Chi nhánh huyện K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm của ông C, bà L theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 306 ngày 15/4/2020 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 307 ngày 15/4/2020 để thu hồi nợ theo quy định. Trường hợp việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng thông qua Ngân hàng N chi nhánh huyện K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông C, bà L để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Lê Hùng C và bà Phạm Thị Hồng L có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền: 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ cho Ngân hàng N thông qua Ngân hàng N-Chi nhánh huyện K.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi người phải thi hành án thi hành án xong khoản tiền nợ (5.000.000 đồng) nói trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Về án phí: Buộc bị đơn ông Lê Hùng C và bà Phạm Thị Hồng L phải chịu 20.296.153 đồng (Hai mươi triệu, hai trăm chín mươi sáu nghìn, một trăm năm mươi ba đồng) án phí Dân sự sơ thẩm;
Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng N thông qua Ngân hàng N-Chi nhánh huyện K số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là: 9.486.641 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng phí, lệ phí Toà án số: 0002037 ngày 19/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kbang, Gia Lai.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Phương |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | ||
HỘI THẨM NHÂN DÂN | TP-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Võ Thị Cảnh | Vương Thị Hội | Nguyễn Thị Hồng Phương |
Bản án số 15/2024/DS-ST ngày 17/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 15/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HĐ tín dụng giữa NHNN Loan Cường
