TÒA ÁN NHÂN DÂN NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ GÒ CÔNG Hạnh phúc TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ Độc lập - Tự do - |
Bản án số: 15/2024/HS-ST Ngày: 17-5-2024. | NHÂN DANH |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng;
- - Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Minh Quốc;
- Ông Nguyễn Hùng Dũng;
- - Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hồng Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang;
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân thành phố G, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Huỳnh Tấn Phát sinh năm 1990 tại tỉnh Tiền Giang; Căn cước công dân số [...]; Nơi cư trú: Ấp Ô, xã T, thành phố G, tỉnh Tiền Giang; Chỗ ở: Ấp Ô, xã T, thành phố G, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh Văn L và bà: Cao Thị M; Vợ Trần Thị Thanh H; Bị cáo có 02 con lớn 16 tuổi, nhỏ 11 tuổi; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần. Ngày 14/6/2021 bị đưa vào cơ sở cai nghiện ma tuý trong thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 27/2021/QĐ-TA; đã chấp hành xong vào ngày 17/6/2023
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 19/12/2023, tạm giam ngày 28/12/2023 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố G, tỉnh Tiền Giang; Có mặt tại phiên tòa;
* Bị hại: Trần Cẩm T, sinh năm: 2000
Nơi cư trú: Ấp H, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang;
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Trần Thị Thanh H, sinh năm: 1990
- Nguyễn Thị C, sinh năm: 1967
Nơi cư trú: Ấp Ô, xã T, thành phố G, tỉnh Tiền Giang;
Nơi cư trú: Khu phố V, phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 18/12/2023 bị cáo P sau khi sử dụng ma tuý tại khu vực gần cầu M thì đi bộ đến Ấp B, xã B. Khi đến trước chồi tôm của chị T, bị cáo P nhìn thấy xe mô tô 63B6- 551.96 để nhưng không có người trông coi thì nảy sinh ý định lấy trộm xe. Bị cáo P đi đến cống thoát nước gần đó ngồi quan sát khoảng 20 phút. Nhận thấy không có ai xung quanh chồi giữ tôm bị cáo P đến vị trí của rào không có khoá nên bị cáp P đi vào bên trong. Bị cáo P thấy chị T đang nằm ngủ trên võng nên lén lút dẫn xe 63B6- 551.96 ra ngoài cổng đi về hướng cầu B. Đi được một đoạn bị cáo P lên xe khởi động máy rồi chạy đi. Chị T nghe tiếng xe nổ máy thì tỉnh giấc đi ra ngoài kiểm tra thì phát hiện xe đã bị lấy trộm.
Bị cáo P điều khiển xe 63B6- 551.96 đi qua khỏi cầu B được một đoạn theo đường đê về hướng cầu M thì dừng lại cởi bỏ áo thun để tránh bị phát hiện, rồi tiếp tục điều khiển xe chạy về hướng xã T, huyện G. Trên đường đi bị cáo P ghé vào tiệm sửa xe ven đường (không rõ địa chỉ) để tháo rời dàn áo xe 63B6- 551.96 nhưng không có thợ sửa xe nên bị cáo mượn dụng cụ tự tháo rời toàn bộ dàn áo xe nhựa, đồng hồ ki-lô-mét và biển số xe. Bị cáo P bỏ các bộ phận tháo rời này vào cái bao, chất lên xe 63B6- 551.96 điều khiển xe rời đi. Khi chạy ngang cầu G bị cáo dừng xe lấy ra biển số 63B6- 551.96 ném xuống sông.
Khi về đến phòng trọ của P thuê tại nhà nghỉ Y tại ấp Ô, xã T bị cáo P lấy biển số 63B6- 415.73 cất sẵn trước đó gắn vào xe mô tô đã lấy trộm của chị T, mục đích để khi điều khiển xe ra đường không bị phát hiện.
Đến 15 giờ cùng ngày, chị T đến Công an xã B trình báo sự việc. Qua kết quả truy xét, Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Gò Công xác định người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là Huỳnh Tấn P1 nên đã tiến hành giữ người trong trường họp khẩn cấp vào rạng sáng ngày 19/12/2023.
Vật chứng, đồ vật liên quan đã tạm giữ:
- T1 tại nhà trọ Y (Một) xe mô tô hai bánh, loại Wave Alpha, số khung RLHJA3925NY487373, số máy JA39E2935545, gắn biển số 63B6- 415.73 cùng dàn áo nhựa và đồng hồ của xe đã được tháo rời;
- Bản sao giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 63B6- 551.96 do Nguyễn Thị C đứng tên.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số 52/KL-HĐĐGTS ngày 27/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã G (Nay là thành phố G kết luận:
- (Một) xen mô tô hai bánh, loại Wave Alpha, số khung RLHJA3925NY487373, số máy JA39E2935545; đã qua sử dụng giá trị 11.300.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKSGC ngày 31/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công (Nay là thành phố G), tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Huỳnh Tấn P1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, không có ý kiến tranh luận. Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn P1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn P1 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2023.
- Về xử lý vật chứng:
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Thị Cẩm T2 đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt, có đơn không yêu cầu bị cáo bồi thường.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chị án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
01 xe mô tô hai bánh loại “Wave Alpha”, số khung RLHJA3925NY487373, số máy JA39E2935545 do bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1967, nơi cư trú khu phố V, phường L, thành phố G đứng tên giấy chứng nhận xe, bà C là mẹ ruột của chị Trần Cẩm T, bà C đã tặng cho chị T chiếc xe nêu trên để làm phương tiện đi lại nhưng chưa chuyển tên. Riêng biển số xe 63B6- 551.96, Cơ quan điều tra đã áp giải bị cáo P1 đến vị trí bị cáo khai ném bỏ nhưng không tìm thấy. Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thị xã G (Nay là thành phố G) đã trao trả xe mô tô trên cùng dàn áo nhựa và đồng hồ của xe đã được tháo rời cho chị Trần Cẩm T là có căn cứ.
Bản sao giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 63B6- 551.96 đi kèm theo hồ sơ vụ án. Chị Trần Thị Thanh H cũng không yêu cầu nhận lại biển số xe 63B6- 415.73 do biển số xe này không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố G, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Tấn P1 đã khai nhận:
Vào khoảng 12 giờ ngày 18/12/2023 bị cáo P1 sau khi sử dụng ma tuý tại khu vực gần cầu M thì đi bộ đến Ấp B, xã B. Khi đến trước chồi tôm của chị T2, bị cáo P1 nhìn thấy xe mô tô 63B6- 551.96 để nhưng không có người trông coi thì nảy sinh ý định lấy trộm xe. Bị cáo P1 đi đến cống thoát nước gần đó ngồi quan sát khoảng 20 phút. Nhận thấy không có ai xung quanh chồi giữ tôm bị cáo P1 đến vị trí của rào không có khoá nên bị cáo P1 đi vào bên trong. Bị cáo P1 thấy chị T2 đang nằm ngủ trên võng nên lén lút dẫn xe 63B6- 551.96 ra ngoài như nội dung Bản cáo trạng đã nêu.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số 52/KL-HĐĐGTS ngày 27/12/2023 của Hội động định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã G (Nay là thành phố G kết luận: (Một) xen mô tô hai bánh, loại Wave Alpha, số khung RLHJA3925NY487373, số máy JA39E2935545; đã qua sử dụng giá trị 11.300.000 đồng.
Lời khai nhận trên của bị cáo Huỳnh Tấn P1 đã phù hợp với lời khai của người bị hại, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, diễn biến phiên toà. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Huỳnh Tấn P1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công (Nay là thành phố G) truy tố bị cáo Huỳnh Tấn P1 về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội.
Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự ở địa phương. Bị cáo có đủ sức khoẻ để lao động, muốn có phương tiện để đi lại nhưng không chịu lao động để kiếm tiền mua xe, lại lén lút trộm xe của chị T2 để làm phương tiện cho mình. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi xã một thời gian tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra, nhằm cải tạo và giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3]. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[4]. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, bị cáo Huỳnh Tấn P1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra trao trả lại xe cho chị Trần Cẩm T2 đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Bản sao giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 63B6- 551.96 đi kèm theo hồ sơ vụ án là phù hợp.
Biển số xe 63B6- 415.73 không có giá trị sử dụng, chị Trần Thị Thanh H không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Chị Trần Cẩm T2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[7]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Huỳnh Tấn P1 phải chịu án phí sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
[8]. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
- - Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;
- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn P1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn P1 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2023.
- Về vật chứng: Tịch thu biển số xe 63B6- 415.73 tiêu huỷ.
- Về án phí: Buộc bị cáo Huỳnh Tấn P1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án để Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Trường hợp những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa LÊ THỊ HẰNG |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Tiền Giang;
- - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;
- - VKSND TP Gò Công;
- - Công an TP Gò Công;
- - Chi cục THADS TP Gò Công;
- - Bộ phận THA phạt tù;
- - Bị cáo, người bị hại;
- - Lưu HS, AV.
Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 15/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRỘM CẮP TÀI SẢN
