Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HSST

Ngày: 17/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Duật và ông Hoàng Tú Nam.

-Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Tứ- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh Tuấn- Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế (Số E đường Đ, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2024/HSST ngày 16 tháng 02 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 05/04/2024 đối với bị cáo:

Lê Văn T; sinh ngày 04/4/1974 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn H (chết) và bà Võ Thị L(chết); vợ: Trần Thị Lệ T1, sinh năm 1973; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2012.

Quá trình nhân thân: Từ nhỏ ở với gia đình tại thị xã C, tỉnh Tiền Giang, lớn lên đi học văn hóa đến lớp 06/12, sau đó học và hành nghề lái xe cho đến ngày gây án. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/11/2023 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Ông Trần Quân Minh H1(đã chết); Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Đ(mẹ), sinh năm 1956, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt; Bà Hoàng Thị H2(vợ), sinh năm 1975, vắng mặt ủy quyền cho ông Hoàng Kim C; Trần Văn L1(con), sinh năm 2003, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt; Trần Thị Bích N(con), sinh ngày 25/5/2007; Trần Quân Minh H(con), sinh ngày 16/11/2011; Trần Thị Khánh V(con), sinh ngày 13/4/2014; Cùng cư trú tại : D đường N, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng

Người đại diện hợp pháp của bà Hoàng Thị H2: Ông Hoàng Kim C1 năm 1984; Nơi cư trú: A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

Bị đơn dân sự: Công ty TNHH H5 chỉ ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn N1 vụ: Giám đốc Công ty, vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Trịnh Minh H3, sinh năm 1999; Nơi cư trú: Khu phố B, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
  2. Chị Trịnh Thị Phương U năm 1996; Nơi cư trú: Khu phố B, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
  3. Bà Trần Thị L2 T1 sinh năm 1973; Nơi cư trú: Khối phố F, A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, có mặt.
  4. Ông Hoàng Kim C1 năm 1984; Nơi cư trú: A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 22 tháng 10 năm 2021, Lê Văn T2 khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 63H-003.28 kéo theo sơ mi rơ-mooc biển kiểm soát 63R-002.20 đi trên Quốc lộ A hướng Đ - Huế. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Lê Văn T3 đến Km 809+700, Quốc lộ A thuộc phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (đây là đoạn đường có biển báo cấm dừng và đỗ xe) dưới điều kiện thời tiết trời có mưa, mặt đường trơn trượt, T4 đèn cảnh báo nguy hiểm trước và sau xe, tắt máy rồi rời khỏi vị trí lái đi vào cửa hàng ô tô Hồng T2 để mua phụ tùng ô tô. Sau khi mua phụ tùng xong, T5 trước xe đầu kéo để kiểm tra xe rồi lên cabin xe ô tô ngồi. Đến khoảng 20 giờ 38 phút cùng ngày, ông Trần Quân M H1 điều khiển xe mô tô BKS: 75K1-4149 chạy hướng Đ - Huế. Khi đi đến địa điểm trên đã để xe mô tô và người va vào phía sau bên trái rơ mooc BKS: 63R-002.20 đang đỗ bên đường gây tai nạn giao thông. T không biết vụ tai nạn xảy ra nên khoảng 20 giờ 39 phút, T6 máy và rời khỏi hiện trường. Hậu quả, Trần Quân M H1 bị thương tích nặng ở vùng đầu nằm tại hiện trường, đến ngày 24/10/2021 thì tử vong, xe mô tô bị hư hỏng.

Đến khoảng 20 giờ 42 phút cùng ngày, anh Trịnh M1 H4 điều khiển xe mô tô BKS:74C1-461.08 chạy cùng chiều Đ - H va chạm vào đuôi xe mô tô BKS: 75K1 - 4149 của ông H1, sau va chạm đã đẩy xe mô tô BKS: 75K1 - 4149 và người ông H1 di chuyển về phía trước, xe mô tô BKS:74C1-461.08 và anh Trịnh M1 H4 ngã ra đường.

- Khám nghiệm hiện trường đã xác định được như sau: Tại Km 809+700 Quốc lộ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế và thuộc phần đường một chiều theo hướng Đ - H. Đoạn đường được rải thảm nhựa, mặt đường thẳng phẳng, tầm nhìn không bị hạn chế và có hệ thống đèn đường chiếu sáng đang hoạt động bình thường. Phần đường Đ rộng 9m00 được chia làm hai làn đường gồm một làn đường rộng 3m50 liền kề với phần đường ngược chiều và một làn đường rộng 5m50 liền kề với mép đường phải. Hai phần đường chiều bị ngăn cách bởi dải phân cách cứng bằng bê tông, ngay tại nơi tai nạn dãi phân cách được mở ra tạo thành khu vực cho phép quay đầu xe. Về phía Đông H5 có biển báo “Chỗ quay xe” và biển báo “Vị trí người đi bộ sang đường”. Căn cứ vào đặc điểm, vị trí dấu vết tại hiện trường, tử thi, trên phương tiện và các tài liệu chứng cứ đã thu thập đủ cơ sở kết luận:

  • Xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 63H-003.28 kéo theo sơ mi rơ-mooc biển kiểm soát 63R-002.20 đang đậu mép bên đường phải theo hướng Đ - Huế. Đầu xe hướng Huế, đuôi xe hướng Đ
  • Xe mô tô 75K1-4149 chạy theo hướng Đ - Huế
  • Xe mô tô 74C1-461.08 chạy theo hướng Đ - Huế
  • Khi đi đến địa điểm trên, mô tô 75 K đã tông vào góc dưới cùng phía sau, bên trái rơ-mooc biển kiểm soát 63R-002.20 gây tai nạn. Sau đó, xe mô tô 74C1-461.08 tiếp tục tông vào xe mô tô 75K1-4149.
  • Vị trí số (01) là vùng dịch có kích thước (0m15 x 0m10) và vị trí số (03) là vùng dịch có kích thước (0m25 x 0m20) đều do nạn nhân Trần Quân Minh Hoàng tạo ra.
  • Vị trí số (02) là vùng cày bị đứt quãng kích thước (3m40 x 0m22) do xe mô tô 75K1-4149 tạo ra.
  • Vị trí số (04) là xe mô tô 75K1-4149 tạo ra.
  • Vị trí số (05) là vùng cày bị đứt quãng kích thước (1m30 x 0m18) do xe mô tô 74C1-461.08 tạo ra.
  • Vị trí số (06) là xe mô tô 74C1-461.08

* Vùng va chạm thứ nhất giữa xe mô tô 75K1-4149 và xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 63H-003.28 kéo theo sơ mi rơ-mooc biển kiểm soát 63R-002.20 được xác định cách mép đường phải 2m20 theo hướng khám nghiệm Đ - H và cách tâm vùng dịch số (01) là 0m20 về phía Huế.

* Điểm va chạm thứ hai giữa xe mô tô 74C1-461.08 và xe mô tô 75K1- 4149 được xác định cách mép đường phải 2m00 và nằm ngay khởi điểm vùng cày bị đứt quãng số (02).

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi của Phòng K Công an tỉnh T số 618/GĐ ngày 24/11/2021 đối ông Trần Quân M H1 đã kết luận như sau:

“1. Các kết quả giám định chính:

  • Tử thi nam giới, thể trạng trung bình đang trong quá trình lạnh, cứng xác, hoen chưa hình thành. Toàn thân phù mềm.
  • Vùng đỉnh phải có rách da bờ mép nham nhở, tổ chức não thoát ra ngoài qua vết rách. Vùng chẩm phải có vết bầm trầy da.
  • Vùng trán – mũi – hàm trên bên phải có các vết rách da, trầy da, bầm máu dưới da. Vỡ lún xương trán phải, sống mũi sập lún.
  • Gãy hở 1/3 dưới nhiều đoạn hai xương cẳng chân phải.
  • Vỡ nứt lún xương nhiều vị trí quanh hộp sọ, vỡ các xương vùng hàm mặt hai bên.
  • Đụng dập, tụ máu dưới màng cứng, xuất huyết dưới nhện lan rộng ở vùng trán – thái dương – đỉnh hai bên.
  • Phù não nhiều hai bán cầu.
  • Gãy cung sau xương sườn số 2 hai bên.
  • 2. Kết luận nguyên nhân chết: Đa chấn thương.”.

Ngày 17/8/2022, Cơ quan CSĐT Công an thị xã H quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 08/QĐ-CQĐT trưng cầu Phòng K Công an tỉnh T Đánh giá cơ chế hình thành các dấu vết trên cơ thể và nguyên nhân chính dẫn đến Trần Quân M Hoàng tử vong.

Tại Bản kết luận giám định pháp y bổ sung của Phòng K Công an tỉnh T số 521/GĐ ngày 26/8/2023 đối ông Trần Quân M H1 đã kết luận như sau:

“1. Các kết quả giám định chính:

  • Vùng đỉnh phải có vết rách da bờ mép nham nhở. Vùng chẩm phải có vết bầm trầy da.
  • Vùng trán – mũi – hàm trên bên phải có các vết rách da, trầy da, bầm máu dưới da trên diện (12x10cm), có dạng hình tứ giác, có cạnh cạnh trên là đường ngang giữa trán, cạnh bên phải là đường cạnh dọc đuôi mắt phải, cạnh bên trái là đường dọc giữa trán đến mũi, cạnh dưới là đường ngang dưới đuôi mắt phải 01 cm đến cánh mũi trái, là tổn thương dạng hằn, trầy da. Vỡ lún xương trán phải, sống mũi sập lún.
  • Vỡ nứt lún xương hộp sọ ở nhiều vị trí quanh hộp sọ. Vỡ các xương vùng hàm mặt hai bên gây xuất huyết trong các xoang
  • Tụ máu dưới màng cứng lan rộng vùng thái dương đỉnh hai bên. Tụ máu dọc liềm đại não và lều tiểu não. Đụng dập xuất huyết rải rác trên vùng trán – thái dương

phải. Xuất huyết dưới nhện rải rác ở các rãnh cuộn não vùng trán – thái dương – đỉnh hai bên. Phù não nhiều hai bán cầu.

  • Chân phải: Gãy di lệch nhiều đoạn hai xương cẳng chân.
    • Mặt trước ½ cẳng chân có 02 vết trầy da, rách da bờ mép nham nhở, các vết rách này xung quanh có bầm tụ máu.
    • Vùng cổ chân 1/3 dưới cẳng chân có các vết rách da bờ mép nham nhở, xung quanh có nhiều vết bầm, trầy trượt mất da.
  • 2. Đánh giá cơ chế hình thành dấu vết:
    • Tổn thương vùng trán – mũi – hàm trên bên phải do tác động mạnh với vật tày, diện giới hạn, có chiều từ trước ra sau tạo nên.
    • Các tổn thương vùng đỉnh, chẩm do tác động với vật tày, diện rộng, chiều từ sau ra trước tạo nên.
    • Tổn thương vùng mặt trước ½ cẳng chân phải do tác động với vật tày. Tổn thương vùng cổ chân - 1/3 dưới cẳng chân phải do tác động bởi vật tày, diện giới hạn.
  • 3. Nguyên nhân dẫn đến tử vong của Trần Quân M H1: Chấn thương sọ não”.

Qua kiểm tra, Trần Quân M H1 có nồng độ Ethanol: 51,7 mmol/L.

Ngày 19/11/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H quyết định trưng cầu số 128 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh T xác định mẫu sơn xanh thu tại ốp nhựa bảo vệ hệ thống điện bên phải của phương tiện biển số 75K1-4194 vào ngày 25/10/2021 có cùng loại với mẫu sơn thu tại cản sau phía dưới rơ mooc biển số 63R-002.20 thu ngày 27/10/2021 hay không.

Tại Bản kết luận giám định số 696/GĐ ngày 02/12/2021 của Phòng K Công an tỉnh T12 đã kết luận như sau: “ Mẫu sơn xanh gửi giám định cùng loại với mẫu sơn xanh làm mẫu so sánh”.

Tại Bản kết luận định giá số 13/KL-HĐĐGTS ngày 29/4/2022, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã H kết luận: Xe mô tô BKS 75K1-4149 bị hư hỏng, thiệt hại tại thời điểm xảy ra tai nạn là 295.000 đồng.

- Vật chứng tạm giữ: 01 giấy phép lái xe hạng FC mang tên Lê Văn T; 03 file dữ liệu Camara an ninh thu giữ tại cửa hàng Ô lại diễn biến vụ việc.

Đối với ô tô đầu kéo biển kiểm soát 63H-003.28, đang bị hư hỏng nặng do tai nạn giao thông ngày 23/4/2023 tại thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Văn T7 chủ xe ô tô đầu kéo BKS: 63H-003.28 kéo theo rơ mooc BKS: 63R-002.20 đã thoả thuận bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền là 170.000.000 đồng. Đại diện theo ủy quyền gia đình người bị hại đã nhận số tiền trên, không có yêu cầu gì thêm về dân sự và có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho Lê Văn T

Bản Cáo trạng số 11/CT-VKSHTr ngày 16/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án.

Về bồi thường thiệt hại: Do bị cáo và bị hại đã thỏa thuận xong nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả lại giấy phép lái xe mang tên Lê Văn T cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã H6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lê Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 22 tháng 10 năm 2021, tại Km 809+700, Quốc lộ A thuộc phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế Lê Văn T trực tiếp điều khiển xe ô

tô BKS: 63H-003.28 kéo theo rơ mooc BKS: 63R-002.20 đỗ xe tại vị trí có đặt biển báo giao thông đường bộ “Cấm dừng và đỗ xe”. Đến khoảng 20 giờ 38 phút cùng ngày, ông Trần Quân M H1 điều khiển xe mô tô BKS: 75K1-4149 chạy theo hướng Đ - Huế đã để xe mô tô va vào phía sau xe ô tô đầu kéo trên. Hậu quả làm ông Trần Quân M H1 chết đồng thời gây thiệt hại đối với xe mô tô BKS: 75K1-4149 là 295.000 đồng.

Vụ tai nạn xảy ra do lỗi hỗn hợp. Lỗi của Lê Văn T8 điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS: 63H-003.28 kéo theo rơ mooc BKS: 63R-002.20 đỗ xe tại vị trí có đặt biển báo giao thông đường bộ “Cấm dừng và đỗ xe”, vi phạm khoản 1 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ. Lỗi của bị hại Trần Quân M H1 là điều khiển xe mô tô BKS: 75K1-4149 thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ (có thể dừng lại một cách an toàn) khi điều khiển xe trong điều kiện trời mưa, gặp chướng ngại vật trên đường, sử dụng chất kích thích (rượu, bia) khi tham gia giao thông, vi phạm khoản 1, khoản 11 Điều 5, Điều 11 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT, Điều 12 Luật GTĐB, khoản 1 Điều 35 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia ngày 14/9/2019 (sửa đổi, bổ sung khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ). Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố đối với bị cáo Lê Văn T là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bố của bị cáo là người có công với cách mạng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng do không tuân thủ các nguyên tắc an toàn giao thông đường bộ, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. Xét về mức độ lỗi trong vụ tai nạn thì thấy lỗi chủ yếu thuộc về bị cáo. Bị hại cũng có một phần lỗi khi điều khiển xe mô tô đã thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi điều khiển xe trong điều kiện trời mưa, gặp chướng ngại vật trên đường, sử dụng chất kích thích khi tham gia giao thông.

Quá trình thực hiện tội phạm, bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú rõ ràng, bố bị cáo được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba, là người có công với cách mạng; nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; hiện nay hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao

động chính trong gia đình, đang nuôi dưỡng con nhỏ (12 tuổi). Nhận thấy bị cáo có thể tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, mà cho bị cáo hưởng án treo, đồng thời ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, là phù hợp, đảm bảo theo quy định.

Đối với hành vi của bị cáo Lê Văn T9 khi lên xe ô tô, hoàn toàn không biết việc ông Trần Quân M H1 điều khiển xe mô tô va vào phía sau bên trái rơ mooc BKS: 63R-002.20 gây tai nạn giao thông. Đến khoảng 20 giờ 39 phút, T6 máy và điều khiển xe ô tô rời khỏi hiện trường. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an thị xã H xử lý T10 hành vi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn là có căn cứ.

Đối với hành vi của Trịnh M1 H4 điều khiển xe mô tô BKS: 74C1-461.08 va chạm vào xe mô tô BKS: 75K1-4149, sau va chạm đã đẩy xe mô tô BKS: 75K1 - 4149 và người ông H1 di chuyển về phía trước. H4 khai nhận, khi đến địa điểm trên không phát hiện nạn nhân nằm trên đường và không trực tiếp va vào người nạn nhân. Qúa trình trích xuất camera làm việc, Trịnh M1 H4 thừa nhận sau khi H4 điều khiển xe mô tô va vào đuôi xe BKS: 75K1-4149, sau va chạm đã đẩy xe mô tô BKS: 75K1 - 4149 và người ông H1 di chuyển về phía trước 01 đoạn ngắn. H4 không biết có trực tiếp va vào người nạn nhân không. Mặt khác, kết quả giám định pháp y xác định: Tổn thương vùng trán – mũi – hàm trên bên phải do tác động mạnh với vật tày, diện giới hạn; Các tổn thương vùng đỉnh, chẩm do tác động với vật tày, diện rộng (phù hợp với việc nạn nhân va vào thành sau bên trái rơ mooc BKS: 63R-002.20). Nguyên nhân chết của Trần Quân M H1 là do chấn thương sọ não. Không có các tài liệu chứng cứ khác xác định hành vi điều khiển xe mô tô của Trịnh M1 H4 liên quan trực tiếp đến cái chết của Trần Quân M H1. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H xử lý đối với anh Trịnh Minh H4 có căn cứ.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trịnh Minh H3; 01 chứng minh nhân dân mang tên Trịnh Minh H4; 01 xe mô tô BKS: 74C1-461.08 ; 01 xe mô tô BKS: 75K1-4149; 01 sơ mi rơ-mooc biển kiểm soát 63R-002.20 như đã nêu trên, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H6 đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho các chủ sở hữu là đúng pháp luật. Tại phiên tòa không có ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng FC mang tên Lê Văn T thuộc sở hữu của bị cáo (hiện đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án), không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
  • Đối với tài liệu, chứng cứ gồm: 03 file dữ liệu hình ảnh video (clip) liên quan đến vụ tai nạn giao thông ngày 22/10/2021 do camera an ninh thu giữ tại Cửa hàng Ô ghi lại, là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
  • Đối với ô tô đầu kéo biển kiểm soát 63H-003.28, không phải là đối tượng của tội phạm, không cần thiết phải tịch thu tiêu hủy, hiện đang bị hư hỏng nặng do tai nạn giao thông vào ngày 23/4/2023 tại thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H thu giữ được. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

  • Lê Văn T11 người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH H7 là ông Nguyễn Văn N2 tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại với tổng số tiền 170.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền nói trên, không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • Đối với anh Hoàng Kim C, chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát 75K1-4149 không yêu cầu bị cáo Lê Văn T bồi thường số tiền 295.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Lê Văn T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lê Văn T cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Tiền Giang nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Lê Văn T cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Lê Văn T phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại 01 giấy phép lái xe ô tô hạng FC mang tên Lê Văn T cho bị cáo Lê Văn T (vật chứng này hiện đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo, đại diện hợp pháp của người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TTHuế;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TTHuế;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh TTHuế;
  • - Công an thị xã Hương Trà;
  • - VKSND thị xã Hương Trà;
  • - THA HS, THA DS;
  • - Bị cáo; Đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Bị đơn dân sự; Người CQLNVLQ
  • - Lưu.

TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Huế

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HSST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 15/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: VPQĐVTGGT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger