Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIAO THỦY

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:15/2024/HS-ST

Ngày: 16 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Xuân Trường;

Ông Đoàn Trung Tuyến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Lê Huân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Xuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Đinh Văn Q, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1971 tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm H, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn Đ và bà Ngô Thị M; vợ là Phạm Thị C, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15 tháng 12 năm 2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện G “có mặt”.
  2. Phạm Văn H, sinh ngày 16 tháng 02 năm 1965 tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm H, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H1 và bà Đoàn Thị R (đều đã chết); vợ là Đỗ Thị N, có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15 tháng 12 năm 2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện G; “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 15 tháng 12 năm 2023, bị cáo Phạm Văn H đi bộ một mình sang nhà bị cáo Đinh Văn Q mục đích rủ Q cùng góp tiền để mua ma túy về sử dụng (H và Q đều là đối tượng nghiện chất ma túy). H đưa cho Q 100.000 đồng, Q cầm tiền rồi cùng H đi bộ đến khu vực đê biển Trung ương thuộc địa phận xóm X, xã G, huyện G mua được 02 gói Heroine với giá 200.000 đồng (trong đó Q có 100.000 đồng và 100.000 đồng của H). Sau đó Q cầm 02 gói Heroine cất vào túi quần dài bên phải đang mặc rồi cùng H đi về. Khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, khi Q và H đang về thì bị tổ tuần tra của Công an xã G kiểm tra, phát hiện. Quá trình kiểm tra, Q tự giác giao nộp 02 gói nhỏ, bên ngoài đều gói bằng giấy vở học sinh, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng cho tổ tuần tra và khai nhận đó là H2 do Q và H góp mỗi người 100.000 đồng để Q đi mua về cho cả hai cùng sử dụng. Tổ tuần tra đã mời người chứng kiến và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Q và H, thu giữ 02 (hai) gói chất bột dạng cục màu trắng, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “M”.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với 02 gói chất bột dạng cục màu trắng đã thu giữ của Đinh Văn Q được niêm phong ký hiệu M.

Tại bản kết luận giám định số:16/KL-KTHS ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 02 (hai) gói nhỏ, bên ngoài đều gói bằng giấy vở học sinh, trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám định đều là ma tuý. Loại ma tuý: Heroine (H). Tổng khối lượng mẫu M: 0,296 gam.”

Tại Cơ quan Cơ quan điều tra Công an huyện G và tại phiên toà, Đinh Văn QPhạm Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình như đã nêu trên

Bản Cáo trạng số: 15/CT-VKS ngày 18- 3- 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy đã truy tố các bị cáo Đinh Văn QPhạm Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đinh Văn QPhạm Văn H; tuyên bố các bị cáo Đinh Văn QPhạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt Đinh Văn Q từ 18 đến 21tháng tù, xử phạt Phạm Văn H từ 21 đến 24 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với cả 02 bị cáo. Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị tịch thu cho tiêu hủy số ma tuý trong phong bì thư niêm phong hoàn trả mẫu vật hoàn trả sau giám định.

Các bị cáo Đinh Văn QPhạm Văn H không tự bào chữa, tranh luận gì, tỏ rõ sự ăn năn hối lỗi và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết hợp với kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 15-12-2023, tại khu vực đê biển Trung ương thuộc xóm X, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định, Đinh Văn QPhạm Văn H có hành vi cất giấu trái phép 0,296 gam Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân.
  3. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo có đủ khả năng nhận thức ma túy là hiểm họa của mỗi gia đình và cộng đồng xã hội là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gia tăng tội phạm hình sự, xâm phạm tới đạo đức và sức khỏe con người. Các bị cáo biết việc làm của các bị cáo bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện đi mua ma túy về để sử dụng cho bản thân dẫn tới phạm tội.
  4. Từ các căn cứ trên, đủ cơ sở xác định các bị cáo Đinh Văn QPhạm Văn H phạm tội phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định là phù hợp và đúng quy định pháp luật.
  5. Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đinh Văn QPhạm Văn H là đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ. H và Q đều là người nghiện ma tuý, H là người rủ Q đi mua ma tuý, đưa tiền cho Q để chung nhau mua ma tuý về sử dụng, Q là người trực tiếp mua ma tuý và giữ ma tuý để cả 2 cùng sử dụng. Vì thế, bị cáo Đinh Văn Q và bị cáo Phạm Văn H có vai trò ngang nhau trong vụ án.
  6. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Đinh Văn QPhạm Văn H, không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi nên đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Hai bị cáo đều có đơn trình bày điều kiện gia đình khó khăn được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận, bị cáo Đinh Văn Q có bố và mẹ đều là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương và Bằng khen, bị cáo Phạm Văn H là người ốm đau bệnh tật; nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  7. Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ Luật hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt, theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là tương xứng đối với mỗi bị cáo, đủ tác dụng cải tạo các bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
  8. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đều là người nghiện ma túy, nghề nghiệp không ổn định, thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  9. Về xử lý vật chứng của vụ án: Số Heroine là vật nhà nước cấm tàng trữ và lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy.
  10. Về nguồn gốc 02 gói Heroine thu giữ của Đinh Văn QPhạm Văn H, Q và H đều khai nhận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15-12-2023 Q và H đi bộ đến khu vực đê biển Trung ương thuộc xóm X, xã G mua của một người đàn ông Q và H không biết tên, tuổi địa chỉ với giá 200.000 đồng. Quá trình điều tra, không xác định được người đã bán heroine cho Q và H nên Cơ quan CSĐT Công an huyện G không có căn cứ xử lý.
  11. Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
  12. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; tuyên bố: Các bị cáo Đinh Văn QPhạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • - Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn Q 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15-12-2023.
    • - Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15-12-2023.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma tuý hoàn trả mẫu vật sau giám định (Vật chứng được ghi chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng số: 33 lập ngày 18-3-2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).
  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc: Các bị cáo Đinh Văn QPhạm Văn H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo Đinh Văn QPhạm Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Giao Thủy;
  • - Chi cục THADS huyện Giao Thủy;
  • - Công an huyện Giao Thuỷ;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thanh Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 15/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; tuyên bố: Các bị cáo Đinh Văn Q và Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn Q 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15-12-2023. - Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15-12-2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger