Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 15/2024/KDTM-ST

Ngày: 15/7/2024

“Về việc: Tranh chấp hợp đồng

mua bán hàng hóa”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền Hòa

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Kình

- Bà Nguyễn Thị Thiên Thuận

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án quận Hoàn Kiếm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 08/2024/TLST-DS ngày 26/01/2024, về việc “Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hoá" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-DS ngày 15/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/QÐST-DS ngày 14/6/2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Công ty Cổ phần T(viết tắt là Công ty T1 chỉ trụ sở: B H, phường T, quận H, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đàm Tuấn A- Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền:

  1. Ông Nguyễn Thành L; sinh năm 1982 - CCCD số [...], do Cục cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 25/4/2021 - là Phó phòng kinh doanh Công ty Cổ phần T.

    (Theo giấy ủy quyền số 12/UQ-HBG ngày 04/12/2023).

    (Ông L1 mặt).

  2. Bà Nguyễn Thùy D; sinh năm 1985 - CCCD số [...], do Cục cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 10/5/2021 - là nhân viên Công ty Cổ phần T.

    (Theo giấy ủy quyền số 1007/2024/HĐUQ ngày 10/7/2024).

    (Bà D1 mặt).

* Bị đơn: Công ty TNHH C (viết tắt là Công ty C1 chỉ: K, quốc lộ E, phường C, Thành phố H, tỉnh Hải DươngNgười đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thế H Chức vụ: Giám đốc; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện ở: Số G, khu tập thể B, phường P, Thành phố H, tỉnh Hải Dương

(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/12/2023 và những Bản tự khai, đơn trình bày tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Công ty Cổ phần T(viết tắt là công ty T2 kinh doanh về mặt hàng thép. Ngày 02/01/2019 Công ty C(viết tắt là Công ty C2 ký kết Hợp đồng nguyên tắc về việc thỏa thuận mua bán thép số 06/HĐNT2019/HB-TA và Hợp đồng nguyên tắc về việc thỏa thuận mua bán thép 05/HB- 2020 ký ngày 02/01/2020 cùng với nội dung cụ thể như sau:

  • + Hàng hóa mua bán: Thép xây dựng, thép tấm, hình, thép cuộn, xà gồ các loại;
  • + Đơn giá: Được xác nhận thông qua báo giá có xác nhận của hai bên và thể hiện trên hóa đơn GTGT.
  • + Số lượng: Số lượng được xác định theo Biên bản giao nhận thực tế giữa hai bên.
  • + Chất lượng: Thép chính phẩm, chưa qua sử dụng, qui cách, kích cỡ theo tiêu chuẩn chất lượng do nhà sản xuất cung cấp.
  • + Điều khoản giao nhận: Khi có nhu cầu hàng hóa, Công ty C3 thông báo yêu cầu giao hàng bằng văn bản hoặc fax cho Công ty T3 đó nêu rõ số lượng, quy cách, chủng loại hàng hoá, thời gian giao nhận hàng ít nhất 02 (hai) ngày trước ngày dự kiến nhận hàng. Trên cơ sở thông báo giao hàng của Công ty C T1sẽ xác nhận và thông báo lịch giao hàng cụ thể. Trong trường hợp có bất kỳ sự thay đổi nào, hai bên sẽ thảo luận và thống nhất lịch giao hàng khác. Bảng thông báo giao hàng có xác nhận của đại diện hai bên bằng văn bản hoặc qua fax được xem là một bộ phận không thể tách rời của Hợp đồng và có giá trị như Hợp đồng. Số lượng hàng giao thực tế sẽ căn cứ theo Biên bản giao nhận có xác nhận của hai bên bằng văn bản.
  • + Điều khoản thanh toán: Công ty C4 bảo thanh toán 100% giá trị từng đơn hàng cho Công ty T4 thỏa thuận được xác nhận trong báo giá giữa hai bên sau khi Công ty Cnhận đủ hàng hóa, Biên bản giao nhận hàng hóa và Hóa đơn GTGT do Công ty T5 cấp.

Nếu Công ty Cthanh toán trễ hạn thì Công ty T6 quyền yêu cầu Công ty C5 nợ quá hạn và tiền lãi phạt quá hạn là 1.2%/tháng trên tổng số tiền quá hạn và các khoản tiền bồi thường do việc Công ty Cchậm trễ thanh toán gây ra. Đồng thời Công ty T1sẽ tạm ngưng cung cấp hàng cho Công ty C6 tới khi Công ty Cthanh toán mọi khoản nợ quá hạn, lãi phạt và các khoản tiền bồi thường cho Công ty T

  • + Hạn thanh toán: Ngày 10 dương lịch hàng tháng, hai bên cùng đối chiếu xác nhận lượng hàng ký gửi, kể cả lãi quá hạn thanh toán (nếu có). Biên bản đối chiếu số lượng hàng ký gửi là cơ sở cho những đợt thanh toán tiếp theo (nếu có phát sinh thêm số lượng) hoặc làm cơ sở giải quyết tranh chấp (nếu có). Việc xác nhận lượng hàng kỳ gửi phải được thực hiện xong trước ngày 20 (hai mươi) của tháng. Nếu quá thời hạn trên, Công ty C7 xác nhận số lượng thì xem như Công ty C8 nhận số liệu do Công ty T7 ra và Công ty T6 quyền tạm ngưng cung cấp hàng cho đến khi số lượng hàng hóa giữa hai bên được đối chiếu xong.

Nếu Công ty C2 nhu cầu phát sinh thêm số lượng hàng hóa, hai bên cùng xác nhận số lượng, chủng loại, thời hạn ký gửi (nếu có), điều kiện thanh toán đối với số lượng hàng hóa phát sinh thêm trong Phụ lục Hợp đồng.

Quá trình thực hiện Hợp đồng, Công ty T8 giao đủ hàng, đúng thời gian, bảo đảm chất lượng và đã thiện chí tạo mọi điều kiện để Công ty C9 hiện nghĩa vụ thanh toán của mình. Tuy nhiên, Công ty C7 thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T4 Hợp đồng nguyên tắc nêu trên, cụ thể: Theo quy định tại Điều 4.2 của Hợp đồng, Phiếu báo giá số PA/2019/08/002983 ngày 08/08/2019, Phiếu báo giá số PA/2019/12/003281 ngày 20/12/2019 và Phiếu báo giá số PA/2020/01/003329 ngày 16/03/2020. Công ty C2 trách nhiệm thanh toán cho Công ty T9 công nợ mua hàng ngay sau khi nhận hàng.

Sau khi hai bên ký kết Hợp đồng, Công ty T8 giao hàng cho Công ty Ccụ thể như sau:

  1. Ngày 13/8/2019 Công ty T8 giao cho Công ty C10 thép cụ thể như sau:
    • + 15.400kg Thép tấm 10x1500x6000, với đơn giá là 12.700đồng/kg;
    • + 1.520kg Thép tấm 16x2000x6000; với đơn giá là 13.227 đồng/kg;
    • + 8.300kg Thép tấm 1.500x6000; với đơn giá là 12.454,54 đồng/kg;

    Công ty T8 phát hành Hóa đơn giá trị gia tăng số 0003228 ngày 13/8/2019 cho Công ty C, với tổng số tiền VAT là 350.963.945 đồng.

  2. Ngày 10/01/2020 Công ty T8 giao cho Công ty C10 thép cụ thể như sau:
    • + 16.990kg Thép tấm Q345, 10x 1.500x6.000, với đơn giá là 12.136,36đồng/kg;
    • + 4.530kg Thép tấm Q345, 8x1.500x6.000; với đơn giá là 12.136,36 đồng/kg;

    Công ty T8 phát hành Hóa đơn giá trị gia tăng số 0003575 cho Công ty C, với tổng số tiền VAT là 287.291.914 đồng;

  3. Ngày 29/4/2020 Công ty T8 chuyển cho Công ty C10 thép cụ thể như sau:
    • + 2.980kg Thép tấm Q345 = 6x1.500 x 6.000, với đơn giá là 12.36,36 đồng/kg;
    • + 11.900kg Thép tấm Q345 = 8x1.500 x 6.000; với đơn giá là 12.36,36 đồng/kg;

    Công ty T8 phát hành Hóa đơn giá trị gia tăng số 000385 cho Công ty C, với tổng số tiền VAT là 198.647.941 đồng.

Tổng giá trị Hóa đơn giá trị gia tăng Công ty T8 phát hành cho Công ty C11 03 Hóa đơn trên là 836.903.800 đồng (tám trăm ba mươi sáu triệu, chín trăm linh ba nghìn, tám trăm đồng).

Theo quy định trong Hợp đồng thì khi bên Công ty T1giao hàng, xuất Hóa đơn thì bên bị đơn Công ty Cphải chuyển trả tiền hàng cho Công ty T10. Theo quy định tại khoản 4.2 Điều 4 của Hợp đồng quy định: “Bên B đảm bảo thanh toán 100% giá trị từng đơn hàng cho Bên A theo thỏa thuận được xác nhận trong báo giá giữa hai bên khi Bên B nhận đủ hàng hóa, Biên bản giao nhận hàng hóa và Hóa đơn giá trị gia tăng do Bên A cung cấp". Tuy nhiên, Công ty C12 thanh toán cho Công ty T11 số tiền là 286.900.453 đồng, cụ thể như sau:

Ngày 15/01/2020 Công ty C13 trả cho Công ty T12 tiền 31.9453.000 đồng; Ngày 16/01/2020 Công ty C13 trả cho Công ty T12 tiền 50.000.000 đồng; Ngày 16/01/2020 Công ty C13 trả cho Công ty T12 tiền 35.000.000 đồng; Ngày 16/9/2020 Công ty C13 trả cho Công ty T12 tiền 70.000.000 đồng; Ngày 09/02/2021 Công ty C13 trả cho Công ty T12 tiền 65.000.000 đồng; Ngày 30/6/2021 Công ty C13 trả cho Công ty T12 tiền 35.000.000 đồng - theo Sổ đối chiếu công nợ lập ngày 10/01/2022.

Ngày 10/01/2022 hai bên đã lập “Sổ đối chiếu công nợ” và xác định từ ngày 01/01/2021 đến ngày 31/12/2021 Công ty C14 nợ Công ty Tlsố tiền hàng là 550.003.347 đồng (Công ty T8 giao nộp cho Tòa án). Từ sau khi lập Sổ đối chiếu công nợ cho đến nay Công ty C15 thanh toán cho Công ty T13 dù lãnh đạo Công ty C16 đã nhiều lần hứa hẹn, cam kết trả nợ cho Công ty T1

Công ty T1đã nhiều lần đến làm việc và gặp trực tiếp Lãnh đạo của Công ty C17 thực hiện nghĩa vụ trả nốt tiền hàng cho Công ty C7 thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T4 đúng thời hạn đã thỏa thuận, đồng thời cũng không có thiện chí đưa ra được lộ trình thanh toán nào. (Khi Công ty T14 Lãnh đạo Công ty C18 hai bên không lập biên bản làm việc mà chỉ trao đổi trực tiếp với nhau), những lần tiếp theo thì Lãnh đạo Công ty C19 tránh không làm việc với Công ty C19 tránh không thanh toán tiền hàng cho Công ty T4 đúng thỏa thuận đã gây ra những khó khăn và thiệt hại lớn cho Công ty T

Tính đến ngày 30/11/2023, Tổng số nợ tiền hàng mà Công ty C20 chưa thanh toán cho Công ty T4 Hợp đồng mua bán đã được ký kết và thực hiện giữa hai bên là: 550.003.347 đồng (Năm trăm năm mươi triệu, không trăm linh ba nghìn, ba trăm bốn mươi bảy đồng) với thời gian quá hạn kéo dài 1.571 ngày.

Tại khoản 4.3 Điều 4 của Hợp đồng nguyên tắc quy định: “ nếu Bên B thanh toán trễ hạn thì Bên A có quyền yêu cầu Bên B thanh toán nợ quá hạn và tiền lãi phạt quá hạn là 1.2%/tháng, trên tổng số tiền quá hạn và các khoản tiền bồi thường do việc Bên B chậm trễ thanh toán gây ra. Đồng thời Bên A sẽ tạm ngừng cung cấp hàng cho bên B cho tới khi Bên B thanh toán mọi khoản nợ quá hạn, lãi phạt và các khoản tiền bồi thường cho Bên A".

Ngoài việc phải trả cho Công ty T15 tiền nợ gốc, Công ty C14 phải trả thêm tiền lãi do chậm thanh toán tiền hàng, cụ thể như sau:

Tạm tính đến ngày 15/5/2024, Công ty Cp H5 trả cho Công ty T11 số tiền là 853.321.423 đồng, trong đó: Nợ gốc là 550.003.347 đồng; nợ lãi là 303.318.076 đồng.

Vì vậy, Công ty T8 gửi đơn khởi kiện Công ty Cđến Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, đề nghị Tòa án giải quyết những nội dung sau:

  1. Buộc Công ty Cp H5 thanh toán trả cho Công ty T11 số tiền hàng còn nợ tạm tính đến ngày 15/5/2024 là 853.321.423 đồng (Ttrăm năm mươi ba triệu ba trăm hai mươi mốt nghìn bốn trăm hai mươi ba đồng), trong đó:
    • + Nợ gốc là: 550.003.347 đồng;
    • + Nợ lãi chậm thanh toán là: 303.318.076 đồng.
  2. Buộc Công ty Cphải tiếp tục trả lãi phát sinh theo thỏa thuận trong Hợp đồng kể từ ngày 16/5/2024 cho đến khi Công ty Ctrả xong khoản nợ cho Công ty T

Ngoài ra, nguyên đơn không yêu cầu gì khác.

* Bị đơn - Công ty TNHH C do ông Nguyễn Thế H - Giám đốc là người đại diện theo pháp luật:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy báo và các Văn bản tố tụng của Tòa án, báo C và Nguyễn Thế H1 người đại diện theo pháp luật của Công ty đến Tòa án để lấy lời khai, tham gia phiên họp về việc tiếp cận, giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, Công ty C do ông Nguyễn Thế H là người đại diện theo pháp luật không đến Tòa án, cũng không trình bày ý kiến của bị đơn trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không giao nộp các tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Tại phiên tòa:

* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu như đã trình bày ở trên và đề nghị Tòa án giải quyết những nội dung sau:

  1. Buộc Công ty Cp H5 trả cho Công ty T11 số tiền hàng còn nợ tạm tính đến ngày 15/7/2024 là: 902.794.600 đồng (Chín trăm linh hai triệu, bảy trăm chín mươi bốn nghìn sáu trăm đồng), trong đó:
    • + Nợ gốc là: 550.003.347 đồng;
    • + Nợ lãi chậm thanh toán là: 352.791.253 đồng.
  2. Buộc Công ty Cphải tiếp tục trả lãi phát sinh theo thỏa thuận trong Hợp đồng kể từ ngày 16/7/2024 cho đến khi Công ty Ctrả xong khoản nợ cho Công ty T

Ngoài ra, nguyên đơn không yêu cầu gì khác.

* Bị đơn - Công ty TNHH C21 ông Nguyễn Thế H2 đốc là người đại diện theo pháp luật:

Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, đảm bảo đúng các thủ tục tố tụng khác, việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đầy đủ, đúng quy định, đảm bảo đúng thời hạn xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản, thông báo, quyết định hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã hoãn phiên tòa lần 1 và ấn định thời gian xét xử vào hồi 08h30 ngày 15/7/2024 nhưng tại phiên tòa hôm nay, bị đơn Công ty C do ông Nguyễn Thế H - Giám đốc là người đại diện theo pháp luật vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty H5 bị đơn Công ty Cp H5 trả cho nguyên đơn Công ty T1tổng số tiền hàng còn nợ tạm tính đến ngày 15/7/2024 là: 902.794.600 đồng, trong đó: Nợ gốc là 550.003.347 đồng; nợ lãi là 352.791.253 đồng.

Công ty C14 phải tiếp tục trả tiền lãi theo lãi suất thỏa thuận trong các Hợp đồng kể từ ngày 16/7/2024 cho đến khi Công ty Ctrả xong khoản nợ cho Công ty T

Các đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả phần tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định.

[1]. Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật và thủ tục tố tụng:

1.1. Về thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn Công ty Cổ phần T1khởi kiện đối với bị đơn Công ty TNHH C ra Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm là nơi nguyên đơn có trụ sở chính để để giải quyết là hoàn toàn phù hợp với Điều 5 mục 5.4 của Hợp đồng thỏa thuận mua bán hàng hóa mà hai bên đã ký kết và phù hợp với quy định tại điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

1.2. Về quan hệ pháp luật:

Nguyên đơn Công ty Cổ phần T16 kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn Công ty TNHH C phải trả tiền mua hàng theo Hợp đồng mua bán hàng hóa đã ký kết giữa hai bên. Do đó, đây là quan hệ tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa pháp nhân với pháp nhân có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Vì vậy, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xác định đây là tranh chấp kinh doanh thương mại và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

1.3. Về thủ tục tố tụng:

Về việc xét xử vắng mặt bị đơn Công ty TNHH C Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị đơn Công ty TNHH C có trụ sở tại KM E, Q, phường C, Thành phố H, tỉnh Hải Dương và người đại diện theo pháp luật của Công ty Clà ông Nguyễn Thế H3 năm 1980 - chức vụ giám đốc; có địa chỉ thường trú tại số G tập thể B, Khu I, phường P, Thành phố H Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm đã ủy thác cho Tòa án nhân dân Thành phố Hải Dương lấy lời khai của người đại diện theo pháp luật của Công ty và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án quận H cho Công ty C22 theo kết quả xác minh ngày 21/03/2024 của Ủy ban phường C23, Thành phố H cung cấp: “...tại địa chỉ KM E, Q, phường C, Thành phố H, tỉnh Hải Dương, Công ty TNHH C không còn hoạt động, trụ sở của Công ty TNHH C không còn tại địa chỉ trên...”. Theo Biên bản xác minh ngày 21/03/2024 của Khu dân cư S, phường P, T: “ông Nguyễn Thế H3 năm 1980; có địa chỉ thường trú tại số G tập thể B, Khu I, phường P, Thành phố H Tuy nhiên, đại diện Tòa án Thành phố H và trưởng khu dân cư số 9 đến nhà ông H4 không có ai ở nhà, gọi cửa nhiều lần không có ai mở cửa...”. Tòa án Thành phố H tiến hành niêm yết hợp lệ các Thông báo, quyết định của Tòa án quận H, yêu cầu bị đơn đến Tòa án làm việc nhưng bị đơn Công ty Cvà ông Nguyễn Thế H1 người đại diện theo pháp luật của Công ty C24 mặt không có lý do tại tất cả các buổi làm việc của Toà án và cũng không giao nộp ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án.

Tòa án đã có Quyết định đưa vụ án ra xét xử vào 08h30' ngày 14/6/2024 nhưng bị đơn Công ty Cvắng mặt không có lý do. Tòa án đã có Quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian mở lại phiên tòa xét xử vụ án vào hồi 08h30' ngày 15/7/2024. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn Công ty C vẫn vắng mặt không có lý do.

Đồng thời, Tòa án đã áp dụng Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự để nguyên đơn tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về thời gian tham gia phiên tòa, phía nguyên đơn Công ty T có Văn bản gửi Tòa án về việc từ chối thủ tục đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về thời gian mở phiên tòa. Tòa án đã tiến hành thủ tục đăng tin trên cổng thông tin điện tử của Tòa án về thời gian mở phiên tòa, nhưng tại phiên tòa bị đơn Công ty C25 vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Công ty Clà có căn cứ và đúng quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty H5 trả số tiền hàng còn nợ theo các Hợp đồng nguyên tắc về việc thỏa thuận mua bán thép:

2.1. Xét các Hợp đồng nguyên tắc về việc thỏa thuận mua bán thép số 06/HĐNT2019/HB-TA ngày 02/01/2019 và Hợp đồng nguyên tắc về việc thỏa thuận mua bán thép số 05/HĐNT2019/HB-TA ngày 02/01/2020 ký giữa Công ty C, nhận thấy:

Tại thời điểm giao kết các Hợp đồng nguyên tắc về việc thỏa thuận mua bán thép giữa Công ty T1với Công ty C26 tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự. Các Hợp đồng trên đều do người đại diện theo pháp luật của hai bên ký kết. Hình thức của các Hợp đồng được lập bằng văn bản. Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với ngành nghề đăng ký kinh doanh của các bên nên xác định các Hợp đồng trên được giao kết hợp pháp có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định tại Điều 401 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2.2 Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của đại diện nguyên đơn, thể hiện giữa nguyên đơn Công ty T(bên A) và bị đơn Công ty C(bên B) có giao kết các Hợp đồng nguyên tắc về việc thỏa thuận mua bán thép số 06/HĐNT2019/HB-TA và Hợp đồng nguyên tắc về việc thỏa thuận mua bán thép số 05/HĐNT2019/HB-TA ngày 02/01/2020. Theo đó, bị đơn Công ty C(bên B) có mua của Công ty T (bên A) các sản phẩn hàng hóa là thép xây dựng, thép tấm, hình, thép cuộn, xà gồ các loại, cụ thể như sau:

  • Ngày 13/08/2019 Công ty T8 chuyển cho Công ty C
    • + 15.400kg Thép tấm (10 x 1500 x 6000) với đơn giá là 12.700đồng/kg;
    • + 1.520kg Thép tấm 16x2000x6000; với đơn giá là 13.227 đồng/kg;
    • + 8.300kg Thép tấm 1.500x6000; với đơn giá là 12.454,54 đồng/kg;

    Công ty T8 phát hành Hóa đơn số 0003228 cho Công ty C27 số tiền VAT là 350.963.945 đồng.

  • Ngày 10/01/2020 Công ty T8 chuyển cho Công ty C:
    • + 16.990kg Thép tấm Q345 (10x 1.500 x 6.000) với đơn giá là 12.136,36 đồng/kg;
    • + 4.530kg Thép tấm Q345 (8 x 1.500 x 6.000) với đơn giá là 12.136,36 đồng/kg;

    Công ty T8 phát hành Hóa đơn số 0003575 cho Công ty C27 số tiền VAT là 287.291.914 đồng;

  • Ngày 29/4/2020 Công ty T8 chuyển cho Công ty C:
    • + 2.980 kg Thép tấm Q345 (6 x 1.500 x 6.000) với đơn giá là 12.36,36 đồng/kg;
    • + 11.900kg Thép tấm Q345 (8 x 1.500 x 6.000) với đơn giá là 12.36,36 đồng/kg;

    Công ty T8 phát hành Hóa đơn số 000385 cho Công ty C27 số tiền VAT là 198.647.941 đồng.

Tổng giá trị hóa đơn GTGT Công ty T8 phát hành cho Công ty C11 03 Hóa đơn trên là 836.903.800 đồng.

Theo quy định tại khoản 4.2 Điều 4 của Hợp đồng: “Bên B đảm bảo thanh toán 100% giá trị từng đơn hàng cho Bên A theo thỏa thuận được xác nhận trong báo giá giữa hai bên khi Bên B nhận đủ hàng hóa, Biên bản giao nhận hàng hóa và hóa đơn GTGT do Bên A cung cấp".

Sau khi (bên A) Công ty T8 giao hàng và phát hành Hóa đơn GTGT cho (bên B) Công ty CĐến ngày 15/01/2020 Công ty C13 trả cho Công ty T12 tiền 31.9453.000 đồng; ngày 16/01/2020 Công ty C13 trả cho Công ty T12 tiền 50.000.000 đồng; n gày 16/01/2020 Công ty C13 trả cho Công ty T12 tiền 35.000.000 đồng; ngày 16/9/2020 Công ty C13 trả cho Công ty T12 tiền 70.000.000 đồng; ngày 09/02/2021 Công ty C13 trả cho Công ty T12 tiền 65.000.000 đồng; ngày 30/6/2021 Công ty C13 trả cho Công ty T12 tiền 35.000.000 đồng. Tổng số tiền Công ty C13 thanh toán cho Công ty T17 286.900.453 đồng.

Ngày 10/01/2022 hai bên lập “Sổ đối chiếu công nợ” và xác định từ ngày 01/01/2021 đến ngày 31/12/2021 Công ty C14 nợ Công ty T1số tiền hàng là 550.003.347 đồng. Từ sau khi lập “Sổ đối chiếu công nợ” cho đến nay Công ty Cchưa thanh toán nốt số tiền hàng cho Công ty T4 đúng thời hạn đã thỏa thuận.

Như vậy, cho thấy nguyên đơn đã thực hiện đúng nghĩa vụ trong Hợp đồng, do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn đã nhiều lần gửi văn bản yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn lại của Hợp đồng nhưng đến nay Công ty Ckhông thanh toán.

Bị đơn Công ty Cđã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do, điều đó cho thấy bị đơn đã từ bỏ nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh. Do đó, bị đơn phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ được quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Từ những căn cứ và nhận định nêu trên, có cơ sở khẳng định bị đơn đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng theo quy định tại Điều 50; Điều 55 của Luật Thương mại năm 2005 và Điều 440 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, việc nguyên đơn Công ty T16 kiện yêu cầu bị đơn Công ty Cthanh toán số tiền mua hàng còn thiếu 550.003.347 đồng (Năm trăm năm mươi triệu, không trăm linh ba nghìn, ba trăm bốn mươi bảy đồng) là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Công ty T yêu cầu Công ty C phải trả tiền lãi do chậm thanh toán tiền hàng theo quy định tại Điều 4.3 của Hợp đồng nguyên tắc mà hai bên đã ký kết là là 1,2%/tháng tương đương 14,4%/năm, tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 15/7/2024 là 352.791.253 đồng.

Theo quy định tại Điều 306 của Luật Thương Mại 2005, Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền yêu cầu thanh toán tiền lãi chậm trả, việc Công ty T1yêu cầu Công ty Cphải trả tiền lãi do chậm thanh toán tiền hàng là có căn cứ.

Xét, tại Điều 4.3, Điều 4 của các Hợp đồng nguyên tắc về việc thỏa thuận mua bán thép số 06/HĐNT2019/HB-TA và Hợp đồng nguyên tắc về việc thỏa thuận mua bán thép số 05/HĐNT2019/HB-TA ngày 02/01/2020, các bên thỏa thuận: “Nếu bên B thanh toán trễ thì bên A có quyền yêu cầu bên B thanh toán nợ quá hạn và tiền lãi phạt quá hạn là 1,2%/tháng trên tổng số tiền quá hạn và các khoản tiền bồi thường do việc bên B chậm trễ thanh toán gây ra. Đồng thời bên A sẽ tạm ngừng cung cấp hàng cho bên B cho tới khi bên B thanh toán mọi khoản nợ quá hạn, lãi phạt và các khoản tiền bồi thường cho bên A”.

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty T xác nhận tổng số tiền lãi phạt quá hạn đã tính theo đúng thỏa thuận trên. Hội đồng xét xử xét thấy việc thỏa thuận lãi phạt quá hạn là sự tự nguyện của các bên, số tiền lãi phạt quá hạn được tính theo đúng quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng NNghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán và thỏa thuận lãi phạt quá hạn của các bên tại các Hợp đồng và các Quyết định về mức lãi suất từng thời điểm của nguyên đơn Công ty T18 hiện tại Bảng tính tổng hợp gốc lãi. Vì vậy, nguyên đơn Công ty T yêu cầu bị đơn Công ty C thanh toán số tiền lãi phạt quá hạn của số tiền trên là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xác định tính đến ngày 15/7/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) Công ty C14 nợ Công ty T số tiền lãi chậm trả là 352.791.253 đồng.

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn Công ty C tiếp tục phải thanh toán khoản tiền lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận trong các Hợp đồng đã ký giữa hai bên kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm là ngày 16/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4.]. Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm: Phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ để chấp nhận.

[5] Về án phí: Bị đơn Công ty Cp H5 chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

Nguyên đơn Công ty T19 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 117; Điều 357; Điều 401 và Điều 440 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Điều 24; Điều 50; Điều 55 và Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005;
  • - Luật Thi hành án dân sự;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần T1đối với bị đơn Công ty TNHH C28 việc “Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa”.
  2. Buộc bị đơn Công ty TNHH C phải có trách nhiệm thanh toán trả cho nguyên đơn Công ty Cổ phần T1 số tiền hàng còn nợ của các Hợp đồng nguyên tắc về việc thỏa thuận mua bán thép số 06/HĐNT2019/HB-TA ngày 02/01/2019 và Hợp đồng nguyên tắc về việc thỏa thuận mua bán thép số 05/HĐNT2019/HB-TA ngày 02/01/2020, tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 15/7/2024 với tổng số tiền là 902.794.600 đồng (Chín trăm linh hai triệu, bảy trăm chín mươi bốn nghìn, sáu trăm đồng), trong đó:
    • + Nợ gốc là 550.003.347 đồng;
    • + Nợ lãi chậm trả là 352.791.253 đồng.
  3. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, kể từ ngày kế tiếp của ngày xét xử là ngày 16/7/2024 theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong các Hợp đồng cho đến khi tất toán xong toàn bộ khoản nợ.
  4. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

    Bị đơn Công ty TNHH C phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch là 39.084.000 đồng (Ba mươi chín triệu, không trăm tám mươi bốn nghìn đồng).

    Nguyên đơn Công ty Cổ phần T20 nhận lại 18.800.000 đồng (Mười tám triệu, tám trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp - theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006239 ngày 18 tháng 01 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.

  5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty Cổ phần T21 mặt bị đơn Công ty TNHH C29 án báo cho đương sự có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7bvà 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSNDQ.Hoàn Kiếm;
  • - Các đương sự;
  • - Thi hành án dân sự Q. Hoàn Kiếm;
  • - TANDTPHΝ;
  • - Lưu hồ sơ.
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hiền Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/KDTM-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 15/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa công ty T. và công ty C.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger