|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2024/HS-ST Ngày 15/4/2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hoa.
Ông Phạm Hoàng Tuấn.
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Vương Thị Đàm Chuyên - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 15 tháng 4 năm 2024 tại trụ sơ Toà án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thị Bích T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 28/8/1964 tại tỉnh Phú Thọ; Nơi thường trú: Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Số CCCD: [...] cấp ngày 11 tháng 4 năm 2021; Nơi cấp: Cục C2 về TTXH; Trình độ học vấn: 10/10; Nghề nghiệp: Hưu trí; Con ông: Trần Minh C (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T1 (Đã chết); Chồng: Trần Đ (Đã chết); Con: Có 01 con sinh năm 1988.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị H - Sinh năm 2002
Địa chỉ: khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. - Chị Kiều Thị Ngọc L, sinh năm 2005
Địa chỉ: khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. - Anh Lê Văn C1, sinh năm 1988
Địa chỉ: khu E, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
(Chị H, chị L, anh C1 có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 15 phút ngày 01/01/2024, tại đoạn đường Q thuộc khu D, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Tổ công tác Công an huyện P phát hiện có 02 người nữ giới có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, hai nữ giới khai báo tên tuổi địa chỉ là Nguyễn Thị H, sinh năm 2002, trú tại khu A xã P, huyện P và Kiều Thị Ngọc L, sinh năm 2005, trú tại khu H xã P, huyện P. Quá trình kiểm tra, tổ công tác đã lập biên bản sự việc và thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của H 01 mảnh giấy hình chữ nhật, một mặt có viết các chữ số và chữ viết bằng mực màu xanh, mặt sau có chữ màu đen. Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của L 01 mảnh giấy hình chữ nhật, một mặt có viết các chữ và số bằng mực màu xanh. L và H khai nhận, 02 mảnh giấy hình chữ nhật trên là 02 cáp đề mua của Trần Thị Bích T, sinh năm 1964, nhà ở khu A xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Đến 18 giờ 12 phút cùng ngày, tổ công tác Công an huyện P tiến hành kiểm tra chỗ ở của Trần Thị Bích T, phát hiện T vừa bán số lô, số đề cho Lê Văn C1, sinh năm 1988, trú tại khu E xã P, huyện P. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc và thu giữ của Cao 02 mảnh giấy màu trắng, một mặt có ghi chữ và số bằng mực bút bi màu xanh có chữ ký xác nhận của anh C1 và T. Thu giữ của Trần Thị Bích T: 01 tờ giấy trắng khổ A4, phía trên cùng in chữ BẢNG KÊ MỞ THƯỞNG XỔ SỐ LÔ TÔ và được ghi nhiều chữ, số bằng mực bút bi màu đen; số tiền 14.020.000đ( Mười bốn triệu không trăm hai mươi nghìn đồng); 12 mảnh giấy màu trắng, bên trên có dòng kẻ ; 10 mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt dòng đầu tiên có in chữ PHIẾU TRẢ VÉ HỦY XSKT MIỀN BẮC; 01 bút bi mực màu xanh ; 01 bút bi mực màu đen ; 01 Điện thoại di động OPPO Reno4 gắn thẻ sim số 0912.645.616 và 0988.632.486.
Quá trình điều tra, xác minh đã xác định: Hà Thị H1, sinh năm 1991, trú tại khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ ký hợp đồng làm đại lý xổ số với Công ty xổ số kiến thiết MTV tỉnh P. Sau đó, H1 uỷ quyền cho Trần Thị Bích T bán vé xổ số hộ H1 (T là mẹ chồng H1). Thời gian gần đây, do thấy việc bán vé xổ số có lợi nhuận không nhiều, nên ngoài bán vé xổ số cho công ty, T còn bán thêm số lô, số đề cho khách đi đường và tự mình làm chủ không chuyển bảng cho ai để kiếm thêm thu nhập. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 01/01/2024, T bắt đầu ngồi ở trước cửa nhà ở của mình tại khu A, xã P, huyện P để bán vé xổ số và bán số lô, số đề cho khách. Khoảng 17 giờ cùng ngày, có Nguyễn Thị H và Kiều Thị Ngọc L đến hỏi mua số đề của T, T đồng ý bán cho H và L. L mua các số đề “Đầu 5” gồm các số 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59 với tổng số tiền là 2.400.000₫ (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng), các số đề “Đít 5” gồm các số 05, 15, 25, 35, 45, 55, 65, 75, 85, 95 với tổng số tiền là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng). Tổng số tiền L mua số đề của T là 4.400.000đ (Bốn triệu bốn trăm nghìn đồng). Sau đó, T viết các số đề mà L mua vào tờ giấy có ghi dòng chữ: “BẢNG KÊ DỰ THƯỞNG XỔ SỐ LÔ TÔ” là bảng đề của mình, rồi viết các số đề L mua vào tờ giấy trắng được T cắt sẵn gọi là cáp đề. Sau khi L trả tiền xong, T đưa cáp đề cho L. Sau đó, H vào mua số đề. H mua các số đề “Đầu 8” gồm các số 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89 với tổng số tiền là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng), các số đề “Đít 8” gồm các số 08, 18, 28, 38, 48, 58, 68, 78, 88, 98 với tổng số tiền là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng). Tổng số tiền H mua số đề của T là 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng). Sau đó T viết các số đề H mua vào bảng đề, cáp đề tương tự như L mua. Khi H trả tiền thì T đưa cáp đề cho H. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, có Lê Văn C1 đến nhà hỏi mua số lô, số đề, T đồng ý bán. Cao mua số đề gồm các số 37, 73, 68, 86, 27, 72, 17, 71, 77, 22 mỗi số là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), tổng là 3.000.000đ ( Ba triệu đồng); Lô xiên 73-95-27 là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng); Lô xiên 59-73-72 là 500.000₫ (Năm trăm nghìn đồng). Tổng số tiền C1 mua số lô, số đề của T là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng). Sau khi viết các số lô, số đề Cao mua vào bảng đề, cáp đề và C1 trả tiền thì T đưa cáp đề lại cho C1. Đến khoảng gần 18 giờ cùng ngày, Cao lại đến nhà T để hỏi mua thêm số đề, T đồng ý bán cho C1. Cao hỏi mua thêm số đề 55 là 260.000₫ (Hai trăm sáu mươi nghìn đồng), các số đề 05, 50 mỗi số là 120.000đ (Một trăm hai mươi nghìn đồng). Tổng số tiền C1 mua thêm số đề của T là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Sau khi viết các số đề Cao mua vào bảng đề, cáp đề và C1 trả tiền thì T đưa cáp đề cho C1. Tổng số tiền C1 mua các số lô, số đề của T ngày 01/01/2024 là 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Ngoài bán số lô, số đề cho H, L và Cao ngày 01/01/2024, T còn bán số lô cho một số khách đi đường nhưng không xác định được tên, tuổi, địa chỉ.
Quá trình điều tra xác định, tổng số tiền T bán các vé số lô tô, số lô, số đề ngày 01/01/2024 theo bảng đề đã thu giữ, xác định được là 13.670.000₫ ( Mười ba triệu sáu trăm bảy mươi nghìn đồng). Trong đó xác định được số tiền T tự bán số lô, số đề là 13.500.000₫ (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng), gồm 12.900.000₫ (Mười hai triệu chín trăm nghìn đồng) là tiền T bán số lô, số đề cho L, H và C1; 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng) là tiền T bán số lô cho khách đi đường. Số tiền còn lại là 170.000₫ (Một trăm bảy mươi nghìn đồng), T bán các vé số lô tô tự chọn hai chữ số, bốn chữ số, số lô tô tự chọn hai cặp số của Công ty, T đã chuyển cho anh Nguyễn Phú H2 - sinh năm: 1990, trú tại khu N, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ là cán bộ phụ trách địa bàn huyện P của Công ty xổ số kiến thiết MTV tỉnh P. Anh H2 đã nhận chốt và chuyển về Công ty các vé xổ số tương ứng với số tiền bán vé số ngày 01/01/2024 là 170.000₫ (Một trăm bảy mươi nghìn đồng).
Về cách thức mua bán số lô, số đề, số tiền khách trúng thưởng và kết quả giải thưởng nếu trúng, T khai nhận:
Khi có khách đến hỏi mua số lô, số đề, T ghi các số lô, số đề cùng với số tiền khách mua vào tờ giấy khổ A4 gọi là "bảng đề" rồi viết các số lô, số đề khách mua vào mảnh giấy được cắt sẵn rồi đưa lại cho người mua gọi là "cáp đề". Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cuối ngày, T so sánh với bảng đề để xác định các số khách trúng thưởng. Khách trúng số đề tức là mua số đề trùng với hai số cuối của giải đặc biệt và sẽ được trả số tiền gấp 60 (sáu mươi) lần số tiền họ bỏ ra mua số đề; đối với số lô xiên đôi (gồm hai số) khách trúng thưởng được trả số tiền gấp 10 (mười) lần số tiền khách mua số lô xiên đó; số lô xiên ba (gồm ba số) khách trúng thưởng được trả số tiền gấp 40 (Bốn mươi) lần số tiền khách mua số lô xiên đó; số lô xiên bốn (gồm bốn số) khách trúng thưởng được trả số tiền gấp 100 (Một trăm) lần số tiền khách mua số lô xiên đó.
Ngoài lời khai nhận của bị cáo T, cùng các tài liệu, đồ vật đã thu giữ. Ngày 02/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã trưng cầu Phòng KTHS Công an tỉnh P giám định chữ viết, chữ số trên mẫu giám định so với chữ viết, chữ số của Trần Thị Bích T trên mẫu so sánh có phải cùng một người viết ra hay không.
Tại Bản KLGĐ số 09/KL-KTHS ngày 03/01/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh P kết luận: Chữ viết, chữ số (trừ chữ ký, họ tên: “Huyền, Nguyễn Thị H; L, Kiều Thị Ngọc L; Cao, Lê Văn C1”) trên các mẫu cần giám định so với chữ viết, chữ số của Trần Thị Bích T trên mẫu so sánh là do cùng một người viết ra.
Về động cơ, mục đích thực hiện hành vi phạm tội, Trần Thị Bích T khai nhận bán các số lô, số đề nhằm mục đích vụ lợi.
Về tài sản và thu nhập của bị cáo: Quá trình điều tra xác định, bị cáo Trần Thị Bích T là cán bộ hưu trí, mức lương hưu hàng tháng được hưởng đến thời điểm hiện tại là 5.401.000đ. Ngoài ra, bị cáo T có tài sản là nhà đất tại khu A xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Về đồ vật, vật chứng đã thu giữ:
Đối với số tiền 14.020.000đ (Mười bốn triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) hiện gửi tại tài khoản tạm giữ của Công an huyện P; 12 (Mười hai) mảnh giấy màu trắng, bên trên có dòng kẻ; 10 (Mười) mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt dòng đầu tiên có chữ: “PHIẾU TRẢ VÉ HỦY SXKT MIỀN BẮC”; 01 (một) bút bi mực màu xanh; 01 (một) bút bi mực màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno4, số IMEI 1: 867671055661730, số IMEI 2: 867671055661722, bên trong có gắn thẻ sim số: 0912.645.616 và thẻ sim số: 0988.632.486 là vật chứng phải xử lý của vụ án chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh theo quy định.
Đối với 01 (một) mảnh giấy màu trắng hai mặt có ghi chữ và số bằng mực bút bi màu xanh, có chữ ký xác nhận của Lê Văn C1 và Trần Thị Bích T; 01 (một) mảnh giấy màu trắng một mặt có ghi chữ và số bằng mực bút bi màu xanh, có chữ ký xác nhận của Lê Văn C1 và Trần Thị Bích T; 01 (một) mảnh giấy hình chữ nhật, một mặt có viết các chữ và số bằng mực màu xanh, một mặt có chữ màu đen có chữ ký xác nhận của Nguyễn Thị H; 01 (một) mảnh giấy hình chữ nhật, một mặt có viết các chữ và số bằng mực màu xanh, có chữ ký xác nhận của Kiều Thị Ngọc L; 01 (một) tờ giấy trắng khổ A4 trên cùng in chữ “BẢNG KÊ DỰ THƯỞNG XỔ SỐ LÔ TÔ” và được ghi nhiều chữ, số bằng mực bút bi màu đen nội dung bắt đầu là “9666 20K” kết thúc là “06 07 20K”, có chữ ký xác nhận của Trần Thị Bích T là giấy tờ, tài liệu chứng minh hành vi đánh bạc của bị can được chuyển theo hồ sơ vụ án.
Tại Bản cáo trạng số: 17/CT-VKSPN ngày 19/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Trần Thị Bích T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Thị Bích T phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng vào khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Thị Bích T từ 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) đến 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng).
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Thị Bích T.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b,c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 12 (Mười hai) mảnh giấy màu trắng, bên trên có dòng kẻ; 10 (Mười) mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt dòng đầu tiên có chữ: “PHIẾU TRẢ VÉ HỦY SXKT MIỀN BẮC”; 01 (một) bút bi mực màu xanh; 01 (một) bút bi mực màu đen.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước của bị cáo Trần Thị Bích T số tiền 13.500.000₫ (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Trả lại cho bị cáo Trần Thị Bích T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno4, số IMEI 1: 867671055661730, số IMEI 2: 867671055661722, bên trong có gắn thẻ sim số: 0912.645.616 và thẻ sim số: 0988.632.486 và số tiền 520.000đ (Năm trăm hai mươi nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) mảnh giấy màu trắng hai mặt có ghi chữ và số bằng mực bút bi màu xanh, có chữ ký xác nhận của Lê Văn C1 và Trần Thị Bích T; 01 (một) mảnh giấy màu trắng một mặt có ghi chữ và số bằng mực bút bi màu xanh, có chữ ký xác nhận của Lê Văn C1 và Trần Thị Bích T; 01 (một) mảnh giấy hình chữ nhật, một mặt có viết các chữ và số bằng mực màu xanh, một mặt có chữ màu đen có chữ ký xác nhận của Nguyễn Thị H; 01 (một) mảnh giấy hình chữ nhật, một mặt có viết các chữ và số bằng mực màu xanh, có chữ ký xác nhận của Kiều Thị Ngọc L; 01 (một) tờ giấy trắng khổ A4 trên cùng in chữ “BẢNG KÊ DỰ THƯỞNG XỔ SỐ LÔ TÔ” và được ghi nhiều chữ, số bằng mực bút bi màu đen nội dung bắt đầu là “9666 20K” kết thúc là “06 07 20K”, có chữ ký xác nhận của Trần Thị Bích T.
mặt có viết các chữ và số bằng mực màu xanh, có chữ ký xác nhận của Kiều Thị Ngọc L; 01 (một) tờ giấy trắng khổ A4 trên cùng in chữ “BẢNG KÊ DỰ THƯỞNG XỔ SỐ LÔ TÔ” và được ghi nhiều chữ, số bằng mực bút bi màu đen nội dung bắt đầu là “9666 20K” kết thúc là “06 07 20K”, có chữ ký xác nhận của Trần Thị Bích T.
Về án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Thị Bích T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị Bích T không có ý kiến gì về bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng:
Bị cáo Trần Thị Bích T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan điều tra - Công an huyện P, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi cấu thành tội phạm của bị cáo:
Trong khoảng thời gian từ 14 giờ đến 17 giờ 30 phút ngày 01/01/2024, tại nhà ở của mình thuộc khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Trần Thị Bích T có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số lô, số đề cho Nguyễn Thị H, Kiều Thị Ngọc L, Lê Văn C1 và một số khách đi đường với tổng số tiền là 13.500.000đ ( Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng) thì bị lực lượng Công an huyện P phát hiện và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi qui định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội qui định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Như vậy, hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức mua, bán số lô, số đề của bị cáo Trần Thị Bích T thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”.
[3]. Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thị Bích T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác cũng như ảnh hưởng đến kinh tế và hạnh phúc gia đình. Xong vì mục đích vụ lợi nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần quyết định mức hình phạt tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Thị Bích T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Thị Bích T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đó là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có bố đẻ là ông Trần Minh C là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba.
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cùng các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Bị cáo Trần Thị Bích T nhân thân không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là cán bộ hưu trí có thu nhập, có nơi cư trú rõ ràng do vậy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà có thể áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trần Thị Bích T vì bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền.
[4]. Đối với hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị H, Kiều Thị Ngọc L và Lê Văn C1 với số tiền dưới 5.000.000đ trong vụ án này, quá trình điều tra đã xác định: Kiều Thị Ngọc L và Lê Văn C1 đều chưa có tiền án, tiền sự; Nguyễn Thị H có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc, đã chấp hành xong từ năm 2022 đến nay đã được xóa tiền sự. Công an huyện P, tỉnh Phú Thọ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép hình thức mua số lô, số đề” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là phù hợp.
[5]. Về xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền 14.020.000đ (Mười bốn triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) thu giữ khi bắt quả tang bị cáo. Qua xác minh đã làm rõ số tiền 13.500.000₫ (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng) là tiền bị cáo bán số lô, số đề cho Nguyễn Thị H, Kiều Thị Ngọc L, Lê Văn C1 và một số khách đi đường; số tiền 170.000đ (Một trăm bảy mươi nghìn đồng), là số tiền bị cáo bán các vé số lô tô tự chọn hai chữ số, bốn chữ số, số lô tô tự chọn hai cặp số của Công ty xổ số kiến thiết MTV tỉnh P; số tiền 350.000₫ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) là số tiền bị cáo dùng để đi mua thức ăn cho gia đình không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do vậy, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước của bị cáo số tiền 13.500.000đ (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng); Trả lại cho bị cáo số tiền 520.000đ (Năm trăm hai mươi nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với 12 (Mười hai) mảnh giấy màu trắng, bên trên có dòng kẻ; 10 (Mười) mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt dòng đầu tiên có chữ: “PHIẾU TRẢ VÉ HỦY SXKT MIỀN BẮC”; 01 (một) bút bi mực màu xanh; 01 (một) bút bi mực màu đen là vật chứng không có giá trị vì vậy cần tịch thu và tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno4, số IMEI 1: 867671055661730, số IMEI 2: 867671055661722, bên trong có gắn thẻ sim số 0912.645.616 và thẻ sim số 0988.632.486 thu giữ của bị cáo: Bị cáo không sử dụng điện thoại trên để liên lạc mua bán số lô, số đề với Nguyễn Thị H, Kiều Thị Ngọc L, Lê Văn C1 mà bị cáo chỉ dùng để nhắn tin với anh Nguyễn Phú H2 là cán bộ phụ trách địa bàn huyện P của Công ty xổ số kiến thiết MTV tỉnh P để chuyển thông tin về việc các vé số lô tô tự chọn hai chữ số, bốn chữ số, số lô tô tự chọn hai cặp số của Công ty trong ngày 01/01/2024. Do vậy cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với 01 (một) mảnh giấy màu trắng hai mặt có ghi chữ và số bằng mực bút bi màu xanh, có chữ ký xác nhận của Lê Văn C1 và Trần Thị Bích T; 01 (một) mảnh giấy màu trắng một mặt có ghi chữ và số bằng mực bút bi màu xanh, có chữ ký xác nhận của Lê Văn C1 và Trần Thị Bích T; 01 (một) mảnh giấy hình chữ nhật, một mặt có viết các chữ và số bằng mực màu xanh, một mặt có chữ màu đen có chữ ký xác nhận của Nguyễn Thị H; 01 (một) mảnh giấy hình chữ nhật, một mặt có viết các chữ và số bằng mực màu xanh, có chữ ký xác nhận của Kiều Thị Ngọc L; 01 (một) tờ giấy trắng khổ A4 trên cùng in chữ “BẢNG KÊ DỰ THƯỞNG XỔ SỐ LÔ TÔ” và được ghi nhiều chữ, số bằng mực bút bi màu đen nội dung bắt đầu là “9666 20K” kết thúc là “06 07 20K”, có chữ ký xác nhận của Trần Thị Bích T là giấy tờ, tài liệu chứng minh hành vi đánh bạc của bị cáo được chuyển theo hồ sơ vụ án. Do vậy, cần tịch thu lưu hồ sơ vụ án là phù hợp.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ có căn cứ cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trần Thị Bích T phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Thị Bích T 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng).
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b,c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 12 (Mười hai) mảnh giấy màu trắng, bên trên có dòng kẻ; 10 (Mười) mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt dòng đầu tiên có chữ: “PHIẾU TRẢ VÉ HỦY SXKT MIỀN BẮC”; 01 (một) bút bi mực màu xanh; 01 (một) bút bi mực màu đen.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước của bị cáo Trần Thị Bích T số tiền 13.500.000₫ (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Trả lại cho bị cáo Trần Thị Bích T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno4, số IMEI 1: 867671055661730, số IMEI 2: 867671055661722, bên trong có gắn thẻ sim số: 0912.645.616 và thẻ sim số: 0988.632.486 và số tiền 520.000đ (Năm trăm hai mươi nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19 tháng 3 năm 2024)
Tịch thu lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) mảnh giấy màu trắng hai mặt có ghi chữ và số bằng mực bút bi màu xanh, có chữ ký xác nhận của Lê Văn C1 và Trần Thị Bích T; 01 (một) mảnh giấy màu trắng một mặt có ghi chữ và số bằng mực bút bi màu xanh, có chữ ký xác nhận của Lê Văn C1 và Trần Thị Bích T; 01 (một) mảnh giấy hình chữ nhật, một mặt có viết các chữ và số bằng mực màu xanh, một mặt có chữ màu đen có chữ ký xác nhận của Nguyễn Thị H; 01 (một) mảnh giấy hình chữ nhật, một mặt có viết các chữ và số bằng mực màu xanh, có chữ ký xác nhận của Kiều Thị Ngọc L; 01 (một) tờ giấy trắng khổ A4 trên cùng in chữ “BẢNG KÊ DỰ THƯỞNG XỔ SỐ LÔ TÔ” và được ghi nhiều chữ, số bằng mực bút bi màu đen nội dung bắt đầu là “9666 20K” kết thúc là “06 07 20K”, có chữ ký xác nhận của Trần Thị Bích T.
Về án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Thị Bích T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Thị Ngọc Lan |
Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 15/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
