Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VẠN NINH

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/DSST
Ngày 16 tháng 7 năm 2024
“V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Ngọc Qúy

Ông Phạm Tám

- Thư ký phiên tòa: Bà HồThị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tiến Huynh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 03/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST - DS ngày 06 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2024/QĐXXST - DS ngày 02 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng N1; Địa chỉ trụ sở: B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Địa chỉ liên hệ: Khu phố chợ V1, T, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V; Chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thanh T; Chức vụ Trưởng phòng Khách hàng Ngân hàng N1 (Theo giấy ủy quyền số: 1631/NHNo. VN ngày 09/11/2023). Có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc M, sinh năm: 1978; hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố số I, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 13/11/2023 gửi đến Tòa án ngày 22/11/2023 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng N1 là bà Nguyễn Thanh T trình bày: Ông Nguyễn Quốc M được Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện V cấp tín dụng với khoản vay như sau: Hợp đồng tín dụng số 4705LAV201801614 ngày 24/05/2018 số tiền vay 120,000,000 đồng (Bằng chữ: Một trăm hai mươi triệu đồng); Mục đích vay: Sửa chữa nhà ở; Thời hạn vay 60 tháng, hạn trả cuối cùng là: 24/05/2023; Tài sản bảo đảm: Không. Lãi suất vay tại thời điểm ký HĐTD 10%/năm.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông M đã vi phạm hợp đồng, từ ngày 20/11/2020 không trả nợ cho ngân hàng theo đúng như thỏa thuận.

Từ ngày 01/08/2023 đến nay ngân hàng đã nhiều lần liên lạc, đôn đốc ông Nguyễn Quốc M trả nợ nhưng ông M có thái độ không hợp tác với Ngân hàng trong quá trình giải quyết nợ vay.

Tính đến 09/11/2023, ông M còn nợ Ngân hàng số tiền là: 60,286,097 đồng (Bằng chữ: Sáu mươi triệu hai trăm tám mươi sáu nghìn không trăm chín mươi bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc: 39,508,000 đồng ( Ba mươi chín triệu năm trăm lẻ tám ngàn không trăm đồng); Nợ lãi trong hạn: 17,618,827 đồng; Nợ lãi quá hạn: 3,159,270 đồng. Sau đó ông M tiếp tục trả nợ cho ngân hàng được vài lần thì không trả nợ nữa.

Tính đến ngày xét xử là ngày 16/07/2024, ông Nguyễn Quốc M còn nợ Ngân hàng số tiền là 54.640.721 đồng (Bằng chữ: Năm mươi bốn triệu sáu trăm bốn mươi nghìn bảy trăm hai mươi mốt đồng). Trong đó, N gốc: 30.703.000 đồng (Ba mươi triệu bảy trăm lẻ ba nghìn đồng); nợ lãi trong hạn: 20.485.435 đồng (Hai mươi triệu bốn trăm tám mươi lăm nghìn bốn trăm ba mươi lăm đồng); nợ lãi quá hạn: 3.452.286 đồng (ba triệu bốn trăm năm mươi hai nghìn hai trăm tám mươi sáu đồng).

Nay bà Nguyễn Thanh T yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Nguyễn Quốc M trả cho Ngân hàng một lần toàn bộ số tiền gốc và lãi, tính đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 16/7/2024 với số tiền là 54.640.721 đồng (Bằng chữ: Năm mươi bốn triệu sáu trăm bốn mươi nghìn bảy trăm hai mươi mốt đồng), đồng thời ông M còn phải trả tiền lãi phát sinh tính từ ngày 17/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng mà các đã ký kết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã xác minh, tống đạt hợp lệ nhiều lần các giấy triệu tập và các văn bản tố tụng đối với bị đơn ông Nguyễn Quốc M để lấy lời khai, để kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn ông Nguyễn Quốc M đều không có mặt để làm việc theo giấy triệu tập, thông báo của Toà án, nên Toà án không lấy được lời khai của ông M, không tiến hành hòa giải được vụ án.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện V khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với ông Nguyễn Quốc M, sinh năm: 1978; hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố số I, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì đây là vụ án dân sự về thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

[1.2] Bị đơn ông Nguyễn Quốc M đã được Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông M.

[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

Mặc dù Tòa án không lấy được lời khai của bị đơn ông Nguyễn Quốc M, nhưng căn cứ Hợp đồng vay vốn mà ông M đã ký với Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện V và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có tại hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ để kết luận: Ông Nguyễn Quốc MNgân hàng N1 – Chi nhánh huyện V có ký kết Hợp đồng tín dụng số 4705LAV201801614 ngày 24/05/2018 số tiền vay 120,000,000 đồng (Bằng chữ: Một trăm hai mươi triệu đồng); Mục đích vay: Sửa chữa nhà ở; Thời hạn vay 60 tháng, hạn trả cuối cùng là: 24/05/2023; Tài sản bảo đảm: Không. Lãi suất vay tại thời điểm ký HĐTD 10%/năm; Đến hết ngày 16/07/2024 là 54,640,721 đồng ( Gốc: 30,703,000 đồng, lãi trong hạn: 20,485,435 đồng, lãi quá hạn: 3,452,286 đồng). Xét thấy, khi giao kết hợp đồng các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hợp đồng ký kết là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với các quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử công nhận.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 114.685.467 đồng; trong đó số tiền gốc là 89.297.000 đồng và tiền lãi là 25.388.467 đồng. Từ ngày 20/11/2020 bị đơn đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi như thỏa thuận mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở và làm việc với ông M để thanh toán các khoản nợ nhưng ông M vẫn không trả nợ. Tính đến ngày xét xử 17/6/2024, bị đơn còn nợ Ngân hàng số tiền là 54.640.721 đồng (Bằng chữ: Năm mươi bốn triệu sáu trăm bốn mươi nghìn bảy trăm hai mươi mốt đồng). Trong đó, N gốc: 30.703.000 đồng (Ba mươi triệu bảy trăm lẻ ba nghìn đồng); nợ lãi trong hạn: 20.485.435 đồng (Hai mươi triệu bốn trăm tám mươi lăm nghìn bốn trăm ba mươi lăm đồng); nợ lãi quá hạn: 3.452.286 đồng (ba triệu bốn trăm năm mươi hai nghìn hai trăm tám mươi sáu đồng). Như vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ quy định trong hợp đồng, gây ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ngoài ra, bị đơn còn phải trả cho Ngân hàng tiền lãi phát sinh tính từ ngày 17 tháng 7 năm 2024 cho đến khi thi hành án xong theo mức lãi suất đã được thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng.

[3] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí:

[4.1] Bị đơn ông Nguyễn Quốc M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền là (54.640.721 đồng x 5%) = 2.732.036 đồng (Hai triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn không trăm ba mươi sáu đồng).

[4.2] H lại cho Nguyên đơn Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện V số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.550.000 đồng (một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0006775 ngày 25/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 280; Điều 463; Điều 466 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 100; Điều 103 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện V buộc ông Nguyễn Quốc M phải trả cho Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện V số tiền là 54.640.721 đồng (Bằng chữ: Năm mươi bốn triệu sáu trăm bốn mươi nghìn bảy trăm hai mươi mốt đồng).

Trong đó: Nợ gốc: 30.703.000 đồng (Ba mươi triệu bảy trăm lẻ ba nghìn đồng); nợ lãi trong hạn: 20.485.435 đồng (Hai mươi triệu bốn trăm tám mươi lăm nghìn bốn trăm ba mươi lăm đồng); nợ lãi quá hạn: 3.452.286 đồng (ba triệu bốn trăm năm mươi hai nghìn hai trăm tám mươi sáu đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm là ngày 17 tháng 7 năm 2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng trên.

2. Về án phí:

2.1. Ông Nguyễn Quốc M phải chịu án dân sự sơ thẩm là 2.732.036 đồng (Hai triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn không trăm ba mươi sáu đồng).

2.2. Hoàn trả lại cho Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện V số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.550.000 đồng (Một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0006775 ngày 25/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh.

3. Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; quyền kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Khánh Hòa;

- VKSND tỉnh Khánh Hòa;

- VKSND huyện Vạn Ninh;

- Chi cục THADS huyện Vạn Ninh

(Sau khi án có hiệu lực pháp luật);

- Các đương sự;

- Lưu AV;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Phấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/DSST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 15/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 280; Điều 463; Điều 466 của Bộ luật Dân sự; Căn cứ khoản 2 Điều 100; Điều 103 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024; Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện V buộc ông Nguyễn Quốc M phải trả cho Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện V số tiền là 54.640.721 đồng (Bằng chữ: Năm mươi bốn triệu sáu trăm bốn mươi nghìn bảy trăm hai mươi mốt đồng). Trong đó: Nợ gốc: 30.703.000 đồng (Ba mươi triệu bảy trăm lẻ ba nghìn đồng); nợ lãi trong hạn: 20.485.435 đồng (Hai mươi triệu bốn trăm tám mươi lăm nghìn bốn trăm ba mươi lăm đồng); nợ lãi quá hạn: 3.452.286 đồng (ba triệu bốn trăm năm mươi hai nghìn hai trăm tám mươi sáu đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm là ngày 17 tháng 7 năm 2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng trên. 2. Về án phí: 2.1. Ông Nguyễn Quốc M phải chịu án dân sự sơ thẩm là 2.732.036 đồng (Hai triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn không trăm ba mươi sáu đồng). 2.2. Hoàn trả lại cho Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện V số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.550.000 đồng (Một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0006775 ngày 25/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh. 3. Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; quyền kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà xét xử phúc thẩm. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger