TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:15/2024/HNGĐ-PT Ngày: 14/6/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Mai Hoa
Ông Nguyễn Xuân Trường
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Thúy Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phan Thị Thu Huyền- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình phúc thẩm, thụ lý số 07/2024/TLPT-HNGĐ ngày 11/4/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 07/2024/HNGĐ- ST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXPT - HNGĐ ngày 14/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/QĐ-PT ngày 07/6/2024, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị N, sinh năm 1995. Địa chỉ: Số B M, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương ( có mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1994. Địa chỉ: Đ, thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
- Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1968 (vắng mặt).
- Anh Đinh Đức H1, sinh năm 1991 (có mặt).
- Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1957 (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1965 (vắng mặt).
- Anh Tạ Văn D, sinh năm 1978 (vắng mặt).
- Anh Đào Văn M, sinh năm 1983 (vắng mặt).
- Anh Đào Duy T, sinh năm 1988 (vắng mặt).
- Bà Hoàng Thị N2, sinh năm 1957 (vắng mặt).
- Chị Đào Thị M1, sinh năm 1977 (vắng mặt).
- Chị Vũ Thị H3, sinh năm 1973 ( vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của anh Q: bà Lương Thị Y và bà Hoàng Thị H. Địa chỉ: Số H đường N, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương (có mặt bà Y, vắng mặt bà H).
Đều có địa chỉ: Số B M, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Đều có địa chỉ: Đ, thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Hải Dương
Người kháng cáo: Anh Nguyễn Văn Q - Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 07/2024/HNGĐ - ST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, vụ án có nội dung được tóm tắt như sau:
Theo nguyên đơn chị Đinh Thị N trình bày:
Chị với anh Nguyễn Văn Q tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố H ngày 29/9/2021. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do tính cách, lối sống giữa chị với anh Q và bố mẹ anh Q có nhiều điểm khác biệt dẫn đến thường xảy ra va chạm, to tiếng cãi nhau. Anh Q không có sự chia sẻ, hỗ trợ chị về kinh tế và sinh hoạt hàng ngày. Mặt khác bố mẹ anh Q bắt vợ chồng phải chi trả những khoản nợ phát sinh từ trước khi chị kết hôn cùng anh Q, chị không đồng ý thì mọi người lại mắng chửi chị. Nhiều lần chị muốn về thăm bố mẹ đẻ thì anh Q không cho chị đưa con đi cùng. Những khi vợ chồng to tiếng cãi nhau thì anh Q lại đánh đuổi chị. Vì thương con còn nhỏ nên chị vẫn cố gắng chịu đựng nhưng số lần vợ chồng mâu thuẫn ngày càng nhiều, ngày càng trầm trọng khiến cho cuộc sống của chị căng thẳng, ngột ngạt. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nhất vào đầu tháng 9/2023, khi vợ chồng xảy ra to tiếng, va chạm thì anh Q cầm dao đe dọa không cho chị được bế con đi. Khi chị đưa con về nhà bố mẹ đẻ thì anh Q đến giằng co bắt con về. Sau đó chị về thăm con thì anh Q và mẹ đẻ anh Q không cho chị bế con, vứt hết cả sữa chị mua về cho con. Nay chị không thể chấp nhận được cách cư xử của anh Q và không còn tình cảm với anh Q nên chị khởi kiện xin ly hôn anh Q.
Chị và anh Q có một con chung là Nguyễn Kim A - sinh ngày 28/11/2022. Chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho tới khi thành niên và tự nguyện không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị.
Chị không đề nghị Tòa án giải quyết quan hệ tài sản chung, nợ chung.
Theo bị đơn- Anh Nguyễn Văn Q trình bày:
Vợ chồng anh chung sống hạnh phúc, không xảy ra mâu thuẫn. Bản thân anh vẫn yêu thương vợ, chưa bao giờ cãi vã nặng lời với vợ, chưa lần nào đánh chửi vợ và đưa hết tiền lương cho vợ, đưa đón vợ đi làm. Anh luôn quan tâm, chăm sóc đến sinh hoạt hàng ngày của vợ như mua đồ vợ thích, cuối tuần thì đưa vợ đi cafe để thư giãn hoặc đưa vợ về nhà ngoại chơi. Ngày 03/9/2023, chị N có lời nói và hành vi bất kính với mẹ anh về vấn đề vệ sinh cho cháu Kim A nên anh có hỏi chuyện, góp ý thì chị N giận dỗi và 03 ngày sau thì bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở. Tuy nhiên vấn đề này cũng chưa đến mức trầm trọng để vợ chồng phải ly hôn. Anh và bố mẹ anh rất yêu thương chị N, mong muốn vợ chồng đoàn tụ, chung sống cùng nhau. Anh đã đến nói chuyện và đón chị N về nhưng chị N không đồng ý. Anh đề nghị Tòa án trả toàn bộ hồ sơ khởi kiện cho chị N và đình chỉ vụ án. Trường hợp Tòa án đưa vụ án ra xét xử, anh đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị N.
Bà Nguyễn Thị B, anh Đinh Đức H1 (mẹ đẻ và anh trai của chị N) phản ánh:
Sau khi kết hôn cùng anh Q, nhiều lần chị N về nhà đẻ trong trạng thái căng thẳng, mệt mỏi, lo lắng. Qua tìm hiểu, gia đình được biết cuộc sống chung giữa chị N với anh Q không hạnh phúc, thường phát sinh va chạm, to tiếng do tính cách, lối sống giữa vợ chồng và giữa chị N với bố mẹ anh Q có nhiều điểm khác biệt. Anh Q không chia sẻ, hỗ trợ chị N về kinh tế, việc nhà và bố mẹ anh Q còn bắt vợ chồng phải trả những khoản nợ phát sinh trước khi vợ chồng kết hôn. Khi chị N và bố mẹ anh Q bất đồng ý kiến trong việc vệ sinh cho cháu Kim A, anh Q không hòa giải hai bên mà lại hùa theo bố mẹ để chửi mắng chị N. Có lần chị N thấy thiếu tiền nên hỏi anh Q thì gia đình anh Q lại cho rằng chị N trí trá và đưa chị N về trả cho nhà đẻ. Ngày 06/9/2023, chị N đưa con về nhà đẻ chơi thì ngay tối hôm đó, anh Q cùng bố mẹ anh Q đến và chỉ đưa cháu Kim A đi mà không bảo chị N quay về đoàn tụ. Sau đó chính anh Q còn bảo với chị N làm thủ tục ly hôn. Xét mâu thuẫn giữa chị N và anh Q đã trầm trọng, gia đình không chấp nhận được cách cư xử của anh Q nên đề nghị Tòa án chấp nhận cho chị N được ly hôn anh Q.
Ông Nguyễn Văn H2 (bố đẻ của anh Q) phản ánh:
Cuộc sống chung giữa anh Q và chị N rất hạnh phúc. Vợ chồng chưa bao giờ xảy ra to tiếng cãi nhau. Anh Q là người hiền lành, chăm chỉ, yêu thương vợ con. Ông không biết vì lý do gì mà chị N lại bỏ về nhà đẻ ở và không chịu quay về khi anh Q tới đón. Trường hợp chị N vẫn kiên quyết ly hôn thì ông và gia đình sẽ tạo điều kiện tốt nhất cho anh Q để giành quyền nuôi con như hỗ trợ về chỗ ở, về thời gian chăm sóc sinh hoạt hàng ngày cho cháu Kim A.
Bà Hoàng Thị N2, bà Nguyễn Thị N1, anh Đào Duy Tùng, anh Đào Văn M, anh Tạ Văn D, chị Vũ Thị H3, chị Đào Thị M1 đều phản ánh:
Anh Q và chị N2 vẫn chung sống hạnh phúc, không xảy ra mâu thuẫn gì.
Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 07/2024/HNGĐ- ST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương đã căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Đinh Thị N và anh Nguyễn Văn Q.
- Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Kim Anh- sinh ngày 28/11/2022 cho chị Đinh Thị N trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh Nguyễn Văn Q phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm anh Nguyễn Văn Q có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa, anh Q vắng mặt và ủy quyền cho bà Lương Thị Y và bà Hoàng Thị H tham gia tố tụng về quan hệ con chung. Tại phiên tòa bà Y xác định anh Q hiện đã đi nước ngoài lao động và vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Chị N có quan điểm không chấp nhận kháng cáo của anh Q, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa anh Q và chị N đã trầm trọng nên cấp sơ thẩm đã xử cho chị N được ly hôn anh Q là có căn cứ.
Về quan hệ con chung: Thực tế cho thấy cả anh Q và chị N đều đủ điều kiện nuôi con. Tuy nhiên xét thấy cháu Kim A hiện còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của mẹ. Mặt khác tại phiên tòa chị Y là người được anh Q ủy quyền trình bày anh Q hiện đã đi nước ngoài lao động nên anh Q không thể trực tiếp nuôi con. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Q kháng cáo trong thời hạn luật định, nên kháng cáo hợp lệ.
- Xét kháng cáo của anh Nguyễn Văn Q, Hội đồng xét xử thấy:
- Về quan hệ hôn nhân: Quá trình giải quyết vụ án anh Q cho rằng giữa anh và chị N chỉ là mâu thuẫn nhỏ, anh vẫn yêu thương chị N nên không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên căn cứ lời khai chị N, căn cứ các tin nhắn do chị N cung cấp cho thấy chính anh Q là người thúc giục, thách thức chị N ly hôn. Tại phiên tòa sơ thẩm anh Q cũng xác nhận các nội dung trong tin nhắn anh gửi cho chị N là đúng. Trên thực tế chị N đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 9/2023 cho đến nay. Trong suốt thời gian này anh Q cũng không đến đón chị N về, vợ chồng cũng không gặp nhau để nói chuyện. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã nhiều lần tiến hành hòa giải nhưng anh Q vẫn vắng mặt không có lý do. Như vậy có thể nói việc anh Q cho rằng anh vẫn còn yêu thương chị N và mong muốn chị N về đoàn tụ là không đúng với tình hình thực tế. Sau khi xét xử sơ thẩm anh Q cũng không gặp chị N để vợ chồng hòa giải, đoàn tụ. Vợ chồng mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai. Do vậy có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa anh Q và chị N đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Tòa án cấp sơ thẩm xử cho chị N được ly hôn anh Q là phù hợp. Nội dung kháng cáo này của anh Q không có căn cứ chấp nhận.
- Xem xét về nội dung kháng cáo của anh Q về việc xin được nuôi con, Hội đồng xét xử thấy: Trong vụ án này cả anh Q và chị N đều có nguyện vọng được nuôi con, nguyện vọng của anh chị là chính đáng, thể hiện trách nhiệm của cha mẹ đối với con chung. Tuy nhiên để quyết định giao con cho ai nuôi dưỡng thì cần phải xem xét, đánh giá một cách toàn diện về điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc con chung, trên cơ sở đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con.
Anh Q cho rằng hiện tại cháu Kim A đang ở với anh, được nuôi dưỡng và phát triển tốt nên anh không đồng ý cho chị N nuôi con. Tuy nhiên trên thực tế cho thấy chị N hiện là công nhân, có thu nhập ổn định nên chị cũng đủ điều kiện để chăm sóc và nuôi dưỡng con. Bên cạnh đó cháu Kim A còn nhỏ, tính đến thời điểm này cháu mới được hơn 1 năm 06 tháng tuổi. Cháu lại là con gái nên rất cần sự chăm sóc của mẹ. Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình thì: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào điều kiện nuôi con của chị N cũng như căn cứ quy định của pháp luật để quyết định giao con cho chị N nuôi dưỡng là phù hợp. Mặt khác tại phiên tòa chị Y là người đại diện của anh Q trình bày, hiện anh Q đã đi nước ngoài lao động nên nếu giao con cho anh Q nuôi dưỡng thì anh Q không thể trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con. Do vậy nội dung kháng cáo này của anh Q cũng không có căn cứ chấp nhận.
[3] Về án phí phúc thẩm: Anh Q kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn Q. Giữ nguyên bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 07/2024/HNGĐ- ST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương về quan hệ hôn nhân và quan hệ con chung như sau:
Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 luật Hôn nhân và gia đình; Điều 229, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQ1.
- Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Đinh Thị N và anh Nguyễn Văn Q.
- Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Kim Anh, sinh ngày 28/11/2022 cho chị Đinh Thị N trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh Nguyễn Văn Q phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí phúc thẩm: Anh Nguyễn Văn Q phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm, nhưng được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh Q đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự TP Hải Dương theo biên lai thu số 0002973 ngày 14/3/2024. Anh Q đã nộp xong án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án Hôn nhân gia đình phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 15/2024/HNGĐ-PT ngày 14/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 15/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
