TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 18/2024/HS-ST Ngày: 25-4-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tiến Dũng.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nông Văn Điển – Ông Phan Minh Đăng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dư Thị Kiều Uyên – Thư ký của Tòa án án nhân dân huyện Đạ Tẻh – Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Tẻh – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST – HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với:
- Bị cáo Vũ Văn T, sinh ngày: 24/04/2004, tại: Lâm Đồng. Đăng ký HKTT (Chỗ ở): TDP 7, TT. Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 8/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông: Vũ Văn T1, sinh năm 1957, con bà : Nhữ Thị P, sinh năm: 1960. Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không. Về nhân thân: Ngày 06/02/2020 bị Công an huyện Đ xử phạt cảnh cáo về hành vi đánh bạc. Ngày 07/05/2021 bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi đánh bạc. Bị cáo đã chấp hành xong. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại: TDP G, TT Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Có mặt”.
- Bị cáo Chu Văn T2, sinh ngày: 25/10/2000, tại: Đ - Lâm Đồng. Đăng ký HKTT (Chỗ ở): Thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: lao động tự do. Trình độ văn hóa: 9/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông: Chu Văn T3, sinh năm 1967, con bà: Phạm Thị L, sinh năm: 1972. Vợ: Phạm Thị P1, sinh năm 2001, bị cáo có 01 con, sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại Thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Có mặt”.
- Bị cáo Hoàng Mạnh C, sinh ngày: 20/04/2001, tại: Đ - Lâm Đồng. Đăng ký HKTT (Chỗ ở): Thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: lái xe. Trình độ văn hóa: 7/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông: Hoàng Mạnh N, sinh năm 1971, con bà: Nghiêm Thị N1, sinh năm: 1971. Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại: Thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Có mặt”.
- Bị cáo Lê Văn H, sinh ngày: 14/02/2000, tại: Đ - Lâm Đồng. Đăng ký HKTT (Chỗ ở): Thôn F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: lái xe. Trình độ văn hóa: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông: Lê Văn L1, sinh năm 1973, con bà: Đinh Thị T4 (đã chết). Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại: Thôn F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 17 giờ 30 ngày 17/01/2024, tại phòng khách nhà Vũ Văn T thuộc TDP G, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, lực lượng Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang Vũ Văn T, Chu Văn T2, Lê Văn H, Hoàng Mạnh C đang ngồi đánh bạc bằng hình thức sử dụng bài tú lơ khơ chơi “cào cái” thắng thua bằng tiền, tang vật thu giữ quả tang tại chiếu bạc gồm: Số tiền mặt 14.900.000đ (Mười bốn triệu chín trăm ngàn đồng), 07 (bảy) bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng và 01 (một) chiếc chiếu cói có hoa văn màu xanh-đỏ-vàng. Kiểm tra người đối tượng Lê Văn H phát hiện số tiền 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng) H cất trong túi quần bên phải nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ, niêm phong tang vật theo quy định và đưa về trụ sở làm việc.
Tại Cơ quan điều tra các đối tượng khai nhận: Sáng ngày 17/01/2024, Vũ Văn T, Chu Văn T2, Lê Văn H và Hoàng Mạnh C cùng đi uống cà phê tại quán “Center” thuộc TDP E, thị trấn Đ, huyện Đ. Sau đó, H rủ đánh bài thắng thua bằng tiền tại nhà T thì T, T2 và C đều đồng ý. Trên đường về, T vào quán tạp hóa mua 03 bộ bài tú lơ khơ rồi đi về nhà, còn T2, H và C rủ nhau đi chơi bida, sau đó Thu mua cơm hộp và 04 bộ bài tú lơ khơ loại 52 lá rồi mang đến nhà T. Sau khi ăn cơm xong, Hoàng Mạnh Chí mượn Vũ Văn T 5.000.000 đ (Năm triệu đồng); Lê Văn H mượn T 3.000.000 đ(Ba triệu đồng) rồi H trả nợ cho Chu Văn T2 2.000.000 đ (Hai triệu đồng) đã mượn trước đó rồi T trải một chiếc chiếu cói ra nền nhà ở phòng khách và đem bài ra cùng H, C và T2 thống nhất cách thức chơi như sau: đánh bạc bằng hình thức “cào cái”, mỗi người được cầm cái 03 ván, hết ba ván bài thì sẽ đến người tiếp theo cầm cái, số tiền mỗi người được đặt cược mỗi ván bài từ 100.000 đ (một trăm ngàn đồng) đến 300.000 đ (Ba trăm ngàn đồng) trước khi chia bài ở trước mặt của người chơi. Người cầm cái chia cho mỗi người 3 lá bài để tính điểm, người chơi sẽ so điểm với người cầm cái, người cầm cái cao điểm hơn người chơi nào sẽ thắng số tiền người chơi đó bỏ ra cá cược và ngược lại, nếu người cầm cái thấp điểm hơn người chơi thì người cầm cái thua số tiền mà người chơi đã bỏ ra cá cược. Khi đánh bạc, các bị cáo đều để tiền sử dụng để đánh bạc trên chiếu bạc, đánh bạc đến 17 giờ 30 phút thì bị lực lượng Công an huyện Đ bắt quả tang.
Quá trình điều tra xác định số tiền các bị cáo sử dung để đánh bạc như sau:
Đối với Vũ Văn T sử dụng số tiền 6.900.000 đ (Sáu triệu chín trăm ngàn đồng) để trước mặt trên chiếu bạc để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang T đang thua, số tiền còn lại để trước mặt trên chiếu bạc là 6.500.000 đồng.
Đối với Hoàng Mạnh C, khi đến nhà T, C không có tiền, C hỏi mượn T số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng), C sử dụng hết số tiền 5.000.000đồng để trước mặt trên chiếu bạc để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang C đang thua, số tiền còn lại để trước mặt trên chiếu bạc là 900.000 đồng (Chín trăm ngàn đồng). Khi mượn tiền của T, C không nói sử dụng để đánh bạc.
Đối với Lê Văn H, khi đến nhà T, H mang theo số tiền 500.000đ, sau đó H hỏi mượn T số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) rồi trả nợ cho T2 2.000.000đ, số tiền còn lại 1.000.000₫ H để trước mặt trên chiếu bạc để đánh bạc. Còn số tiền 500.000₫ H để trong túi quần, nếu thua hết 1.000.000đồng thì sẽ lấy 500.000₫ trong túi quần ra đánh tiếp. Khi bị bắt quả tang, H đang thắng, số tiền trước mặt trên chiếu bạc là 1.300.000đ, H chưa lấy số tiền 500.000đồng trong túi quần ra để đánh bạc. Như vậy, tổng số tiền H sử dụng để đánh bạc là 1.500.000đồng. Khi mượn tiền của T, H không nói sử dụng để đánh bạc, H trả nợ cho T2 2.000.000₫ đã mượn trước đó.
Đối với Chu Văn T2, khi đến nhà T, T2 không có tiền, H trả nợ cho T2 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) đã mượn trước đó thì T2 sử dụng hết để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang H đang thắng nhưng không biết thắng bao nhiêu.
Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKSĐT ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng truy tố các bị cáo Vũ Văn T, Lê Văn H, Chu Văn T2, Hoàng Mạnh C về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Tẻh giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Văn T từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù, đề nghị xử phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng) đến 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Chu Văn T2, Lê Văn H từ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu) đến 40 (Bốn mươi triệu đồng).
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh C từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo không bị khấu trừ thu nhập.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Vào ngày 17/01/2024, Vũ Văn T, Lê Văn H, Chu Văn T2, Hoàng Mạnh C cùng nhau đánh bạc bằng hình thức “cào cái” thắng thua bằng tiền tại nơi ở của Vũ Văn T tại TDP G, thị trấn Đ, huyện Đ với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc 15.400.000đ (Mười lăm triệu bốn trăm ngàn đồng). Trong đó, Vũ Văn T sử dụng số tiền 6.900.000 đ, Hoàng Mạnh C sử dụng số tiền 5.000.000đ, Chu Văn T2 sử dụng số tiền 2.000.000 đ và Lê Văn H sử dụng số tiền 1.500.000₫ để đánh bạc.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tang vật thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của các bị cáo Vũ Văn T, Lê Văn H, Chu Văn T2, Hoàng Mạnh C phạm tội: “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Hành vi đánh bạc trái phép mà các bị cáo đã cố ý thực hiện với động cơ sát phạt lẫn nhau được thua bằng tiền nhằm tước đoạt tiền bạc của nhau là hành vi vi phạm pháp luật, là tệ nạn xã hội, Nhà nước nghiêm cấm đánh bạc dưới mọi hình thức. Đánh bạc là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn gia đình và các loại tội phạm khác ngoài xã hội, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và nếp sống văn minh tại địa phương. Trong vụ án này, các bị cáo cùng tham gia thực hiện tội phạm một cách tích cực, không có sự xúi giục và không có câu kết chặt chẽ vai trò của từng người, do đó đây là vụ án mang tính đồng phạm giản đơn, cùng cố ý thực hiện. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi phạm tội mà từng bị cáo đã thực hiện. Xét vai trò, trách nhiệm của từng bị cáo trong vụ án thấy rằng:
Đối với bị cáo Vũ Văn T về nhân thân: Ngày 06/02/2020 bị Công an huyện Đ xử phạt cảnh cáo về hành vi đánh bạc. Ngày 07/05/2021 bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi đánh bạc bị cáo đã chấp hành xong. Bị cáo T là chủ nhà đã mua 3 bộ bài và cho các bị cáo khác vay mượn tiền để đánh bạc. Đối với bị cáo Chu Văn T2 cũng đã chuẩn bị phương tiện phạm tội là bỏ tiền ra mua 4 bộ bài, mua 4 hộp cơm cho thấy T và T2 tham gia đánh bạc một cách tích cực. Do vậy, cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khởi đời sống xã hội một thời gian nhất định, đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật vừa giữ gìn an ninh trật tự, cải tạo giáo dục các bị cáo cũng như có tác dụng phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, riêng bị cáo T2 được hưởng thêm tình tiết giam nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với các bị cáo Lê Văn H, Hoàng Mạnh C cũng cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo Lê Văn H, Hoàng Mạnh C ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo thành người hữu ích là phù hợp Điều 65 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Trong vụ án này, T và đồng phạm đánh bạc tại nhà anh trai là Vũ Văn T5, tuy nhiên thời điểm T và đồng phạm đánh bạc anh T5 không có ở nhà, không biết. Trước khi đánh bạc, T cho C và T2 mượn tiền, sau đó T2 trả nợ tiền mượn trước đó cho H nhưng nên không không có căn cứ xử lý.
- [3] Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã tạm giữ các vật chứng sau:
- - 07 (bảy) bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng, 01(một) chiếc chiếu cói có hoa văn màu xanh - đỏ- vàng. Xét thấy, đây là những vật chứng các bị cáo dùng làm công cụ phạm tội, cần tích thu tiêu hủy là phù hợp điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Xét thấy đây là số tiền thu trên chiếu bạc và tiền bị cáo H dùng để đánh bạc, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Số tiền 15.400.000đồng, trong đó: 14.900.000đ (Mười bốn triệu chín trăm ngàn đồng) thu giữ tại chiếu bạc, 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng) tạm giữ trong túi quần bên phải Lê Văn H đang mặc.
- [4] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn T, Lê Văn H, Chu Văn T2, Hoàng Mạnh C phạm tội “Đánh bạc”.
- * Về hình phạt chính:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt các bị cáo Chu Văn T2 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 65 và Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 06 (Sáu) tháng tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tuyên án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 65 và Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh C từ 09 (Chín) tháng tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính tính từ ngày tuyên án.
- * Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Vũ Văn T số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), Lê Văn H số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), Chu Văn T2 số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), Hoàng Mạnh C số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng:
- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau: 07 (bảy) bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng, 01(một) chiếc chiếu cói có hoa văn màu xanh - đỏ- vàng.
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 15.400.000đồng, trong đó: 14.900.000₫ (Mười bốn triệu chín trăm ngàn đồng) thu giữ tại chiếu bạc, 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng) tạm giữ trong túi quần bên phải Lê Văn H đang mặc.
- Hiện những vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 01/4/2024; Đối với số tiền 15.400.000đồng (Mười lăm triệu bốn trăm ngàn đồng) trên hiện đang được tạm giữ tại tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ Tẻh số: 3949.0.1098084.00000 mở tại Kho bạc Nhà nước huyện Đ theo giấy ủy nhiệm chi lập ngày 02/4/2024.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Vũ Văn T, Lê Văn H, Chu Văn T2, Hoàng Mạnh C mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để xin xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Lê Tiến Dũng |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nông Văn Điển Phan Minh Đăng Lê Tiến Dũng
Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 18/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
