Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HNGĐ-PT

Ngày 14 tháng 6 năm 2024

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Anh.

Các Thẩm phán: Bà Điêu Thị Bích Lượt;

Ông Nguyễn Hán Hưởng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 07/2024/TLPT- HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2024/HNGĐ-ST ngày 30/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 07/2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 4 năm 2024 và các quyết định hoãn phiên tòa giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Vũ Thế H, sinh năm 1992
  • Địa chỉ: Khu P, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
  • - Bị đơn: Chị Trần Thị Hồng H1, sinh năm 1993
  • HKTT: Khu P, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
  • Chỗ ở hiện nay: Khu V, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị H1: Ông Nguyễn Phúc T, Luật sư Công ty L – Đoàn luật sư tỉnh P; Địa chỉ: Số A, ngõ A, phố M, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Người kháng cáo: Chị Trần Thị Hồng H1 – là bị đơn.

(Các đương sự đều có mặt)

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết, nguyên đơn là anh Vũ Thế H trình bày nội dung và yêu cầu khởi kiện của mình như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trần Thị Hồng H1 kết hôn với nhau vào ngày 13/3/2017 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có dăng ký tại UBND xã P (nay là xã P), huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau ngày cưới, vợ chồng ở chung với bố mẹ anh tại xã P. Quá trình chung sống, hai bên hòa thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên xảy ra cãi vã, xô sát. Từ tháng 7/2022, chị H1 và con chung đã về nhà bố mẹ đẻ ở khu V, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng anh sống ly thân từ tháng 5/2023 đến nay. Nay anh không còn tình cảm với chị H1 nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị H1.

Về con chung: Anh và chị Trần Thị Hồng H1 có 02 con chung là Vũ Trần Nhật Á, sinh ngày 10/10/2018 và Vũ Trần Linh Đ, sinh ngày 03/9/2022. Hiện hai cháu đang ở với chị H1. Ly hôn anh đề nghị mỗi người nuôi một cháu và anh đề nghị được nuôi cháu A, còn cháu Đ chưa đủ 36 tháng tuổi để chị H1 nuôi dưỡng. Do mỗi người nuôi một con nên anh đề nghị không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Trần Thị Hồng H1 trình bày:

Chị xác nhận về thời gian kết hôn, quá trình chung sống như anh H trình bày là đúng. Quá trình chung sống, vợ chồng chị hòa thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh H thường xuyên chơi bời, không chịu khó làm ăn dẫn đến nợ nần, không chăm lo cho các con. Chị đã tha thứ nhưng anh H vẫn không chịu thay đổi. Đỉnh điểm mâu thuẫn là vào tháng 7/2022, khi chị đang bầu bé thứ hai được 8 tháng, do anh H lại nợ nần nên hai bên đã xảy ra xô sát. Chị và con đã về nhà bố mẹ đẻ ở khu V, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Sau đó, anh H có sang ở với chị và các con được một thời gian thì vợ chồng lại xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến hai bên sống ly thân từ tháng 5/2023 đến nay. Nay chị cũng không còn tình cảm với anh H nữa, anh H đề nghị ly hôn chị đồng ý.

Về con chung: Chị và anh Vũ Thế H có 02 con chung là Vũ Trần Nhật Á, sinh ngày 10/10/2018 và Vũ Trần Linh Đ, sinh ngày 03/9/2022. Hiện hai con chung đang ở cùng chị. Ly hôn chị đề nghị được nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2

Tại Bản án sơ thẩm số: 05/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ: điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Căn cứ Điều 26 của Luật thi hành án dân sự. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Vũ Thế H và chị Trần Thị Hồng H1.
  2. Về con chung:
    1. Giao con chung là cháu Vũ Trần Nhật Á, sinh ngày 10/10/2018 cho anh Vũ Thế H trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung là cháu Vũ Trần Linh Đ, sinh ngày 03/9/2022 cho chị Trần Thị Hồng H1 tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi các con chung thành niên (Đủ 18 tuổi).

      Anh Vũ Thế H, chị Trần Thị Hồng H1 không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

      Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

    2. Anh Vũ Thế H, chị Trần Thị Hồng H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Không phải giải quyết.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 06 tháng 02 năm 2024, bị đơn chị Trần Thị Hồng H1 có đơn kháng cáo với nội dung: Kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về phần nuôi con chung, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi cả 02 con chung là cháu Vũ Trần Nhật Á và cháu Vũ Trần Linh Đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi vụ án được thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.

3

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX: Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Trần Thị Hồng H1. Giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 30/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng.

Chị Trần Thị Hồng H1 phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của chị Trần Thị Hồng H1 trong hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung kháng cáo:

Chị Trần Thị Hồng H1 kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm về phần con chung và đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung là cháu Vũ Trần Nhật Á và cháu Vũ Trần Linh Đ.

Xét thấy: Anh Vũ Thế H và chị Trần Thị Hồng H1 có 02 con chung là cháu Vũ Trần Nhật Á, sinh ngày 10/10/2018 và cháu Vũ Trần Linh Đ, sinh ngày 03/9/2022. Khi ly hôn, anh H có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Á còn cháu Đ dưới 36 tháng tuổi nên giao cho chị H1 nuôi dưỡng; chị H1 đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung. Xét thấy: cả anh H và chị H1 đều xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, đây là nguyện vọng chính đáng của người làm cha, mẹ. Trên thực tế, cả hai anh chị đều có đủ điều kiện để đảm bảo đáp ứng nhu cầu vật chất khi nuôi con cũng như được sự giúp đỡ của ông bà hai bên trong việc quan tâm, chăm sóc các cháu. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con chung, Tòa án cấp sơ thẩm đã giao cháu Vũ Trần Nhật Á cho anh Vũ Thế H trực tiếp nuôi dưỡng và cháu Vũ Trần Linh Đ cho chị Trần Thị Hồng H1 tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Chị H1 kháng cáo cho rằng anh H không có đủ điều kiện nuôi con vì anh không chịu khó làm ăn, nợ nần không đủ kinh tế nuôi con; nhiều lần thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật; có hành vi gây thương tích cho chị và không quan tâm, chu cấp cho các con trong thời gian anh chị ly thân. Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa phúc thẩm, chị H1 không xuất trình được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh việc anh H thuộc các trường hợp bị hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên theo quy định tại Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình.

4

Bên cạnh đó, anh H trình bày anh làm việc ổn định tại Công ty F ở Đ, xuất trình được văn bản có xác nhận của Công ty Cổ phần F – chi nhánh P cho thấy anh H đã làm việc ổn định và được chi trả lương hàng tháng kể từ tháng 06/2023.

Từ những phân tích trên, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của chị Trần Thị Hồng H1, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên chị Trần Thị Hồng H1 phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của chị Trần Thị Hồng H1.

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 05/2024/HNGĐ-ST ngày 30/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ: điểm a khoản 5 Điều 27, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Căn cứ Điều 26 của Luật thi hành án dân sự. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Vũ Thế H và chị Trần Thị Hồng H1.
  2. Về con chung:
    1. Giao con chung là cháu Vũ Trần Nhật Á, sinh ngày 10/10/2018 cho anh Vũ Thế H trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung là cháu Vũ Trần Linh Đ, sinh ngày 03/9/2022 cho chị Trần Thị Hồng H1 tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi các con chung thành niên (Đủ 18 tuổi).

      Anh Vũ Thế H, chị Trần Thị Hồng H1 không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

      Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5

    1. Anh Vũ Thế H, chị Trần Thị Hồng H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
  1. Về án phí phúc thẩm: Chị Trần Thị Hồng H1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị H1 đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa số 0002142 ngày 20/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS h. Đoan Hùng;
  • - TAND h. Đoan Hùng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Viết Anh

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HNGĐ-PT ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 15/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Thế H - Trần Thị Hồng H - Tranh chấp hôn nhân và gia đình - kháng cáo con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger