Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/DS-ST

Ngày: 14/05/2024

“V/v tranh chấp hợp đồng

thuê quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hòa Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Quốc Dũng
  2. Ông Nguyễn Hồng Thái

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Cảnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Nguyễn Bảo Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 05 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 102/2020/TLST-DS ngày 20 tháng 7 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2023/QĐXX-ST ngày 10 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn D năm 1952 và bà Trần Thị T năm 1957; Cùng cư trú: Tổ I, ấp A, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Văn H năm 1955; Nơi cư trú: Tổ B, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang(theo giấy ủy quyền ngày 09/7/2020)

- Bị đơn: Ông Triệu Văn X năm 1976; Nơi cư trú: Tổ A, ấp A, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + UBND xã V thị xã T
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Thái H1– Chủ tịch UBND xã V, tỉnh An Giang
  • + Bà Lê Thị L năm 1963;
  • + Ông Lê Văn C năm 1959;
  • + Chị Triệu Thị Trúc P năm 2003;
  • + Ông Nguyễn Văn Ngọc A năm 1968;
  • + Bà Trần Thị T1sinh năm 1970;
  • + Anh Nguyễn Văn N năm 1980;
  • + Bà Huỳnh Thị N1sinh năm 1950;
  • + Bà Triệu Thị T2sinh năm 1985;
  • Cùng nơi cư trú: Tổ A, ấp A, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang
  • + Triệu Thanh P1sinh ngày 27/10/2010
  • Người đại diện hợp pháp cho Triệu T1 P1có cha là ông Triệu Văn X1
  • + Nguyễn Ngọc T2 T3sinh ngày 05/7/2015
  • + Nguyễn Chí T4sinh ngày 13/02/2018
  • Người đại diện hợp pháp cho Nguyễn Ngọc T2 T3và Nguyễn Chí T4có mẹ là Triệu Thị T3
  • + Nguyễn Thị Bé L1sinh ngày 18/12/1993
  • + Kiến Ngọc Tường Vsinh ngày 16/10/2017
  • + Kiến Ngọc Như Ý, sinh ngày 04/10/2014
  • Người đại diện hợp pháp cho Kiến Ngọc T4 Vvà Kiến Ngọc Như Ý1 có mẹ là bà Nguyễn Thị B L1
  • + Nguyễn Quốc Ksinh ngày 05/03/2010
  • + Nguyễn Cát T5sinh ngày 14/6/2018
  • Người đại diện hợp pháp cho Nguyễn Quốc K Nguyễn Cát T5cha là ông Nguyễn Văn N năm 1988.
  • Cùng trú tại: Tổ A, ấp A, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang

Ông Trần Văn H2 diện hợp pháp của nguyên đơn có mặt. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị N1 yêu cầu xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác, người đại diện hợp pháp của họ tất cả đều vắng mặt phiên tòa lần 2, không có lý do.

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Trần Văn H3 đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Nguồn gốc đất đang tranh chấp 2.712 m² của ông Phạm Văn D1 Trần Thị T5 tên giấy chứng nhận QSDĐ số 00646 QSDĐ/hD do UBND huyện T(nay là UBND thị xã T ngày 29/01/1994. Đất tọa lạc tại tổ A, ấp A, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang

Năm 2009, ông D2 thỏa thuận bằng lời nói cho ông Triệu Văn X2 bà Lê Thị L1 03 nền nhà, diện tích mỗi nền ngang 5m x dài 12 tổng diện tích 03 nền tổng cộng 180 m2, giá thuê mỗi nền nhà 3.500.000 đồng, ông D2 nhận đủ số tiền 10.500.000 đồng từ ông X

Sau khi thuê đất, ông X3 dựng nhà ở kiên cố với diện tích ngang 08m x dài 15m, đến năm 2011, gia đình ông Xbà L2 nhà nước cấp nền nhà tại khu dân cư Ấnhưng ông X4 sử dụng nền mà bán lại cho người khác, nhiều lần ông D1 Tyêu cầu ông X5 lại đất nhưng ông X4 trả.

Nay ông D1 Tyêu cầu Tòa án buộc gia đình ông X, ông A1 các thành viên của gia đình di dời nhà ở đi nơi khác, trả lại 03 nền đất mà ông X6 thuê cho vợ chồng ông D1 T

Bị đơn ông Triệu Văn X7 bày: Ông Xxác định nguồn gốc đất đang tranh chấp là của ông D1 Tvào năm 2009 ông X8 thỏa thuận với ông D3 03 nền đất với diện tích mỗi nền ngang 5m dài 15m, giá thuê 3.500.000 đồng/ 01 nền, thời hạn thuê là đến khi nhà nước quy hoạch hoặc bồi hoàn diện tích đất này thì mới di dời nhà trả lại đất cho ông D bà T6 thuê có lập hợp đồng thuê ghi ngày 09/4/2009 nhưng do hợp đồng ghi lộn và ký không đúng vị trí chỗ người cho thuê và người thuê đất, Hợp đồng thuê đất là do ông X9 ông S đó ông S1 trưởng Ấp A, xã V, T và ông S2 chứng kiến việc 02 bên ký vào hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, ông X đã giao tiền thuê đất cho ông D5 đồng/ 03 nền.

Khi thuê xong 03 nền nhà, ông X8 xây dựng nhà ở diện tích 73,7m² có kết cấu: nhà trên vách, mái lợp Tol, lót ván gỗ tạp, khung gỗ tạp, nhà dưới nền lót gạch bông, vách bê tông cốt thép, cột bê tông cốt thép, nhà vệ sinh có kết cấu vách gạch, mái T6, cột bê tông cốt thép, xây dựng năm 2009, 02 nền nhà còn lại có cho ông Nguyễn Văn N2 mẹ ruột tôi Huỳnh Thị N1xây dựng nhà ở, nhưng hiện nay bà Huỳnh Thị N3 ở với em ông X10 bà Triệu Thị T2nhà của bà N1do ông A2 lý sử dụng, nên bà N1không còn liên quan đến căn nhà này.

Nay ông Dbà T7 cầu ông X11 dời nhà trả lại đất, ông X không đồng ý với lý do, đất này ông X thuê để xây dựng nhà ở, nếu muốn ông đi nơi khác sinh sống thì ông bán lại căn nhà ông đang ở cho ông D1 Ttoàn quyền sở hữu, ông Dbà T8 lại cho ông X giá trị căn nhà là 350.000.000 đồng. Còn 02 căn nhà còn lại của ông A3 do ông Nguyễn Văn Ngọc A4 định.

Ông Nguyễn Văn Ngọc A5 bày: Nguyên vào ngày 09/4/2009, ông Phạm Văn D6 cho ông Triệu Văn X12 diện tích đất 150m² (03 nền đất), giá thuê 10.500.000 đồng, khi thuê đất có làm hợp đồng thuê, nội dung thỏa thuận cho ở vĩnh viễn đến khi Nhà nước bồi thường mới trả lại đất, nếu Nhà nước quy hoạch trúng 03 nền thì trả lại đất, ông có xây cất căn nhà diện tích 63,6 m² có kết cấu nhà sàn lót ván gỗ tạp, vách mái T6khung gỗ tạp, nóng đá xây dựng năm 2009. Căn nhà của bà Huỳnh Thị N4 vợ chồng ông sở hữu diện tích 49,2m² có kết cấu nhà sàn, lót ván gỗ tạp, vách mái Tónóng đá do đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dbà T8 lại đất vì hiện nay ông không có chỗ ở ổn định.

Bà Huỳnh Thị N5 bày: Ông Triệu Văn X13 con ruột của bà, bà N1xác định không thuê quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn D1 Trần Thị T9 ông X13 người thuê quyền sử dụng đất, bà có cất căn nhà gỗ để ở, tuy nhiên hiện nay bà nữa không còn ở trong căn nhà này nữa mà về nơi ở mới tại Tổ A, Ấp A, xã V, T nhà cất ở trên đất của ông Dbà T10 cho con gái bà tên Triệu Thị T7và chồng là Nguyễn Văn N6 toàn quyền quyết định.

UBND xã V ông Bùi Thái H1 là người đại diện theo pháp luật trình bày: sự việc xảy ra vào năm 2009, theo đó ông Phạm Văn D1 Trần Thị T11(Bên cho thuê) và ông Triệu Văn X14 Lê Thị L3 ký hợp đồng thuê đất nông nghiệp để cất nhà, diện tích mỗi nền ngang 5m, dài 12m tổng diện tích 03 nền tổng cộng 186,5 m² (theo bán trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai lập ngày 12/4/2021), giá thuê mỗi nền nhà 3.500.000 đồng. Tổng số tiền thuê 03 nền 10.500.000 đồng. Thời điểm này, địa bàn xã Vxuất hiện nhiều trường hợp tương tự, xây dựng nhà trái phép trên đất nông nghiệp để lợi dụng chính sách bồi hoàn, hỗ trợ và tái định cư ở các dự án. Mặc dù, UBND xã và các đoàn thể chính trị - xã hội luôn tuyên truyền và xử lý các trường hợp vi phạm. Xét thấy việc thỏa thuận của các đương sự lúc bấy giờ là vi phạm Luật Đất đai và Luật Xây dựng. Do vậy, hợp đồng do các bên tự thỏa thuận là không đúng quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: bà Triệu Thị T12 Lê Thị Lông Lê Văn Cchị T Nguyễn Văn Ngọc A Nguyễn Văn Nbà Huỳnh Thị N1bà T Thanh P Ngọc Thanh T Chí T Thị Bé L N, Nguyễn Quốc KNguyễn C T5trong quá trình giải quyết vụ án không có lời khai.

Phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48, Điều 203, Điều 239 Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của người tham giam tố tụng từ giai đoạn thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền, và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Phiên tòa được mở lần thứ 2, nhưng chỉ có ông Trần Văn H4 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của họ vắng mặt không lý do, đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Về nội dung tranh chấp: Đề nghị căn cứ các Điều 116, Điều 122, Điều 123, Điều 129, Điều 385, Điều 407, Điều 426 Bộ luật dân sự 2015; Điều 179 Luật đất đai năm 2013; khoản 3 Điều 26, khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn D1 Trần Thị T13

Tuyên bố hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa ông Phạm Văn D7 ông Triệu Văn X15 ngày 09 tháng 04 năm 2009 đối với diện tích 186,5 m² tại các điểm mia 10, 11, 20, 21; 12, 13, 32, 31; 18, 19, 30, 31 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00646 QSDĐ/hD do UBND huyện T (nay là thị xã T), tỉnh An Giangcấp ngày 26/01/1994 cho ông Phạm Văn D8 tên, đất tọa lạc tại: Ấp A, xã V, thị xã T, tỉnh An Gianglà vô hiệu. Buộc ông Triệu Văn X16 lại diện tích đất này cho ông Phạm Văn D1 Trần Thị T11

Buộc ông Triệu Văn X17 dời căn nhà diện tích 73,7m² tại các điểm mia 10,11,20,21, có kết cấu nhà trên vách, mái lợp Tol, lót ván gỗ tạp, khung gỗ tạp, nhà dưới nền lót gạch bông, vách bê tông cốt thép, cột bê tông cốt thép, nhà vệ sinh có kết cấu vách gạch, mái tol, cột bê tông cốt thép đi nơi khác.

Buộc ông Nguyễn Văn Ngọc A6 Triệu Thị T7di dời căn nhà diện tích 63,6 m² tại các điểm mia 12,13,32,33, có kết cấu: nhà sàn lót ván gỗ tạp, vách mái Tókhung gỗ tạp, nóng đá và căn nhà diện tích đất 49,2m² tại các điểm mia 18,19, 30 31 có kết cấu: nhà sàn, lót ván gỗ tạp, vách mái Tol, nóng đá đi nơi khác.

Buộc các thành viên sinh sống trong gia đình của ông Triệu Văn Xông Nguyễn Văn N7 Abà Triệu Thị T7gồm: bà Lê Thị L4 Lê Văn Cchị T Nguyễn Văn Ngọc A Nguyễn Văn Nbà Huỳnh Thị N1bà T Thanh P Ngọc Thanh T Chí T Thị Bé L N, Nguyễn Quốc KNguyễn C1 T5di nơi khác sinh sống.

Thời hạn lưu cư của ông Triệu Văn X1, ông Nguyễn Văn Ngọc A6 Triệu Thị T7và các thành viên trong gia đình là 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án.

Công nhận sự tự nguyện của ông Phạm Văn D1 Trần Thị T14 lại cho ông Triệu Văn X18 tiền 10.500.000 (mười triệu năm trăm nghìn) đồng.

Về án phí: Ông Triệu Văn X19 chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, ông Phạm Văn D1 Trần Thị T15 miễn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm nên không xử lý.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Xét về thẩm quyền: Ông Phạm Văn D1 Trần Thị T16 kiện yêu cầu ông Triệu Văn X16 lại đất thuê, ông X8 nơi cứ trú tại: tổ A, ấp A, xã V, T bất động sản tranh chấp cũng tọa lạc ở địa chỉ này, Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu thụ lý giải quyết nội dung thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: phiên tòa được mở lần thứ 2, nhưng chỉ có ông Trần Văn H4 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của họ vắng mặt không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa cho thấy: ông Phạm Văn D9, bà Trần Thị T17 diện tích 2.712 m² thuộc tờ bản đồ 01, thửa số 1047; 1049 giấy chứng nhận QSDĐ số 00646 QSDĐ/hD do UBND huyện T(nay là UDND thị xã Tcấp ngày 29/01/1994 cho ông Phạm Văn D10 tên, tọa lạc tại tổ A, ấp A, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang

Ngày 09/4/2009, ông D11 ông X12 diện tích đất 03 nền nhà 186,5 m² với giá 10.500.000m², thời hạn thuê đất ở vĩnh viễn, khi nào nhà nước bồi thường mới trả lại đất, sau khi thuê đất ông X3 dựng nhà ở trên diện tích đất đo đạc thực tế 73,7m² tại các điểm mia 10,11,20,21, nhà ở có kết cấu: nhà trên vách, mái lợp Tol, lót ván gỗ tạp, khung gỗ tạp, nhà dưới nền lót gạch bông, vách bê tông cốt thép, cột bê tông cốt thép, nhà vệ sinh có kết cấu vách gạch, mái Tócột bê tông cốt thép, xây dựng năm 2009, diện tích đất thuê còn lại cho ông Nguyễn Văn N7 Abà Triệu Thị T7sử dụng 63,6 m² tại các điểm mia 12,13,32,33 nhà ở có kết cấu: nhà sàn lót ván gỗ tạp, vách mái Tókhung gỗ tạp, nóng đá xây dựng năm 2009. bà Huỳnh Thị N8 dụng diện tích đất 49,2m² tại các điểm mia 18, 19, 30, 31; nhà ở có kết cấu nhà sàn, lót ván gỗ tạp, vách mái Tónóng đá. Hiện nay, bà N1đã đi nơi khác sinh sống đã cho ông Nguyễn Văn N7 Abà Triệu Thị T7sở hữu căn nhà này.

Nguyên đơn ông Dbà T18 kiện yêu cầu ông X16 lại đất đã thuê, đồng thời yêu cầu ông X20 Abà T7di dời nhà ở và các thành viên trong gia đình phải đi nơi khác sinh sống, đồng ý trả lại cho ông X18 tiền cho thuê đất là 10.500.000 đồng. Ông Xông A7 T7không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông X21 rằng nếu ông Dbà T19 lại căn nhà của ông với giá 350.000.000 đồng thì ông đồng ý di dời nhà trả lại đất, ông A8 rằng hiện nay không có chỗ ở ổn định nên không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, các đương sự khác không có lời khai.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Ngày 09/4/2009, nguyên đơn ông Dbà T20 lập hợp đồng cho ông X12 quyền sử dụng đất diện tích đất đo đạc thực tế là 186,5m² theo bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai - Chi nhánh T8lập ngày 12/4/2021, mặc dù các bên thỏa thuận cho thuê quyền sử dụng đất là tự nguyện theo đó có thỏa thuận giá cho thuê, thời hạn thuê, mục đích đích sử dụng đất. Tuy nhiên đối với diện tích đất mà ông D1 Tcho ông X12 là đất sử dụng trong nông nghiệp không được phép xây dựng nhà ở, ông Dbà T20 lập hợp đồng cho ông X12 quyền sử dụng đất không có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền là vi phạm về hình thức của hợp đồng đã xác lập. Mặc khác theo cơ quan quản lý đất đai tại địa phương là UBND xã Vcũng thửa nhận vào thời điểm này, địa bàn xã Vxuất hiện nhiều trường hợp xây dựng nhà trái phép trên đất nông nghiệp để lợi dụng chính sách bồi hoàn, hỗ trợ và tái định cư ở các dự án. Mặc dù, UBND xã và các đoàn thể luôn tuyên truyền và xử lý các trường hợp vi phạm, việc thỏa thuận của các đương sự lúc bấy giờ là vi phạm Luật Đất đai và Luật Xây dựng. Từ những nhận định phân tích này căn cứ vào các Điều 116, Điều 122, Điều 123, Điều 129, Điều 385, Điều 407, Điều 426 Bộ luật dân sự 2015; Điều 179 Luật đất đai năm 2013 tuyên bố hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất được xác lập giữa ông Phạm Văn D12 ông Triệu Văn X15 ngày 09/4/2009 vô hiệu. Ông Xông A7 T7có trách nhiệm tháo dỡ di dời nhà ở và các thành viên của gia đình ông Xông A7 T7di dời đi nơi khác sinh sống trả lại diện tích đất thuê cho ông D1 TThời hạn lưu cư của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là 06 tháng kể từ ngày xét xử sơ thẩm.

Công nhận sự tự nguyện của ông Dbà T8 lại cho ông X18 tiền cho thuê quyền sử dụng đất 10.500.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả, theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

[3] Xét yêu cầu của ông X21 rằng nếu ông Dbà T21 ý mua lại căn nhà của ông với giá 350.000.000 đồng thì ông đồng ý di dời nhà trả lại đất, ông A7 T7cho rằng hiện nay không có chỗ ở nên không đồng ý di dời trả lại đất. Hội đồng xét xử nhận thấy đối với yêu cầu của ông X22 ông Dbà T22 đồng ý mua lại căn nhà của ông X nên không có cơ sỡ xem xét, còn đối với yêu cầu của ông A7 T7không đồng ý trả lại đất cho ông Dbà T23 lý do không có chỗ ở khác lời nại ra này là không có cơ sở chấp nhận, việc ông Dbà T24 ông X12 quyền sử dụng đất là không phù hợp với quy định của pháp luật nên đã bị vô hiệu nên ông A7 T7phải di dời nhà ở trả lại đất cho ông D1 Tlà phù hợp.

Chi phí Tố tụng: Chi phí cho việc xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản 1.600.000 đồng và lệ phí đo đạc đất tranh chấp ông Dtự nguyện chịu, đã nộp xong, không phải nộp thêm.

Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn D1 Trần Thị T15 chấp nhận, ông Triệu Văn X19 chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Ông Dbà T22 nộp tiền tạm ứng án phí do được miễn nộp, nên không xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 116, Điều 122, Điều 123, Điều 129, Điều 385, Điều 407, Điều 426 Bộ luật dân sự 2015; Điều 179 Luật đất đai năm 2013; khoản 3 Điều 26; khoản 2 Điều 227; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn D1 Trần Thị T13

Tuyên bố hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa ông Phạm Văn D7 ông Triệu Văn X15 ngày 09 tháng 04 năm 2009 đối với diện tích 186,5 m² tại các điểm mia 10, 11, 20, 21; 12, 13, 32, 31; 18, 19, 30, 31 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00646 QSDĐ/hD do UBND huyện T (nay là thị xã T), tỉnh An Giangcấp ngày 26/01/1994 cho ông Phạm Văn D8 tên, đất tọa lạc tại: Ấp A, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang là vô hiệu. Buộc ông Triệu Văn X16 lại diện tích đất này cho ông Phạm Văn D1 Trần Thị T11

Buộc ông Triệu Văn X17 dời căn nhà diện tích 73,7m² tại các điểm mia 10, 11, 20, 21 có kết cấu nhà trên vách, mái lợp Tol, lót ván gỗ tạp, khung gỗ tạp, nhà dưới nền lót gạch bông, vách bê tông cốt thép, cột bê tông cốt thép, nhà vệ sinh có kết cấu vách gạch, mái tol, cột bê tông cốt thép đi nơi khác.

Buộc ông Nguyễn Văn Ngọc A6 Triệu Thị T7di dời căn nhà diện tích 63,6 m² tại các điểm mia 12, 13, 32, 33 có kết cấu: nhà sàn lót ván gỗ tạp, vách mái T6khung gỗ tạp, nóng đá và căn nhà diện tích đất 49,2m² tại các điểm mia 18,19, 30 31 có kết cấu: nhà sàn, lót ván gỗ tạp, vách mái Tol, nóng đá đi nơi khác.

(Theo bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai – Chi nhánh T8lập ngày 12/4/2021)

Buộc các thành viên sinh sống trong gia đình của ông Triệu Văn Xông Nguyễn Văn N7 Abà Triệu Thị T7gồm: bà L5, Nguyễn Quốc KNguyễn C1 T5di nơi khác sinh sống.

Thời hạn lưu cư của ông Triệu Văn X1, ông Nguyễn Văn Ngọc A6 Triệu Thị T7và các thành viên trong gia đình là 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án.

Công nhận sự tự nguyện của ông Phạm Văn D1 Trần Thị T14 lại cho ông Triệu Văn X18 tiền 10.500.000 (Mười triệu năm trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả, theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Chi phí Tố tụng: Chi phí cho việc xem xét thẩm định tại chổ, định giá tài sản 1.600.000 đồng và lệ phí đo đạc đất tranh chấp ông Phạm Văn D9 tự nguyện chịu, đã nộp xong, không phải nộp thêm.

Về án phí: Ông Triệu Văn X19 chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, ông Phạm Văn D1 Trần Thị T15 miễn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm nên không xử lý.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn trên, kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND thị xã Tân Châu;
  • - THADS thị xã Tân Châu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phám – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Hòa Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/DS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 15/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger