Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND HUYỆN SƠN ĐỘNG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HSST

Ngày 16 - 5 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG - TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Vi Quang Thái
  2. Bà Nguyễn Thị Bắc

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa:

Bà Sầm Thị Thao – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Động.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động tham gia phiên tòa:

Ông Hoàng Minh Đức – Kiểm sát viên sơ cấp.

Trong ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2024/TLST - HS, ngày 29 tháng 3 năm 2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXX- HSST, ngày 10 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2024/QĐXX- HSST, ngày 25 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Nhữ Đình L, sinh năm 1993

Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam.

Nơi sinh: Huyện S, tỉnh Bắc Giang. Nơi ĐKNKTT và hiện đang cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

Họ và tên cha: Nhữ Đình T; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T1; H và tên vợ: Nguyễn Thị X (đã ly hôn); Bị cáo có 01 con; Bị cáo có 06 anh chị em ruột, bản thân là con thứ sáu trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2024 đến ngày 08/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

2. Nhữ Đình Q, sinh năm 1991

Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam.

Nơi sinh: Huyện S, tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKNKTT và hiện đang cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

Họ và tên cha: Nhữ Đình K (Đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị B; Vợ con: Chưa có; Bị cáo có 07 anh chị em ruột, bản thân là con thứ bảy trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2024 đến ngày 08/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1989

Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam.

Nơi sinh: Huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKNKTT và hiện đang cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

Họ và tên cha: Nguyễn Văn I (đã chết); Họ và tên mẹ: Nhữ Thị L1; H và tên vợ: La Thị Việt C; Bị cáo có 03 con; Bị cáo có 06 anh chị em ruột, bản thân là con thứ sáu trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 21/QĐ-XPHC ngày 23/03/2021 của Công an huyện S, tỉnh Bắc Giang xử phạt 1.500.000đ về hành vi đánh bạc; Cùng ngày, Nguyễn Văn Q1 đã nộp phạt đủ số tiền 1.5000.000đ.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2024 đến ngày 08/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

4. Trần Quang L2, sinh năm 1963

Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam.

Nơi sinh: Huyện L, tỉnh Hà Nam; Nơi ĐKNKTT và hiện đang cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 7/10; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

Họ và tên cha: Trần Quang T2 (Đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị G; H và tên vợ: Nguyễn Thị M; Bị cáo có 03 con; Bị cáo có 07 anh chị em ruột, bản thân là con thứ tư trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2024 đến ngày 08/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

5. Nhữ Đình D, sinh năm 1985

Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam.

Nơi sinh: Huyện S, tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKNKTT và hiện đang cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công chức; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12.; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Đảng viên Đ1 (đã bị khai trừ ngày 19/4/2024).

Họ và tên cha: Nhữ Đình T; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T1; H và tên vợ: Nguyễn Thị M1; Bị cáo có 01 con; Bị cáo có 06 anh chị em ruột, bản thân là con thứ ba trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2024 đến ngày 08/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

6. Nhữ Đình T3, sinh năm 1982

Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam.

Nơi sinh: Huyện S, tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang; Nơi hiện đang tạm trú: Thôn L, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Giáo viên; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Đảng viên Đ1 (đã bị khai trừ ngày 02/5/2024).

Họ và tên cha: Nhữ Đình K (Đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị B; H và tên vợ: Nguyễn Thị T4; Bị cáo có 02 con; Bị cáo có 07 anh chị em ruột, bản thân là con thứ hai trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2024 đến ngày 08/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

7. Nguyễn Văn V, sinh năm 1970

Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam.

Nơi sinh: Huyện S, tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKNKTT và hiện đang cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp:

Làm ruộng; Trình độ văn hóa: Lớp 5/10; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

Họ và tên cha: Nguyễn Văn M2 (Đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị C1; H và tên vợ: Bùi Thị T5; Bị cáo có 02 con; Bị cáo có 10 anh chị em ruột, bản thân là con thứ 8 trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 20/12/2023 có hành vi đánh bạc. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 35/QĐ-XLVPHC ngày 01/02/2024 của Công an huyện S xử phạt 1.500.000đ về hành vi đánh bạc; Cùng ngày Nguyễn Văn V đã nộp phạt đủ số tiền 1.500.000đ.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2024 đến ngày 08/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Ngày 04/01/2024, tại gia đình ông Nhữ Đình T, sinh năm 1960 ở tại Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện S tổ chức lễ cưới cho con gái có mời mọi người và các bị cáo đến ăn cỗ cưới. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn cơm, uống rượu ở nhà ông T xong, Nhữ Đình L (là con trai ông T), Nguyễn Văn V, Nhữ Đình Q ngồi chơi uống nước tại rạp đám cưới. Trong lúc ngồi chơi uống nước, L, V và Q cùng rủ nhau sang nhà Nhữ Đình D ở gần đó để đánh bạc, cả ba đồng ý. L, V, Q đi sang nhà D (lúc này D không có ở nhà) và đi vào phòng ngủ thấy có 01 tấm thảm bằng vải để ở trên khúc gỗ nên L trải tấm thảm xuống nền nhà để ngồi đánh bạc; Q đi ra quán bán hàng tạp hóa ở gần đó mua 01 bộ bài lơ khơ. Sau khi Q mua bài về thì V, L, Q ngồi xuống tấm thảm đánh bạc bằng hình thức đánh liêng được thua bằng tiền, các đối tượng quy ước mỗi ván vào gà 10.000đ/01 người, tố cao nhất là 50.000đ. L, V, Q đánh bạc được một lúc thì lần lượt có Nhữ Đình D (chủ nhà), Trần Quang L2, Nguyễn Văn Q1, Nhữ Đình T3 đến và tham gia đánh bạc. Các đối tương trên cùng nhau đánh bạc liên tục đến 00 giờ 02 phút ngày 05/01/2024 thì bị Tổ công tác Công an huyện S phát hiện bắt quả tang, tang vật thu giữ gồm: Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 5.550.000đ, 01 bộ bài tú lơ khơ 51 lá và 01 chiếc thảm bằng vải có họa tiết hoa văn màu trắng. Thu giữ của các đối tượng 07 điện thoại di động các loại, 01 thẻ căn cước công dân mang tên Trần Quang L2, 01 xe mô tô và số tiền 39.004.000đ.

Hình thức đánh liêng như sau: Các đối tượng sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá để đánh bạc, mỗi ván người chơi bỏ ra số tiền gà là 10.000 đồng/01 người, tố cao nhất không quá 50.000 đồng, mỗi người chơi sẽ được chia 3 lá bài và người chia bài là người thắng ván bài trước. Trước khi chia bài, người chơi bỏ tiền gà vào giữa và được chia cho 03 lá bài. Sau khi lên bài, người chơi bắt đầu đánh bạc bằng việc úp bài (bỏ không chơi ván đó), theo (nghĩa là theo bằng tiền người tố trước đó) hoặc tố (nghĩa là tố cáo hơn số tiền người trước đó nhưng

không quá 50.000 đồng); thứ tự đánh theo ngược chiều kim đồng hồ và bắt đầu từ người chia bài. Người chơi tham gia tố đến khi không có ai theo (đã úp hết bài) thì người còn lại thắng ván đó hoặc từ 02 người chơi trở lên theo bằng tiền nhau thì mở bài để xác định thắng thua, bài ai cao nhất sẽ thắng ván đó và chia bài ván tiếp theo. Về thứ tự xác định bài từ lớn đến bé là S, L3, Ảnh, Đ. Trong đó: Sáp là có 03 lá bài giống nhau, sáp 222 là bé nhất, sáp AAA là lớn nhất; L3 là có 02 lá bài liên tiếp nhau, liêng A23 là bé nhất, liêng QKA là lớn nhất; Ảnh là có 03 bài người (J, Q, K); điểm là cộng 3 quân bài để tính, quân A tính là 01 điểm, từ quân 2 đến 9 tính theo thứ tự ghi trên mỗi quân bài, từ 10 đến K được tính là 0 điểm. Khi người chơi có bài giống nhau (liêng, ảnh, điểm) thì ưu tiên tính theo chất (theo thứ tự là rô, cơ, tép, bích).

2. Các đối tượng khai về hành vi đánh bạc và số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc như sau:

Nhữ Đình L khai: L là người trải thảm ra nền nhà để mọi người đánh bạc. L mang theo 28.835.000đ và sử dụng 1.435.000đ để đánh bạc. Khi Công an vào bắt quả tang, L đang hòa tiền, số tiền dùng để đánh bạc L để hết xuống chiếu bạc. Lợi giao nộp số tiền 27.400.000đ không sử dụng để đánh bạc.

Nhữ Đình Q khai: Q là người mua bài để mọi người đánh bạc. Quyết mang theo và sử dụng 1.335.000đ để đánh bạc. Khi Công an vào bắt quả tang thì Q đã thua hết tiền.

Nguyễn Văn Q1 khai: Q1 mang theo 10.179.000đ, số tiền sử dụng để đánh bạc là 1.035.000đ. Khi Công an vào bắt quả tang, Q1 đang thua khoảng 500.000đ, số tiền còn lại đã để hết xuống chiếu bạc. Quyết giao nộp số tiền 9.144.000đ không sử dụng để đánh bạc.

Trần Quang L2 khai: L2 mang theo và sử dụng 735.000đ để đánh bạc. Khi Công an vào bắt quả tang, L2 không rõ thắng hay thua, số tiền sử dụng để đánh bạc đã để hết xuống chiếu bạc.

Nhữ Đình D khai: D mang theo và sử dụng 595.000đ để đánh bạc. Khi Công an vào bắt quả tang, D không rõ thắng hay thua, số tiền sử dụng để đánh bạc đã để hết xuống chiếu bạc.

Nhữ Đình T3 khai: T3 mang theo 1.965.000đ, bỏ ra số tiền 585.000₫ để đánh bạc. Khi Công an vào bắt quả tang, T3 không rõ thắng hay thua, số tiền sử dụng để đánh bạc đã để hết xuống chiếu bạc. T3 giao nộp số tiền 1.380.000₫ không sử dụng để đánh bạc.

Nguyễn Văn V khai: Vạn mang theo và sử dụng 540.000đ sử dụng để đánh bạc. Khi Công an vào bắt quả tang, V đang thắng được 540.000đ. Vạn giao nộp số tiền 1.080.000đ là tiền sử dụng để đánh bạc.

3. Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Nhữ Đình L, Nhữ Đình Q, Nguyễn Văn Q1, Trần Quang L2, Nhữ Đình D, Nhữ Đình T3Nguyễn Văn V đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân và đồng phạm.

5. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động đã giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Nhữ Đình L, Nhữ Đình Q, Nguyễn Văn Q1, Trần Quang L2, Nhữ Đình D, Nhữ Đình T3Nguyễn Văn V về tội “Đánh bạc” và đề nghị:

a) Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Nhữ Đình L từ 08 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Nhữ Đình Q từ 08 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Nguyễn Văn Q1 từ 07 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Trần Quang L2 từ 07 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Nhữ Đình T3 từ 06 đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Nhữ Đình D từ 06 đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Nguyễn Văn V từ 06 đến 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi cháp hành án, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/01/2024 đến ngày 08/01/2024.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo Nhữ Đình L, Nhữ Đình Q, Nguyễn Văn Q1, Trần Quang L2, Nhữ Đình D, Nhữ Đình T3Nguyễn Văn V mỗi bị cáo phải nộp số tiền từ 10 đến 13 triệu đồng sung công quỹ nhà nước.

Giao các bị cáo Nhữ Đình L, Nhữ Đình Q, Nguyễn Văn Q1Nhữ Đình D cho UBND thị trấn T, huyện S quản lý giáo dục trong thời gian thử thách; Giao bị cáo Nhữ Đình T3 cho UBND xã T, huyện S quản lý giáo dục trong thời gian thử thách; Giao bị cáo Trần Quang L2 cho UBND xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

b) Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: Số tiền 1.080.000₫ do Nguyễn Văn V giao nộp và số tiền 5.550.000đ thu giữ tại chiếu bạc.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 51 lá; 01 chiếc thảm bằng vải có họa tiết hoa văn màu trắng.

Trả lại cho: Nhữ Đình L số tiền 27.400.000đ; Nhữ Đình T3 số tiền 1.380.000đ; Nguyễn Văn Q1 số tiền 9.144.000đ, nhưng tạm giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án dân sự.

c) Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố Tụng hình sự; Điều 21 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội, buộc các bị cáo Nhữ Đình L, Nhữ Đình Q, Nguyễn Văn Q1, Trần Quang L2, Nhữ Đình D, Nhữ Đình T3Nguyễn Văn V mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

6. Tại phiên tòa các bị cáo Nhữ Đình L, Nhữ Đình Q, Nguyễn Văn Q1, Trần Quang L2, Nhữ Đình D, Nhữ Đình T3Nguyễn Văn V đều thừa nhận bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Quá trình điều tra và truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Nhữ Đình L, Nhữ Đình Q, Nguyễn Văn Q1, Trần Quang L2, Nhữ Đình D, Nhữ Đình T3Nguyễn Văn V đều thành khẩn khai báo. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng đã được thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 00 giờ 02 phút ngày 05/01/2024, tại phòng ngủ của gia đình Nhữ Đình D, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S bắt quả tang Nhữ Đình L, Nhữ Đình Q, Nguyễn Văn Q1, Trần Quang L2, Nhữ Đình D, Nhữ Đình T3Nguyễn Văn V đang có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh liêng được thua bằng tiền. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 5.550.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 51 lá, 01 chiếc thảm bằng vải có hoạt tiết màu trắng; Ngoài ra thu giữ của các bị cáo 07 điện thoại di động các loại, 01 căn cước công dân mang tên Trần Quang L2, 01 xe mô tô và số tiền 39.004.000đ. Xác định tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 6.630.000 đồng (trong đó 5.550.000 đồng thu tại chiếu bạc và 1.080.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn V).

Bản Cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 28/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động truy tố các bị cáo Nhữ Đình L, Nhữ Đình Q, Nguyễn Văn Q1, Trần Quang L2, Nhữ Đình D, Nhữ Đình T3Nguyễn Văn V về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị về điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và án phí đối với các bị cáo là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo tham gia đánh bạc khi chưa được sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Các bị cáo tham gia đánh bạc bằng hình thức sát phạt nhau với lỗi cố ý nhằm thu lợi bất chính. Như vậy hành vi nêu trên của các bị cáo đã xâm phạm vào trật tự an toàn công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội và dễ gây ra các tệ nạn xã hội khác. Do đó, việc truy tố và đưa các bị cáo ra xét xử trước pháp luật là rất cần thiết để răn đe các bị cáo nói riêng và ngăn ngừa chung.

2. Về vai trò của các bị cáo trong vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Các bị cáo Nhữ Đình L, Nhữ Đình Q, Nguyễn Văn Q1, Trần Quang L2, Nhữ Đình D, Nhữ Đình T3Nguyễn Văn V tham gia đánh bạc không có sự bàn bạc thống nhất nên phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn.

Bị cáo Nhữ Đình L, Nhữ Đình Q là người khởi sướng, chuẩn bị công cụ và có số tiền nhiều nhất nên các bị cáo là người chịu vai trò chính; bị cáo Nguyễn Văn Q1, Trần Quang L2 có số tiền nhiều nên phải chịu vai trò sau Nhữ Đình L, Nhữ Đình Q; bị cáo Nguyễn Văn V, Nhữ Đình DNhữ Đình T3 là người tích cực tham gia chơi nên chịu vai trò thứ yếu trong vụ án.

Các bị cáo Nhữ Đình L, Nhữ Đình Q, Nguyễn Văn Q1, Trần Quang L2, Nhữ Đình D, Nhữ Đình T3Nguyễn Văn V phạm tội đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nhữ Đình L, Nhữ Đình Q, Nguyễn Văn Q1, Trần Quang L2, Nhữ Đình D, Nhữ Đình T3Nguyễn Văn V đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nhữ Đình D năm 2020 được Chủ tịch UBND tỉnh B tặng Bằng khen và có nhiều Giấy khen trong quá trình tham gia công tác nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với các bị cáo Nhữ Đình L, Nhữ Đình Q, Trần Quang L2, Nhữ Đình D, Nhữ Đình T3 đều có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo Nguyễn Văn Q1 tuy có nhân thân xấu do bị xử lý hành chính nhưng bị cáo đã chấp hành xong nhiều năm, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Xét các bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Điều 65 của Bộ luật Hình sự là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn V có nhân thân xấu: Ngày 20/12/2023 có

hành vi đánh bạc, bị Công an huyện S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 35/QĐ-XLVPHC ngày 01/02/2024, xử phạt số tiền 1.500.000đ, cùng ngày bị cáo đã chấp hành xong; Bị cáo trong thời gian ngắn đã liên tục phạm tội, bị cáo thể hiện coi thường kỷ cương pháp luật, do đó cần phải áp dụng biện pháp cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đảm bảo tính giáo dục răn đe bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Các bị cáo phạm tội đồng phạm giản đơn, số tiền ít, căn cứ vào vai trò và số tiền của từng bị cáo dùng vào việc đánh bạc; Hội đồng xét xử cho bị cáo Nhữ Đình L, Nhữ Đình Q, Nguyễn Văn Q1, Trần Quang L2 ở mức đầu của khung hình phạt; Bị cáo Nhữ Đình D, Nhữ Đình T3Nguyễn Văn V ở mức đầu khởi điểm của khung hình phạt

3. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự phạt tiền từ 10 đến 50.000.000đ. Các bị cáo phạm tội với động cơ, mục đích hưởng lợi bất chính, do vậy cần phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo; Các bị cáo Nhữ Đình L, Nhữ Đình Q, Nguyễn Văn Q1, Trần Quang L2, Nhữ Đình D, Nhữ Đình T3Nguyễn Văn V mỗi bị cáo phải nộp số tiền 10.000.00₫ sung công quỹ nhà nước.

4. Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 27.400.000đ do Nhữ Đình L giao nộp được niêm phong trong phong bị thư ký hiệu B1; Số tiền 1.380.000đ do Nhữ Đình T3 giao nộp được niêm phong trong phong bị thư ký hiệu B4; Số tiền 9.144.000₫ do Nguyễn Văn Q1 giao nộp được niêm phong trong phong bị thư ký hiệu B11, các bị cáo không dùng vào việc đánh bạc nên cần trả lại cho các bị cáo, nhưng tạm giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án dân sự.

Đối với số tiền 1.080.000₫ do Nguyễn Văn V giao nộp được niêm phong trong phong bị thư ký hiệu B9 và số tiền 5.550.000đ thu giữ tại chiếu bạc được niêm phong trong phong bị thư ký hiệu A1. Các bị cáo đã dùng vào việc đánh bạc trái phép cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 51 lá và 01 chiếc thảm bằng vải có họa tiết hoa văn màu trắng thu giữ tại chiếu bạc. Các bị cáo dùng vào việc phạm tội, xét không có giá trị cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Các vật chứng đang được bảo quản tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh do Nhữ Đình L giao nộp; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu đen do Nhữ Đình Q giao nộp; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, Galaxy M32 màu đen và 01 xe mô tô nhãn hiệu HoDa, Wave an pha, biển kiểm soát 98L1-156.63 do Nhữ Đình T3 giao nộp; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO M3, màu đen và 01 căn cước công dân do Trần Quang L2 giao nộp; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A 57, màu đen do Nhữ Đình D giao nộp; 01

điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A76, màu xanh do Nguyễn Văn V giao nộp; 01 điện thoại Iphone 13 Promax, màu xanh do Nguyễn Văn Q1 giao nộp. Quá trình điều tra xác định những tài sản trên không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Ngày 27/02/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho các bị cáo là có căn cứ.

5. Về án phí: Các bị cáo Nhữ Đình L, Nhữ Đình Q, Nguyễn Văn Q1, Trần Quang L2, Nhữ Đình D, Nhữ Đình T3Nguyễn Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

8. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ai tố cáo, khiếu nại gì. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đúng quy định và hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Nhữ Đình L 10 (mười) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/5/2024.

Xử phạt: Nhữ Đình Q 10 (mười) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/5/2024.

Xử phạt: Nguyễn Văn Q1 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/5/2024.

Xử phạt: Trần Quang L2 từ 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/5/2024.

Xử phạt: Nhữ Đình T3 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/5/2024.

2. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Nhữ Đình D 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/5/2024.

3. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Nguyễn Văn V 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, bị cáo được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 05/01/2024 đến ngày 08/01/2024.

Giao các bị cáo Nhữ Đình L, Nhữ Đình Q, Nguyễn Văn Q1Nhữ Đình D cho UBND thị trấn T, huyện S quản lý giáo dục trong thời gian thử thách; Giao bị cáo Nhữ Đình T3 cho UBND xã T, huyện S quản lý giáo dục trong thời gian thử thách; Giao bị cáo Trần Quang L2 cho UBND xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

4. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nhữ Đình L, Nhữ Đình Q, Nguyễn Văn Q1, Trần Quang L2, Nhữ Đình D, Nhữ Đình T3Nguyễn Văn V mỗi bị cáo phải nộp số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung công quỹ nhà nước.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: Số tiền 1.080.000₫ do Nguyễn Văn V giao nộp và số tiền 5.550.000đ thu giữ tại chiếu bạc.

Trả lại cho: Nhữ Đình L số tiền 27.400.000đ; Nhữ Đình T3 số tiền 1.380.000đ; Nguyễn Văn Q1 số tiền 9.144.000đ, nhưng tạm giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án dân sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 51 lá và 01 chiếc thảm bằng vải có họa tiết hoa văn màu trắng.

Các vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động.

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố Tụng hình sự; Các bị cáo Nhữ Đình L, Nhữ Đình Q, Nguyễn Văn Q1, Trần Quang L2, Nhữ Đình D, Nhữ Đình T3Nguyễn Văn V mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Sơn Động;
  • - CQCSĐT Công an huyện Sơn Động;
  • - Chi cục THADS huyện SÐ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo và những người tham gia tố tụng;
  • - UBND thị trấn Tây Yên Tử; UBND xã Tuấn Đạo; UBND xã Nguyên Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HSST ngày 16/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG - TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 15/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG - TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quá trình điều tra và truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Nhữ Đình Lợi, Nhữ Đình Quyết, Nguyễn Văn Quyết, Trần Quang Liêm, Nhữ Đình Dương, Nhữ Đình Trưởng và Nguyễn Văn Vạn đều thành khẩn khai báo. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng đã được thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 00 giờ 02 phút ngày 05/01/2024, tại phòng ngủ của gia đình Nhữ Đình Dương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Động bắt quả tang Nhữ Đình Lợi, Nhữ Đình Quyết, Nguyễn Văn Quyết, Trần Quang Liêm, Nhữ Đình Dương, Nhữ Đình Trưởng và Nguyễn Văn Vạn đang có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh liêng được thua bằng tiền. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 5.550.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 51 lá, 01 chiếc thảm bằng vải có hoạt tiết màu trắng; Ngoài ra thu giữ của các bị cáo 07 điện thoại di động các loại, 01 căn cước công dân mang tên Trần Quang Liêm, 01 xe mô tô và số tiền 39.004.000đ. Xác định tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 6.630.000 đồng (trong đó 5.550.000 đồng thu tại chiếu bạc và 1.080.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn Vạn).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger