Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀNG ĐỊNH

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HNGĐ-ST

Ngày 15 - 8 - 2024

V/v ly hôn, tranh chấp con chung khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bẩy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Đình Công;

Bà Lương Thu Hương.

- Thư ký phiên toà: Bà Bế Thị Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Đoàn Đức Trọng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 26/2024/TLST - HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án số 349/2024/TB-TA ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định giữa các đương sự :

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thanh H, sinh năm 1980, có mặt;

Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn

- Bị đơn: Anh Hà Xuân T, sinh năm 1985, vắng mặt.

Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Hiện nay đang chấp hành án tại Đội 2, phân trại 3, Trại giam T1, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 11/3/2024, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các tài liệu đã được công khai tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thanh H trình bày: Chị và anh Hà Xuân T được tự do tìm hiểu, tự nguyện tiến tới hôn nhân mà không bị ai ép buộc, được tổ chức cưới xin theo phong tục tập quán của địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn vào ngày 04/4/2016. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên đến năm 2017, hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T không chịu tu chí làm ăn, chơi bời lêu lổng, nghiện ngập, cờ bạc, không có trách nhiệm với gia đình, mang tài sản gia đình đi cầm cố để có tiền sử dụng ma túy nhiều lần, chị H đã nhiều lần chuộc lại tài sản và khuyên bảo anh T nhưng anh T vẫn không thay đổi. Ngoài ra, chính bản thân anh T còn thừa nhận với chị H việc anh T ngoại tình và có con riêng ở bên ngoài. Đến năm 2023, anh T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và hiện đang chấp hành án tại Trại giam T1. Nay chị H nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Hà Xuân T.

Về con chung: Chị H và anh T có 01 con chung là cháu Hà Gia H1, sinh ngày 03/9/2016. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi. Không yêu cầu anh Hà Xuân T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung, cho vay chung, chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Chị Nguyễn Thanh H có đơn yêu cầu Tòa án không tổ chức, tiến hành phiên họp hòa giải.

Tại bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt và các tài liệu đã được công bố tại phiên tòa, bị đơn anh Hà Xuân T đồng ý với nguyên đơn về quan hệ hôn nhân, con chung và các vấn đề khác. Anh Tú khẳng định hiện đang chấp hành án nên anh đồng ý ly hôn với yêu cầu của chị H và giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi và anh có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các Điều 93, 94, 95, 96, 97 Bộ luật Tố tụng dân sự; trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự thực hiện đúng quy định tại Điều 195, 196 Bộ luật Tố tụng dân sự; đảm bảo về thời hạn chuẩn bị xét xử thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Nguyễn Thanh H, bị đơn anh Hà Xuân T đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định theo Điều 70, Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83; của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xử cho chị Nguyễn Thanh H được ly hôn với anh Hà Xuân T; về con chung: Giao con chung là cháu Hà Gia H1, sinh ngày 03/9/2016 cho chị Nguyễn Thanh H nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh Hà Xuân T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở; về tài sản chung, nợ chung và cho vay chung không ai đề nghị nên không giải quyết; về án phí, nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Hà Xuân T là bị đơn có đăng ký nhân khẩu thường trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định thẩm quyền thuộc Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt do đang chấp hành án tại trại giam T1. Căn cứ Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thanh H và anh Hà Xuân T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn vào ngày 04/4/2016, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

[3] Về nội dung vụ án: Về tình cảm giữa chị Nguyễn Thanh H và anh Hà Xuân T mâu thuẫn phát sinh từ năm 2017 đến nay. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng không hàn gắn được là do lối sống, cách sống và suy nghĩ không còn phù hợp, cụ thể là anh Hà Xuân T thường xuyên mang tài sản gia đình đi cầm cố để có tiền sử dụng ma túy. Đến năm 2023, anh Hà Xuân T vi phạm pháp luật và chấp hành án tại Trại giam T1, tỉnh Thanh Hóa, từ đó dẫn đến anh Hà Xuân T không thực hiện nghĩa vụ của chồng đối với vợ và gia đình. Vì vậy chị Nguyễn Thanh H yêu cầu ly hôn là có căn cứ.

[4] Xét lý do yêu cầu ly hôn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thanh H là do mục đích hôn nhân không đạt được, không ai còn mong muốn yêu thương, quan tâm chăm sóc nhau. Vì thế, khi nguyên đơn yêu cầu ly hôn thì bị đơn đã hoàn toàn nhất trí. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thanh H và cho chị Nguyễn Thanh H được ly hôn với anh Hà Xuân T.

[5] Xét yêu cầu giải quyết về con chung: Giữa anh Hà Xuân T và chị Nguyễn Thanh H đều thừa nhận có 01 con chung là cháu Hà Gia H1, sinh ngày 03/9/2016 và hiện đang ở với chị Nguyễn Thanh H. Theo đơn xin xét xử vắng mặt của anh Hà Xuân T, anh nhất trí và đề nghị giao con chung cho chị Nguyễn Thanh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến khi cháu đủ 18 tuổi và anh không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Hà Gia H1; anh Hà Xuân T có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

[6] Về tài sản chung, vay nợ chung, riêng: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Chị Nguyễn Thanh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, khoản 4 Điều 147, các Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thanh H được ly hôn với anh Hà Xuân T.

2. Về con chung: Giao cháu Hà Gia H1, sinh ngày 03/9/2016 cho chị Nguyễn Thanh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Hà Xuân T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thanh H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm để sung Ngân sách Nhà nước. Xác nhận chị H đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001823, ngày 26/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thanh H có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án, anh Hà Xuân T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Tràng Định;
  • - Chi cục THADS huyện Tràng Định;
  • - UBND xã Đại Đồng, H.Tràng Định; T.Lạng Sơn;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Bẩy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HNGĐ-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN về ly hôn, tranh chấp con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 15/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung H - T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger