Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/DS-ST

Ngày 17-4-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Chu Quốc Đạt

Trần Thành Đô

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Sỹ- Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2024/QĐST-DS ngày 04/4/2024 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Anh Đồng Bá B 1972 ( có mặt)

Địa chỉ HKTT: Thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Nơi ở hiện nay: Phố B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang

-Bị đơn: Anh Hoàng Văn T 1975 ( có mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Đồng T1 T1năm 1973( vắng mặt)

Địa chỉ HKTT: Thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Nơi ở hiện nay: Phố Bằng, xã Nghĩa Hòa, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

2. Chị V1 ( vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang

-Người làm chứng: Anh C ĐT3sinh năm 1977 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố S, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại bản tự khai, các lời khai tiếp theo nguyên đơn anh Đồng B1 B1bày: Anh B với anh Hoàng V T3quan hệ là hàng xóm, anh có kinh doanh hiệu cầm đồ cho vay. Anh có cho anh T4tiền các lần cụ thể như sau: Lần 1 ngày 16/11/2022 anh cho anh T4số tiền là 200.000.000 đồng ( Hai trăm triệu đồng) khi cho vay có viết giấy tờ, thỏa thuận lãi suất là 1,5%/ tháng, thời hạn vay đến ngày 16/02/2023 sẽ trả đủ cả gốc và lãi. Lần 2 ngày 07/01/2023 anh cho anh T vay số tiền là 150.000.000 đồng ( Một trăm năm mươi triệu đồng) khi cho vay có viết giấy tờ, thỏa thuận lãi suất là 1,5%/ tháng, thời hạn vay đến ngày 07/02/2023 sẽ trả đủ cả gốc và lãi.

Quá trình vay tiền anh T6trả được một phần số tiền gốc của hai lần là 10.784.000 đồng, số tiền lãi đã trả tính đến ngày 07/02/2023 là 10.216.000 đồng. Còn nợ lại số tiền gốc là 339.216.000 đồng kể từ đó anh T7trả thêm đồng nào tiền gốc và lãi, xét phía anh T4tiền đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trả tiền như thỏa thuận giữa hai bên về tiền gốc và tiền lãi. Nay anh khởi kiện yêu cầu anh Hoàng Văn T3 phải trả cho anh số tiền gốc còn nợ tính đến ngày 07/02/2023 là 339.216.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 07/02/2023 đến ngày xét xử 17/4/2024 tổng số tiền lãi là 72.931.400 đồng. Tổng cả gốc và lãi là 412.147.400 đồng.

Khoản tiền này anh không yêu cầu chị Vũ Thị T4 nghĩa vụ liên đới trả vì anh chỉ cho một mình anh T5 tiền. Anh yêu cầu tính lãi tiếp theo kể từ ngày xét xử quy định của pháp luật đến khi anh T10xong khoản nợ trên.

Đối với lời khai anh T6 đã chuyển tiền vào tài khoản số 3440167899999 mang tên Chu ĐT3mở tại Ngân hàng TMCP Q để trả lãi cho anh số tiền là 62.000.000 đồng ( Sáu mươi hai triệu đồng) là không đúng anh không thỏa thuận với anh T12việc trả lãi như trên và anh không được nhận số tiền lãi này từ anh T13khai này là không có căn cứ.

Tại phiên tòa anh Đồng B1 B3giữ nguyên quan điểm trên.

* Tại bản tự khai, các lời khai tiếp theo bị đơn anh Hoàng Văn T7: Anh có vay tiền của anh Đồng B1 B4 lần cụ thể như sau: Ngày 16/11/2022 anh vay của anh B số tiền gốc là 200.000.000 đồng khi vay có viết giấy tờ biên nhận, anh được nhận số tiền chuyển khoản là 188.000.000 đồng ( Một trăm tám mươi tám triệu đồng) và đã trả tiền lãi số tiền 12.000.000 đồng của tháng 11/2022. Ngày 07/01/2023 anh vay của anh B số tiền gốc là 150.000.000 đồng khi vay có viết giấy tờ biên nhận, anh được nhận số tiền chuyển khoản là 141.000.000 đồng và đã trả tiền lãi 9.000.000 đồng của tháng 01/2023. Tổng cộng số tiền gốc hai lần vay của anh B5350.000.000 đồng, tiền lãi ghi trong giấy vay tiền là 1,5%/ tháng nhưng thỏa thuận miệng giữa hai bên là tiền vay lãi ngày mức 2.000 đồng/1 triệu/1 ngày.

Quá trình vay tiền anh đã trả anh B6tổng số tiền lãi là 62.000.000 đồng, tiền gốc chưa trả được đồng nào, các lần trả tiền lãi đều chuyển khoản cho anh C ĐT3là nhân viên của anh Đồng B1 B7hai bên thỏa thuận miệng và giao dịch qua điện thoại nhắn tin và gọi điện từ số điện thoại 0346.313.xxx mang tên Hoàng V T15số điện thoại 0981.000.xxx mang tên anh C ĐT3, còn việc giữa anh và anh B8có lần nào ngồi chốt sổ hay nói việc anh đã trả tiền lãi cho T3để trả cho anh B

Nay anh B9kiện yêu cầu anh trả số tiền gốc hai lần vay còn nợ là 339.216.000 đồng và tiền lãi theo mức 1,5%/ tháng tính lãi từ ngày 07/01/2023 đến ngày xét xử, quan điểm của anh đồng ý trả cho anh B10tiền gốc còn nợ là 339.216.000 đồng nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn anh xin được trả dần.

Tại phiên tòa anh không đề nghị Tòa án giải quyết về số tiền lãi anh đã trả cho anh B11qua hình thức chuyển tiền qua tài khoản của anh C ĐT3 vì anh không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh. Anh đồng ý trả cho anh B10tiền lãi là 72.931.400 đồng, nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn anh xin trả dần. Số tiền vay này là vay cá nhân không liên quan đến chị T8, do vậy anh sẽ một mình có trách nhiệm trả cho anh B

*Tại bản tự khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đ T17T1trình bày: Chị hoàn toàn nhất trí với lời khai của anh Đồng B1 B12chồng chị đã trình bày. Đề nghị Tòa án buộc anh Hoàng Văn T9 gia đình chị số tiền gốc còn nợ và tiền lãi theo quy định của pháp luật. Do bận công việc và chồng chị là anh B13tiếp giao dịch cho anh T4tiền, chị xin vắng mặt tất cả quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án. Mọi văn bản tố tụng đề nghị Tòa án giao cho anh B12chồng chị nhận thay và có trách nhiệm thông báo lại cho chị biết.

Tại phiên tòa chị Đ T17T1có đơn giữ nguyên quan điểm trên và xin xét xử vắng mặt.

*Tại bản tự khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Vũ Thị T10: Chị là vợ của anh Hoàng Văn T3, chị không biết việc vay tài sản giữa anh Đồng B1 B14anh Hoàng Văn T8 Quan điểm của chị không đồng ý cùng anh T trả tiền cho anh B vì việc anh T vay tiền của anh B3 được biết và không được ký vào các giấy vay tiền này. Chị xác định đây là khoản nợ riêng của anh T nên anh T phải có trách nhiệm trả cho anh B chị không liên quan gì đến khoản nợ này. Do bận công việc chị xin vắng mặt tất cả quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án.

Tại phiên tòa chị Vũ Thị T11 có đơn giữ nguyên quan điểm trên và xin xét xử vắng mặt.

* Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng anh C ĐT3trình bày: Anh không quan hệ gì với anh Hoàng Văn T12 làm dịch vụ chuyển tiền ai có nhu cầu đổi tiền tài khoản lấy mặt thì sẽ chuyển tiền vào tài khoản của anh là số 3440167899999 mang tên Chu Đ1 T3mở tại Ngân hàng T19 đó anh sẽ trả bằng tiền mặt cho họ. Khoảng năm 2018-2019 anh có làm nhân viên của anh Đồng B1 B16, anh đã nghỉ làm từ giữa năm 2020. Việc anh Đồng B1 B17anh H như thế nào anh không được biết.

Cuối năm 2022 và năm 2023 anh Hoàng Văn T13 gia đình anh để nhờ chuyển tiền tài khoản đổi lấy tiền mặt cụ thể anh không nhớ rõ, nay được Tòa án thông báo anh Hoàng Văn T14 cấp sao kê Ngân hàng các lần anh T15 tiền từ số tài khoản 105812628666 mang tên Hoàng V T25tại Ngân hàng Cđến số tài khoản 3440167899999 mang tên Chu ĐT3mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q gồm: Ngày 21/12/2022 anh T23chuyển số tiền là 12.000.000 đồng; Ngày 13/02/2023 anh T23chuyển số tiền là 10.000.000 đồng; Ngày 24/5/2023 anh T23chuyển số tiền là 20.000.000 đồng; Ngày 09/6/2023 anh T23chuyển số tiền là 10.000.000 đồng; Ngày 19/6/2023 anh T23chuyển số tiền là 10.000.000 đồng. Tổng cộng năm lần anh T26tiền trong tài khoản lấy tiền mặt của anh là 62.000.000 đồng. Khoản tiền anh T26chuyển khoản cho anh để lấy tiền mặt, các lần đổi tiền chuyển khoản anh đều trả tiền mặt lại cho anh T27đủ, giữa hai bên không có khoản vay mượn gì.

Việc anh B17anh T22tiền và giữa hai bên thanh toán với nhau như thế nào anh không được biết và không liên quan gì đến anh. Do bận công việc, không liên quan gì đến vụ án anh xin vắng mặt tất cả quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án.

Tại phiên tòa anh C ĐT3 vẫn giữ nguyên quan điểm trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa HĐXX sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 470, Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh D B18B

Buộc anh Hoàng Văn T3 phải trả anh Đồng B1 B19tiền nợ gốc là 339.216.000 đồng ( Ba trăm ba mươi chín triệu, hai trăm mười sáu nghìn đồng) và tiền lãi là 72.931.400 đồng ( Bẩy mươi hai triệu, chín trăm ba mươi mốt nghìn, bốn trăm đồng). Tổng cộng là 412.147.400 đồng ( Bốn trăm mười hai triệu, một trăm bốn mươi bẩy nghìn, bốn trăm đồng).

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết về nghĩa vụ chậm trả tiền, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Ngày 23/01/2024, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản của anh Đồng B1 B14bị đơn anh Hoàng Văn T3 có địa chỉ tại thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Gianglà đúng quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Về tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. HĐXX căn cứ các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo thủ tục chung.

Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện và các tài liệu do anh Đồng B1 B20cấp thì thấy ngày 16/11/2022 và ngày 07/01/2023 anh Đồng B1 B16 và anh Hoàng V T3hai lần xác lập hợp đồng vay tài sản số tiền gốc anh B17anh T vay tổng cộng là 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng). Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp liên quan đến số tiền trên là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, có kỳ hạn, có thỏa thuận lãi suất 1,5%/ tháng quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, khoản 2 Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung: Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Đ B18BHĐXX xét thấy: Ngày 16/11/2022 và ngày 07/01/2023 anh Đồng B1 B16 và anh Hoàng Văn T3 có xác lập hợp đồng vay tài sản số tiền anh B17anh T vay hai lần tổng số tiền gốc là 350.000.000 đồng, các lần vay tiền anh T đều ký và điểm chỉ vào phần người vay tiền, hai bên giao nhận tiền bằng hình thức chuyển khoản. HĐXX xét thấy giao dịch dân sự được xác lập giữa hai bên hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 116 của Bộ luật dân sự năm 2015. Khi tham gia giao dịch dân sự anh B21anh T đều có đủ năng lực hành vi dân sự, mục đích và nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội, người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định tại Điều 117 của Bộ luật dân sự. Kể từ khi vay tiền xong đến hạn trả nợ như hai bên thỏa thuận trong giấy vay tiền, phía anh T đã trả được một phần số tiền gốc của hai lần vay là 10.784.000 đồng, số tiền lãi đã trả tính đến ngày 07/02/2023 là 10.216.000 đồng. Còn nợ lại số tiền gốc là 339.216.000 đồng, kể từ đó anh T7trả thêm anh B đồng nào tiền gốc và lãi. Nay anh B9kiện yêu cầu anh Hoàng Văn T3 phải trả cho anh B19tiền gốc còn nợ là 339.216.000 đồng. Phía bị đơn anh T xác nhận tổng số lần vay tiền và số tiền gốc còn nợ của anh B là đúng, nhưng do khó khăn nên xin trả dần. Xét thấy việc anh T vay tiền của anh B4 đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc như thỏa thuận ghi trong giấy vay tiền, anh B khởi kiện đề nghị Tòa án buộc anh Hoàng Văn T3 phải trả số tiền gốc còn nợ là 339.216.000 đồng là có căn cứ là phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 470 của Bộ luật dân sự cần chấp nhận.

*Về yêu cầu tính tiền lãi: Anh Đồng B1 B23cầu anh Hoàng Văn T3 phải trả tiền lãi trên số tiền gốc vay còn nợ là 339.216.000 đồng kể từ ngày 07/02/2023 tính đến ngày xét xử 17/4/2024 là 01 năm 02 tháng 10 ngày mức tính lãi là 1,5%/tháng, số tiền lãi là 72.931.400 đồng. Phía anh T28ý trả tiền lãi theo yêu cầu của anh B24do điều kiện kinh tế khó khăn nên xin được trả dần. Xét thấy việc anh T22tiền của anh B25giấy vay tiền có ghi lãi suất hai bên thỏa thuận là 1,5%/tháng, phía anh T sau khi vay tiền đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền lãi như thỏa thuận. Anh B yêu cầu tính lãi mức 1,5%/ tháng tính tiền lãi từ ngày 07/02/2023 đến ngày xét xử, số tiền lãi trên là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.

*Về nghĩa vụ trả tiền: Xét thấy việc anh Hoàng Văn T16 sử dụng mục đích cá nhân, khi vay tiền không bàn bạc với chị T11, chị T2không được biết, ký các giấy vay tiền, không đồng ý cùng anh T trả nợ. Xét khoản nợ anh T vay của anh B26sinh trong thời kỳ hôn nhân chung sống giữa chị T2và anh T, tuy nhiên phía anh B27yêu cầu anh T có trách nhiệm trả khoản nợ này, chị T2cũng không đồng ý trả nợ cùng anh T17 vậy HĐXX xác định đây là khoản nợ riêng của anh T cần buộc anh T phải trả cho anh B28số tiền gốc và lãi tính đến ngày xét xử là 412.147.400 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về lãi suất phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Do yêu cầu khởi kiện của anh Đồng B1 B29chấp nhận, nên anh B30phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả anh Đồng B1 B19tiền 10.400.000 đồng ( Mười triệu, bốn trăm nghìn đồng) ngày 22/01/2024 đã nộp tạm ứng án phí theo biên lại thu số 007308 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

Buộc anh Hoàng Văn T18 20.485.800 đồng (Hai mươi triệu, bốn trăm tám mươi lăm nghìn, tám trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[6] Về ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 470, Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Đ B18B

Buộc anh Hoàng Văn T3 phải trả anh Đồng B1 B19tiền nợ gốc là 339.216.000 đồng (Ba trăm ba mươi chín triệu, hai trăm mười sáu nghìn đồng) và tiền lãi là 72.931.400 đồng ( Bẩy mươi hai triệu, chín trăm ba mươi mốt nghìn bốn trăm đồng). Tổng cộng là 412.147.400 đồng (Bốn trăm mười hai triệu, một trăm bốn mươi bẩy nghìn, bốn trăm đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Anh Đ B31phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả anh Đồng B1 B19tiền 10.400.000 đồng (Mười triệu, bốn trăm nghìn đồng) ngày 22/01/2024 đã nộp tạm ứng án phí theo biên lại thu số 0007308 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

Buộc anh Hoàng Văn T3 phải chịu 20.485.800 đồng ( Hai mươi triệu, bốn trăm tám mươi lăm nghìn, tám trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3.Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lạng Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Quỳnh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/DS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 15/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: anh B, anh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger