Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BA BỂ

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HS-ST

Ngày: 17/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nga

Ông Dương Xuân Tựu

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Ma Thế Thiện và ông Hoàng Trọng H – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tổ chức phiên tòa trực tuyến diễn ra tại các điểm cầu gồm: Điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn T (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam

Sinh ngày 29 tháng 9 năm 2003;

Nơi sinh: Huyện P, tỉnh Bắc Kạn;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Hoàng Văn P - sinh năm 1985 và bà Trịnh Mùi T1 - sinh năm 1979;

Vợ, con: Chưa có;

Tiền án: Không;

Tiền sự: 01 tiền sự - Ngày 29/8/2023 bị Công an huyện P xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) về hành vi “Chiếm giữ trái phép tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 19/QĐ-XPHC.

Nhân thân:

+ Ngày 29/10/2020 bị Công an xã X, huyện P, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC.

+ Ngày 25/3/2021 bị TAND huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Ngày 19/10/2021 bị Công an huyện P xử phạt bị phạm hành chính phạt tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 209/QĐ-XPHC.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/12/2023 đến ngày 22/12/2023, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú. Đến ngày 05/3/2024 thì bị bắt và tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn cho đến nay.

Có mặt tại điểm cầu thành phần.

* Người bào chữa cho bị cáo:

Ông Đinh Xuân D – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu trung tâm.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Bà Chu Thị B, sinh năm 1965 - Người chứng kiến.

- Ông Đồng Minh N, sinh năm 1960 - Người chứng kiến.

Cùng địa chỉ: Tiểu khu B, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Đều vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Ông Triệu Việt D1 - Trưởng Nhà tạm giữ Công an huyện B; Ông Nguyễn Việt H1, ông Lưu Văn G - Cán bộ/Chiến sĩ nghĩa vụ Đội THAHS &HTTP Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 15 giờ 30 ngày 14/12/2023, tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại địa bàn thị trấn C, huyện B thì phát hiện Hoàng Văn T - sinh năm 2003, địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn có biểu hiện cất giấu, nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra, phát hiện tại túi quần phía trước bên phải đang mặc của Hoàng Văn T có 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba màu vàng, bên trong có 01 túi nilon màu xanh, đỏ chứa 09 gói được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, trong 09 gói đều chứa chất dạng cục, bột màu trắng. Hoàng Văn T khai nhận, chất dạng cục, bột màu trắng trong 09 gói là Heroine được T mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong 09 gói nhỏ nghi là ma túy vào phong bì ký hiệu A1.

Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của T tại túi quần phía trước bên trái 01 chiếc điện thoại di động có bàn phím màu xanh, đen, có in chữ NOKIA, điện thoại cũ đã qua sử dụng, tiến hành niêm phong vào phong bì ký hiệu A2; tại túi quần phía sau bên phải số tiền 1.560.000đ (một triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng), tiến hành niêm phong vào phong bì ký hiệu A3. Hoàng Văn T tự nguyện giao nộp 01 vật chứng là chiếc quần bò màu đen xám (quần vải bò) T dùng để cất giấu ma túy và mặc trên người khi bị bắt quả tang, quần cũ đã qua sử dụng.

2

Tại biên bản mở, đóng niêm phong cân xác định khối lượng chất ma túy ngày 14/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn xác định: Cân cả vỏ bao thuốc lá, túi nilon, giấy gói và chất dạng cục, bột màu trắng có khối lượng là 8,53g (tám phẩy năm ba gam), cân riêng vỏ bao thuốc lá, túi nilon, giấy gói có khối lượng là 8,02g (tám phẩy không hai gam), cân riêng chất dạng cục, bột màu trắng nghi chất ma túy Heroine có khối lượng là 0,51g (không phẩy năm một gam). Niêm phong toàn bộ 0,51g (không phẩy năm một gam) chất dạng cục, bột màu trắng vào phong bì ký hiệu B1 để gửi giám định. Niêm phong toàn bộ phong bì, vỏ bao thuốc lá, túi nilon, giấy gói cũ vào phong bì ký hiệu B2.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở và công trình phụ cận có liên quan tại chỗ ở của Hoàng Văn T tại thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn, kết quả không phát hiện và thu giữ thêm tài liệu, đồ vật gì có liên quan đến hành vi vi phạm của T.

Tại bản Kết luận giám định số 01/KL-KTHS ngày 19/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có tên khoa học là D2 được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 có khối lượng là 0,51g (không phẩy năm một gam)”.

Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại 0,47g (không phẩy bốn bảy gam) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T01 hoàn trả lại cho Cơ quan trưng cầu.

Tại cơ quan điều tra, Hoàng Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi vi phạm, số tiền dùng để mua ma túy, số lượng ma túy đã mua và tàng trữ: Khoảng 10 giờ ngày 14/12/2023 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Hoàng Văn T đi xe khách từ thôn K, xã N, huyện P đến khu vực Tiểu khu B, thị trấn C, huyện B để tìm mua ma túy. Khi đi đến cổng Trung tâm Y tế huyện B thì T gặp một người đàn ông không quen biết nhìn giống người nghiện nên T đã hỏi mua ma túy với giá 500.000đ (hai trăm nghìn đồng) thì được đưa lại cho 01 (một) gói ma túy. Sau khi mua được ma túy, T trích ra một ít để sử dụng ngay. Số còn lại chưa sử dụng đến T chia ra thành 09 gói cho vào túi nilon, cho vào vỏ bao thuốc lá V cất giấu trên người rồi đi ra cổng Trung tâm Y tế huyện B để đón xe khách đi về nhà thì bị cơ quan Công an phát hiện và bắt quả tang.

Quá trình điều tra còn xác định được bị cáo Hoàng Văn T là lao động tự do, thuộc diện hộ nghèo có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Không có tài liệu chứng minh bản thân hoặc gia đình thuộc diện chính sách, người có công với cách mạng.

Tại cáo trạng số 15/CT-VKSBB ngày 27/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

Điều luật có nội dung:

3

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 đến 05 năm:

a) ...

c) Heroine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam, được trừ đi thời gian tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTH:

Tịch thu tiêu hủy đối với: 02 phong bì niêm phong ký hiệu T01 và B2 trong đó có 0,47g Heroine và phong bì, giấy gói cũ là vật chứng của vụ án; 01 chiếc quần bò màu đen xám (quần vải bò), tình trạng cũ đã qua sử dụng: Xác định không còn giá trị.

01 chiếc điện thoại di động có bàn phím, màu xanh, đen, có in chữ NOKIA, điện thoại cũ đã qua sử dụng: Không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho bị cáo.

Số tiền 1.560.000đ (một triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng), xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho bị cáo.

+ Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

- Người bào chữa trình bày lời bào chữa: Việc khởi tố, truy tố, xét xử bị cáo Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Về mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Hoàng Văn T mức án 15 (mười lăm) tháng tù. Bên cạnh đó, người bào chữa cũng đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

- Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhất trí với nội dung cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa, không tự bào chữa, không tranh luận. Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức án thấp nhất cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về tái hòa nhập gia đình và cộng đồng.

4

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, do bị cáo cung cấp: Xét thấy đảm bảo theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người chứng kiến, tuy nhiên họ đã có đầy đủ lời khai tại giai đoạn điều tra và có đơn xin xét xử vắng mặt theo quy định, việc vắng mặt của những người chứng kiến tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó đủ cơ sở xác định:

Vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 14/12/2023 tại Tiểu khu B, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Hoàng Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,51g (không phẩy năm một gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo là người đủ tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đầy đủ nhận thức và không bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi của mình, bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, là vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên vẫn cố ý thực hiện.

Như vậy có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Tội phạm Hoàng Văn T thực hiện là tội phạm nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, là nguyên nhân và nguy cơ làm gia tăng tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự địa phương, cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Bị cáo có 01 tiền sự: Ngày 29/8/2023 bị Công an huyện P xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) về hành vi “Chiếm giữ trái phép tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 19/QĐ-XPHC; Tính đến

5

ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này là ngày 14/12/2023 thì bị cáo chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Do đó, xác định bị cáo có 01 tiền sự.

Nhân thân:

+ Ngày 29/10/2020 bị Công an xã X, huyện P, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC. Đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

+ Ngày 25/3/2021 bị TAND huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại thời điểm bị TAND huyện Đông Anh xét xử Hoàng Văn T chưa đủ 18 tuổi, căn cứ quy định tại Điều 107/BLHS thì bị cáo được coi là không có án tích.

+ Ngày 19/10/2021 bị Công an huyện P xử phạt bị phạm hành chính phạt tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 209/QĐ-XPHC. Đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Trong quá trình điều tra vụ án này bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, tuy nhiên trong thời gian tại ngoại bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam kết của người được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tiếp tục thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” nên đã bị cơ quan tiến hành tố tụng bắt và tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Hành vi vi phạm của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, thể hiện thái độ coi thường và không chấp hành nghiêm quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, do đó bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt:

Trên cơ sở quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về hình phạt chính: Xét thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với thực tiễn xét xử tại địa phương để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249/BLHS quy định về hình phạt bổ sung đối với người phạm tội, tuy nhiên xét hoàn cảnh gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng gì có giá trị, việc áp dụng hình phạt bổ sung là không khả thi, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng:

Gồm có:

6

- 01 phong bì ký hiệu T01, bên trong có chứa 0,47g (không phẩy bốn bảy gam) Heroine còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành và phong bì bao gói cũ là vật không có giá trị; 01 phong bì ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, giấy gói cũ là vật không có giá trị; 01 chiếc quần bò màu đen xám (quần vải bò), tình trạng cũ, đã qua sử dụng là vật không có giá trị do đó cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 chiếc điện thoại di động có bàn phím màu xanh, đen, có in chữ NOKIA, điện thoại cũ đã qua sử dụng: Quá trình điều tra bị cáo khai nhận khi đi mua ma túy là bị cáo tự đi tìm người bán ma túy và giao dịch trực tiếp, không liên lạc qua điện thoại. Tại biên bản mở niêm phong ngày 18/12/2023 đối với phong bì niêm phong ký hiệu A2 chứa chiếc điện thoại nêu trên tiến hành kiểm tra nội dung cuộc gọi, tin nhắn và các ứng dụng trên điện thoại không phát hiện nội dung gì liên quan đến hành vi phạm tội của Hoàng Văn T. Do đó, trả lại cho bị cáo theo quy định.

- Số tiền 1.560.000đ (một triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng) là tiền làm thuê của bị cáo, xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho bị cáo.

[8] Về vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Hoàng Văn T: Quá trình điều tra không xác định được đối tượng, do đó không có cơ sở để xử lý, xét thấy là phù hợp.

[9] Về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân và người bào chữa:

Xét thấy quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn và đề nghị của người bào chữa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.

[10] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo là cá nhân thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, xét thấy cần chấp nhận miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 47, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điểu 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 17 (mười bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 05/3/2024, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 14/12/2023 đến ngày 22/12/2023.
  3. Về vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu hủy đối với:
      • + 01 phong bì ký hiệu T01, bên trong có chứa 0,47g (không phẩy bốn bảy gam) Heroine còn lại sau giám định và phong bì bao gói cũ;
      • + 01 phong bì ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, giấy gói;
      • + 01 chiếc quần bò màu đen xám (quần vải bò), tình trạng cũ, đã qua sử dụng;
    • - Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động có bàn phím màu xanh, đen, có in chữ NOKIA, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
    • - Trả lại cho bị cáo số tiền 1.560.000đ (một triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng).
    • (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận ngày 27/3/2024 giữa Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn với Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn)
  4. Về án phí:

    Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Kạn;
  • - VKSND tỉnh Bắc Kạn;
  • - VKSND huyện Ba Bể;
  • - Công an huyện Ba Bể;
  • - Chi cục THADS huyện Ba Bể;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn (Khi có HLPL);
  • - THAHS;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu HSVA; Văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thùy Linh

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 15/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 14/12/2023 tại Tiểu khu 2, thị trấn Chợ Rã, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, Hoàng Văn Trung đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,51g (không phẩy năm một gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger