TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số:15/2024/HNGĐ-PT Ngày 13 tháng 8 năm 2024 V/v: T/c chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân và HĐCN QSD đất | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Phước Đại
Các Thẩm phán: Ông Võ Bảo Anh
Ông Trương Hoài Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Hồng Phil - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 và 13 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 22/2023/TLPT-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 47/2023/HNGĐ-ST ngày 23/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 103/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T (Có mặt).
Địa chỉ: Số B Tổ A, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Bà Lê Thị Mai T1 (Có mặt).
Địa chỉ: Số B Tổ A, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Đị chỉ hiện nay: 38G/4, tổ A, Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Lê Minh T2 (Có mặt).
- Ông Nguyễn Lê D (Có mặt).
Cùng địa chỉ: Số B Tổ A, Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ hiện nay: 38G/4, tổ A, Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Bà Lê Thị Ngọc D1 (Có mặt).
Địa chỉ: Khu vượt lũ, Áp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Chỗ ở hiện nay: Đường N, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- Bà Phạm Thị L (Có đơn giải quyết, xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
- Ông Nguyễn Văn D2 (Có đơn giải quyết, xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp G, xã V, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
- Ông Lê Thành T3 (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
Địa chỉ: Số A Khu V, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Chổ ở hiện tại: Kế B Tổ A, Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Bà Tưởng Hồng N (Có đơn giải quyết, xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số 568 ấp Mỹ Hội, xã Thới An Hội, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
Chỗ ở: Khu vực 3, phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
- Bà Lê Thị Kiều G (Có đơn giải quyết, xét xử vắng mặt).
- Ông Lê Văn C (Có đơn giải quyết, xét xử vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số C Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Ông Nguyễn Văn B (Có đơn giải quyết, xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số C Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ hiện nay: Số E Đường E KDC E, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Ông Danh Vũ L1 (Có đơn giải quyết, xét xử vắng mặt).
- Ông Nguyễn Hoàng K (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số C Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Ngân hàng TMCP Đ1-Chi nhánh C1.
Địa chỉ: Số B đường N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Phê E; Chức vụ: Nhân viên Khách hàng Doanh nghiệp – Chi nhánh C1 (Theo văn bản ủy quyền ngày 22/9/2022) - (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn trình bày:
Ông Nguyễn Văn T với bà Lê Thị Mai T1 là vợ chồng, đã ly hôn theo Quyết định số 188/2017/QÐST-HNGĐ ngày 23/11/2017 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Thời kỳ hôn nhân ông, bà có những tài sản chung chưa chia gồm:
- Thửa đất số 520 (Nay thửa 897) và căn nhà cấp 4 bà T1 đang cư trú theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000054 do Ủy ban nhân dân quận C cấp ngày 23/6/2004.
- Thửa 621 và căn nhà cấp 4 ông đang cư trú theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000055 do Ủy ban nhân dân quận C cấp ngày 12/4/2004) và thửa đất nông nghiệp ở tỉnh Cà Mau.
Về nợ chung: Ông T, bà T1 nợ bà L (mẹ ruột ông T) 11 chỉ vàng 24K, ông D2 (Anh ruột ông T) 5.5 chỉ vàng 24K, bà P 2.0 chỉ vàng 24K, ông Đ 2.0 chỉ vàng 24K, ông T4 15.000.000 đồng, bà K1 40.000.000 đồng.
Ông T yêu cầu chia tài sản chung nhận 986.5m² (LNK) và 100m² (ODT) thửa 520, bà T1 nhận phần diện tích còn lại và căn nhà cấp 4 đang ở; Thửa 621 nhận toàn bộ diện tích đất và căn nhà cấp 4. Nợ chung mỗi người trả một nửa.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà T1 trình bày:
Trong thời kỳ hôn nhân ông bà có tạo lập được những tài sản chung như ông T trình bày. Vợ chồng có nợ tiền Ngân hàng và bà con tư nhân một khoản tiền chưa trả. Do phát sinh mâu thuẫn không thể tiếp tục chung sống nên trước khi ly hôn ông bà đã làm Hợp đồng thỏa thuận vào ngày 01/6/2015 được Ủy ban nhân dân phường H xác nhận, chứng thực ngày 02/6/2015 phân chia tài sản, phân chia nợ cụ thể như sau:
- Quyền sử dụng đất diện tích 1.973m² (có 200m² ODT) và 01 căn nhà cấp 4, 02 dãy chuồng heo trên thửa 520 (Nay thửa 897) và Quyền sử dụng đất 2.450m² (đất nông nghiệp) ở tỉnh Cà Mau cùng toàn bộ nợ để lại cho con Nguyễn Lê DeGol toàn quyền quản lý, sử dụng, đồng thời có trách nhiệm trả toàn bộ nợ của ông bà trước đây.
- Quyền sử dụng đất diện tích 168m² (có 80m² ODT) và 01 căn nhà cấp 4 trên thửa 621 để lại cho con Nguyễn Lê Minh T2 được toàn quyền quản lý, sử dụng.
Sau khi thỏa thuận cho các con toàn bộ tài sản trên thì ông bà chỉ được quyền ở và sinh hoạt tại 02 căn nhà trên.
Sau khi ông bà đồng ý ly hôn và tự nguyện phân chia tài sản, không còn bất cứ tài sản nào và cũng không nợ ai. Toàn bộ tài sản và nợ trên thuộc về quyền của 02 con là Nguyễn Lê Minh T2 và Nguyễn Lê D nên các con có chuyển nhượng, tặng cho hay trả nợ cho ai thì đó là quyền của các con nên bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông T.
Anh Nguyễn Lê Minh T2 và anh Nguyễn Lê D cùng trình bày:
Từ khi ông T và bà T1 bà ly hôn, các ông sống với bà T1. Thống nhất lời trình bày của bà T1 về tài sản chung, nợ chung của ông bà. Tài sản chung của ông bà đã thỏa thuận chia và cho đã xong theo Hợp đồng thỏa thuận vào ngày 01/6/2015 và các ông cũng đã tách thửa đứng tên riêng, sau đó tặng cho lại bà T1, chuyển nhượng một phần cho người khác để có tiền điều trị bệnh cho ông T2 và trả nợ. Còn nợ nần thì cũng đã lãnh trả và được Tòa án công nhận. Đối với số nợ bà L, ông D2, bà P thì khoản nợ nào hai ông biết sẽ trả, khoản nợ nào không biết, không có giấy tờ thì không đồng ý trả. Trong đó, khoản nợ bà L (bà nội) ông D chỉ biết lúc chuẩn bị đi Nhật Bản xuất khẩu lao động có cùng ông T về mượn 02 chỉ vàng 24K và 3.000.000 đồng nên chỉ đồng ý trả trong phạm vi này. Số nợ còn lại thì không biết vì không có giấy tờ, ông Tổng m thì tự chịu trách nhiệm trả.
Bà Lê Thị Ngọc D1 trình bày:
Ngày 26/8/2004 tại Ủy ban nhân dân phường H bà đã ký với ông T bà T1 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 150m² (gồm 50m² ODT + 100m² CLN) tại thửa 520 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000054 Ủy ban nhân dân quận C cấp ngày 23/6/2004 (Nay là thửa 897 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 895003, số vào sổ CS08666 Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố C cấp ngày 04/11/2019 (Chỉnh lý biến động ngày 20/5/2021 mang tên bà Lê Thị Mai T1) chưa được giao đất quản lý sử dụng nên chưa xây dựng, chưa làm thủ tục sang tên. Nay bà yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng trên, ông T bà T1 phải tháo dỡ, di dời tài sản để bàn giao đất.
Ngoài ra, bà cũng có nhận chuyển nhượng của ông bà một phần diện tích đất 88m² (CLN) tại thửa 621 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000055 Ủy ban nhân dân quận C cấp ngày 12/4/2004 theo Tờ mua bán ngày 05/7/2004 với giá 60.000.000 đồng. Bà đã giao đủ tiền, ông bà đã giao đất và bà đã xây dựng căn nhà cấp 4 trên đất nhưng chưa làm thủ tục sang tên, hiện đang quản lý, sử dụng. Bà yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng này với diện tích đo đạc thực tế 74.9m², đối với phần diện tích ngoài Giấy chứng nhận không xác định được bao nhiêu thì bà vẫn tiếp tục sử dụng cho đến khi có quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Bà Phạm Thị L và ông Nguyễn Văn D2 trình bày: Ông bà có cho vợ chồng ông T bà T1 mượn vàng, mượn nhiều lần, không nhớ cụ thể thời gian, không có biên nhận, không ai chứng kiến do lúc đó vợ chồng con cái còn thuận thảo. Có lúc ông T bà T1 mượn, có lúc thì ông T với DeGol mượn để cho DeGol xuất khẩu lao động, khi mượn thì trực tiếp đưa cho ông T, DeGol. Bà L yêu cầu ông T, bà T1, ông D trả 11 chỉ vàng 24K. Ông D2 yêu cầu ông T, bà T1, ông D trả 5.5 chỉ vàng 24K. Không tính lãi.
Ông Nguyễn Văn B trình bày:
Ông nhận chuyển nhượng của bà T1 toàn bộ diện tích 111.2m² (ODT) thửa 979 (tách từ thửa 897) được cấp Giấy chứng nhận ngày 07/7/2022, đã giao đủ tiền, xây dựng nhà có Giấy phép xây dựng và đang quản lý, cư trú cùng với ông L1, ông K đang thuê ở trọ đi học. Hợp đồng chuyển nhượng hợp pháp, hoàn thành tất cả quyền, nghĩa vụ với nhau, giữa vợ chồng bà T1 với bà D1 có tồn tại giấy tờ mua bán với nhau thì ông không được cung cấp thông tin, không biết nên không có ý kiến, không yêu cầu gì
Bà Tưởng Hồng N cùng vợ chồng ông C bà G trình bày:
Bà N nhận chuyển nhượng của ông T2 diện tích 160.3m² (ODT) thửa 926 (tách từ thửa 897) được cấp Giấy chứng nhận vào ngày 27/5/2020, đã giao đủ tiền, xây dựng nhà ở có Giấy phép xây dựng và đang quản lý, cư trú. Vợ chồng ông C, bà G chỉ là người ở nhờ. Thửa đất trên bà N đang thế chấp bảo đảm khoản vay tại Ngân hàng Đ1 và vẫn đang tiếp tục thực hiện hợp đồng. Hợp đồng chuyển nhượng hợp pháp, hoàn thành tất cả quyền, nghĩa vụ với nhau. Tranh chấp này không có liên quan nên không có ý kiến, không yêu cầu gì.
Ngân hàng TMCP Đ1 trình bày: Bà N vay tín dụng bên Ngân hàng, thế chấp tài sản bảo đảm khoản vay thửa 926. Quá trình phát vay Ngân hàng có thẩm định tài sản, thực hiện thủ tục nhận bảo đảm đúng pháp luật, hiện bà N vẫn thực hiện đúng nghĩa vụ với Ngân hàng. Đối với tranh chấp Ngân hàng không có ý kiến, không có yêu cầu độc lập.
- Quá trình giải quyết vụ án, bà K1 yêu cầu độc lập đối với bà T1. Bà T5 yêu cầu độc lập đối với bà T1, ông T2, ông D. Ông T4 yêu cầu cầu độc lập đối với ông T trả nợ chung trong thời gian thời kỳ hôn nhân của ông bà. Tòa án thụ lý yêu cầu, tách vụ án và công nhận sự thỏa thuận (Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự có hiệu lực pháp luật) bà T1 trả nợ cho bà K1 40.000.000 đồng. Bà T1, ông T2, ông D trả cho bà T5 270.000.000 đồng. Ông T trả cho ông T4 15.000.000 đồng.
- Bà P có Đơn xác nhận đề ngày 22/4/2022 cho rằng không biết gì về việc ông T bà T1 mượn bà 02 chỉ vàng 24K.
Tại Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 47/2023/HNGĐ-ST ngày 23/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ đã quyết định:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T.
- Hợp đồng thỏa thuận vào ngày 01/6/2015 được Ủy ban nhân dân phường H xác nhận, chứng thực số 28, quyển số 01 TP/SCT, CĐ ngày 02/6/2015 giữa ông Nguyễn Văn T với bà Lê Thị Mai T1, ông Nguyễn Lê Minh T2, ông Nguyễn Lê D có hiệu lực pháp luật.
- Ghi nhận ông Nguyễn Văn T được quyền cư trú, sinh hoạt trong căn nhà cấp 4 trên phần đất thuộc thửa đất 621 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000055 Ủy ban nhân dân quận C cấp ngày 12/4/2004. Bà Lê Thị Mai T1, ông Nguyễn Lê Minh T2, ông Nguyễn Lê D không được thực hiện hành vi cản trở, ngăn cản khi ông Nguyễn Văn T6 thực hiện quyền này.
- Ghi nhận ông Nguyễn Văn T tự nguyện trả lại 20.000.000 đồng cho bà Lê Thị Mai T1, ông Nguyễn Lê Minh T2, ông Nguyễn Lê D đối với tiền nợ mẹ con bà lãnh trả cho bà Nguyễn Thị Phương K2.
- Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Phạm Thị L. Ghi nhận ông Nguyễn Văn T tự nguyện trả cho bà Phạm Thị L 5.5 chỉ vàng 24K, ông Nguyễn Lê D tự nguyện trả cho bà Phạm Thị L 2.5 chỉ vàng 24K và 3.000.000 đồng.
- Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Lê Thị Ngọc D1, cụ thể:
- Công nhận sự thỏa thuận giữa bà Lê Thị Ngọc D1 với ông Nguyễn Văn T, Lê Thị Mai T1, ông Nguyễn Lê Minh T2, ông Nguyễn Lê D công nhận Tờ mua bán ngày 05/7/2004 có hiệu lực pháp luật. Bà Lê Thị Ngọc D1 được quyền sử dụng diện tích đất 74.9m²(CLN) tại thửa 621 và căn nhà cấp 4 trên đất tại vị trí A trích đo địa chính số 63/TTKTTNMT ngày 03/02/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường Thành phố C (Kèm theo). Bà được quyền liên hệ cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại Điều 100 Luật Đất đai 2013.
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/7/2004 và Tờ hợp đồng chuyển nhượng đất thổ cư ngày 29/7/2004 vô hiệu. Buộc bà Lê Thị Mai T1 trả lại cho bà Lê Thị Ngọc D1 tiền chuyển nhượng đã nhận 50.000.000 đồng.
- Tách yêu cầu của ông Nguyễn Văn D2, ông được quyền khởi kiện thành vụ án khác tại Tòa án có thẩm quyền để được xem xét, giải quyết số vàng 5.5 chỉ 24K mà ông cho rằng đã cho ông Nguyễn Văn T, Lê Thị Mai T1, ông Nguyễn Lê D mượn.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
- Ngày 05/6/2023, nguyên đơn kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Ngày 05/6/2023, bà Lê Thị Ngọc D3 kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà.
- Ngày 05/6/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ ban hành Kháng nghị số 03/QĐ-VKS-DS kháng nghị bản án sơ thẩm; Đề nghị cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo. Đồng thời cho rằng nếu Hội đồng xét xử chấp nhận chia 500m² đất tại thửa 897, trong đó có 50m² thổ cư (ODT) thì ông sẽ trả lại phần đất và nhà mà ông đang ở, sử dụng tại thửa 621 và xin thời gian lưu cư là 02 năm.
- Bà Lê Thị Ngọc D3 giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ giữ nguyên nội dung Kháng nghị số 03/QĐ-VKS-DS ngày 05/6/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Đồng thời phát biểu quan điểm và đề nghị:
- Về tố tụng: Hoạt động tố tụng của những người tiến hành tố tụng là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận phần đất 500m² tại thửa 897 (ký hiện A trên lược đồ của cấp phúc thẩm), trong đó có 50m² đất (ODT) cho nguyên đơn; Công nhận hợp đồng chuyển nhượng và phần đất 74,9m² tại thửa 621 (ký hiện A trên lược đồ của cấp sơ thẩm) cho bà D3 nhưng trong đó có 40m² mới phù hợp với thực tế và đúng với lược đồ đo đạt thể hiện và đảm bảo cho quá trình thi hành án. Số đất và nhà còn lại công nhận cho bà T1. Buộc ông T trả lại nhà và phần đất còn lại của thửa 621 cho bà T1. Dành quyền lưu cư cho ông T trong 02 năm. Đối với hợp đồng chuyển nhượng của bà D1 với ông T, bà T1 ngày 20/7/2004 và Tờ chuyển nhượng đất thổ cư ngày 29/7/2004 là vô hiệu. Bà T1 có nghĩa vụ trả lại 50.000.000 đồng cho bà D3.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết và xác định quan hệ tranh chấp là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn thấy rằng: Căn cứ vào Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của đương sự số 188/2017QÐST-HNGĐ ngày 23/11/2017 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ thì ông T và bà T1 thuận tình ly hôn. Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ: cả hai thống nhất không có. Nếu sau này phát sinh sẽ giải quyết thành vụ án khác. Trước đó vào ngày 01/6/2015, ông T, bà T1 cùng với 02 con chung là anh T2 và anh D đã lập Hợp đồng thỏa thuận để phân chia tài sản chung và nợ. Hợp đồng này đã được Ủy ban nhân dân phường H chứng thực ngày 02/6/2015. Tuy nhiên, đây là hợp đồng thỏa thuận có điều kiện mà không phải là hợp đồng chuyển quyền sử sụng đất thuộc trường hợp cho tặng hoặc chuyển nhượng. Việc thỏa thuận này ông T, bà T1 đã chuyển tất cả tài sản là nhà và quyền sử dụng đất cho anh T2 và anh D. Ông, bà không còn tài sản gì. Cùng với việc thỏa thuận chuyển giao tài sản thì ông T, bà T1 chuyển tất cả các khoản nợ cho anh T2 và anh D, trong đó có nợ ngân hàng và nợ các cá nhân khác. Việc thỏa thuận này không có mặt và không được sự đồng ý của các chủ nợ là nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 42 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, điều đó sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ. Và trên thực tế cho đến nay thì anh T2 và anh D cũng chưa thực hiện xong việc trả nợ cho ông T, bà T1 như thỏa thuận. Còn ông T, bà T1 vẫn ở trên phần đất này. Bà T1 đã tự ý chuyển nhượng và cho tặng quyền sử dụng đất cho người khác mà không có ý kiến của ông T. Từ đó cho thấy, tài sản là nhà và quyền sử dụng đất tại thửa 879 và thửa 621 là tài sản chung của vợ chồng ông T và bà T1 chưa được phân chia. Hợp đồng thỏa thuận lập ngày 01/6/2015 giữa ông T, bà T1 cùng với 02 con chung là anh T2 và anh D là không phù hợp về nội dung. Điều kiện của hợp đồng chưa được thực hiện như đã thỏa thuận Do vậy nguyên đơn yêu cầu hủy hợp đồng này và phân chia tài sản chung là có căn cứ.
Theo đo đạt thực tế thì thửa 879 sau khi trừ phần đất đã tách để cho tặng/chuyển nhượng tại thửa mới là 1062 và 1063 thì còn lại 1.408,8m², trong đó có 100m² đất (ODT). Nguyên đơn yêu cầu chia 500m² của thửa đất này và phần đất còn lại tại thửa 621 (sau khi trừ 74,9m²) cho bà T1 cùng căn nhà trên đất tại thửa 621. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn yêu cầu được chia 500m² đất tại thửa 897, trong đó có 50m² đất (ODT) để ông xây dựng nhà ở, ông đồng ý trả lại phần đất còn lại và nhà tại thửa 621 cho bà T1 và các con. Ông xin lưu cư trong thời gian 02 năm.
Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi lập Hợp đồng thỏa thuận ngày 01/6/2015 thì bà T1 đã chuyển nhượng cho bà N 160,3m² và cho tặng một phần quyền sử dụng đất tại thửa 897 cho anh T2 và anh DeGol tại thửa 897 và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Những người này thuộc trường hợp là người thứ ba ngay tình theo quy định tại Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đồng thời hiện nay và trong vụ án này, không ai tranh chấp về phần đất này. Vì vậy, không đặt vấn đề giải quyết. Diện tích đất còn lại tại thửa 897 là 1.408,8m² (trong đó có 100m² đất ODT) và phần đất tại thửa 621 là 168m² (trong đó có 80m² đất ODT) sau khi trừ 74,9m² cho bà T1 thì còn lại 93,1m². Tổng diện tích đất còn lại là 1.501,9m² cùng với hai căn nhà trên đất. Đây là tài sản chung của ông T và bà T1 trong thời kỳ hôn nhân. Ông T yêu cầu chia 500m² tại thửa 897, trong đó có 50m² đất (ODT) là chưa đến 1/3 tổng diện tích quyền sử dụng đất chung, chưa tính 02 căn nhà trên đất. Vì vậy, yêu cầu này là có căn cứ để chấp nhận. Đảm bảo được quyền lợi của người phụ nữ. Nguyên đơn có nghĩa vụ trả lại quyền sử dụng đất còn lại sau khi trừ phần 74,9m² cho bà T1 là 93,1m² tại thửa 621 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000055 do Ủy ban nhân dân quận C cấp ngày 12/4/2004 cùng căn nhà trên đất lại cho bà T1. Dành quyền lưu cư cho nguyên đơn trong thời gian 02 năm.
[3] Xét kháng cáo của mà Lê Thị Ngọc D1 thấy rằng:
[3.1] Về yêu cầu công nhận đủ diện tích 88m² tại thửa 621: Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều thừa nhận việc chuyển nhượng phần đất này và bà D1 đã xây dựng nhà trên đất. Vì vậy cấp sơ thẩm ghi nhận và công nhận hợp đồng chuyển nhượng này giữa các bên là có căn cứ. Bà D3 cho rằng việc chuyển nhượng là 88m² nên buộc ông T, bà T1 phải giao đủ. Tuy nhiên, mặc dù các bên thừa nhận diện tích chuyển nhượng là 88m², nhưng thực tế các bên không đo đạc cụ thể diện tích mà chỉ giao trên thực địa và bà D1 cũng đã nhận đất và xây dựng nhà trên đất đúng với diện tích đã nhận chuyển nhượng từ năm 2004 đến nay. Suốt từ năm 2004 đến khi ông T khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung thì chưa lần nào bà D3 có khiếu nại hoặc tranh chấp gì về diện tích nhận chuyển nhượng. Khi ông T khởi kiện bà T1 thì bà D1 mới yêu cầu độc lập để yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Khi tiến hành thẩm định thực tế phần đất nhận chuyển nhượng mà bà D1 đang sử dụng thì có diện tích 74,9m². Do đó không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà D1 đối với yêu cầu công nhận đủ 88m².
Đối với loại đất được cấp sơ thẩm công nhận cho bà D3 là 74,9m² loại cây CLN, trong khi căn cứ vào Bản trích đo địa chính thì phần đất này có đất ODT nhưng cấp sơ thẩm không ghi nhận phần đất ODT nào là chưa phù hợp. Mặt khác, hiện tại trên đất chuyển nhượng có căn nhà cấp 4 của bà D1 xây dựng, và với diện tích 74,9m² cũng không đủ hạn mức tách thửa đối với đất CLN theo quy định của Ủy ban nhân dân thành phố C. Trường hợp tuyên như vậy thì không thể thi hành án sau này. Do đó cần phải điều chỉnh loại đất cho đúng với thực tế. Tại thửa 621 có 80m² đất ODT, do đó công nhận phần đất 74,9m² đất cho bà D1, trong đó có 40m² loại đất ODT là phù hợp.
[3.2] Xét việc chuyển nhượng 150m² (có 50m² ODT) tại thửa 520 (nay thửa 897): Nội dung chuyển nhượng 150m² (có 50m² ODT và 100m² CLN) tại thửa 520 (nay là 897). Tại mục 3 hợp đồng ghi rõ thời điểm thanh toán Sau khi nhận giấy chủ quyền, phương thức thanh toán Tiền mặt. Bên nhận QSDĐ phải trả đủ tiền, đúng thời điểm và phương thức thanh toán đã cam kết. Như vậy, tại thời điểm lập hợp đồng ngày 20/7/2004 bà D1, bà T1 chưa thỏa thuận giá chuyển nhượng, bà D1 chưa trả tiền. Thời điểm lập hợp đồng ngày 20/7/2004 thì Ủy ban nhân dân phường H chưa chứng thực ngay, mà đến ngày 26/8/2004 mới chứng thực nhưng trước thời điểm chứng thực thì vào ngày 29/7/2004 bà D1, bà T1 lại tiếp tục làm Tờ hợp đồng chuyển nhượng đất thổ cư (hợp đồng tay, không có xác nhận của chính quyền địa phương), nội dung thể hiện chỉ chuyển nhượng 50m² đất thổ cư thuộc thửa 520. Ngày 17/8/2004 các bên tiến hành lập Biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất (Sơ họa mốc giới thửa đất) ghi chú “T=50m²” với diện tích ngang 2.5m x dài 20.0m. Theo nội dung 02 hợp đồng này thì hợp đồng chuyển nhượng 150m² là hợp đồng có trước, đó hợp đồng chuyển nhượng 50m² là hợp đồng có sau, như vậy giữa bà T1 với bà D1 đã có sự bàn bạc, thỏa thuận lại hợp đồng nhưng vào ngày 26/8/2004 bà lại mang hợp đồng đầu tiên (lập ngày 20/7/2004) đi chứng thực là không phù hợp với thực tế. Bà D1 đã thực hiện thủ tục đo đạc, nộp hồ sơ và thực tế đã được Phòng Quản lý đô thị quận C xác nhận vào ngày 08/9/2004 kiểm tra Biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 17/8/2004 chỉ với diện tích 50m². Như vậy chứng minh rằng bà chỉ nhận chuyển nhượng 50m² đất tại thửa 897 (thửa gốc 520) chứ không phải 150m² như yêu cầu. Ngày 21/8/2017 bà T1 làm Đơn xác nhận có chuyển nhượng cho bà D1 đã nhận đủ tiền chuyển nhượng, vẫn không thể hiện giá chuyển nhượng nhưng qua lời khai tại phiên tòa phúc thẩm thì bà D1 trình bảy giá trị chuyển nhượng là 13.000.000 đồng, ông T và bà T1 cũng cho rằng chỉ nhận 13.000.000 đồng của bà D1, số tiền đó là tiền mượn của bà D1 nhưng bà D1 yêu cầu bà phải chuyển nhượng phần đất này. Bà T1 đã nhận tiền, chưa bàn giao đất nên bà D1 chưa quản lý, sử dụng hay xây dựng, trồng trọt gì trên phần đất này. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/7/2004 tuy được Ủy ban chứng thực ngày 26/8/2004 (chứng thực sau 01 tháng 06 ngày) sau thời điểm bà T1, bà D1 lập hợp đồng khác có thay đổi nội dung của hợp đồng ban đầu nhưng cố tình che giấu, mà không thông báo Ủy ban biết nên việc Ủy ban chứng thực không có lỗi. Hợp đồng này đã chứng minh có sự thỏa thuận sửa đổi, thay đổi bằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 29/7/2004. Hợp đồng này 29/7/2004 vi phạm điều kiện hình thức, nội dung hợp đồng, bà T1 vi phạm nghĩa vụ giao đất theo quy định tại các các Điều 107, 127 Luật Đất đai 2003 nên bị vô hiệu theo các Điều 136, 139 Bộ luật Dân sự 1995 do vi phạm điều kiện về hình thức, nội dung. Mặt khác, cũng cùng thời điểm chuyển nhượng năm 2004 và cũng là việc chuyển nhượng giữa các đương sự thì thấy rằng, việc chuyển nhượng 88m² tại thửa 621 là đất CLN nhưng với giá 60.000.000 đồng. Còn việc chuyển nhượng 150m² này có 100m² đất CLN và 50m² ODT nhưng chỉ với giá 13.000.000 đồng là không tương xứng, không phù hợp. Do đó hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này là vô hiệu.
Về giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng bị vô hiệu: Bà D1 cho rằng chỉ giao cho ông T, bà T1 13.000.000 đồng và bà T1, ông T cũng thừa nhận chỉ nhận 13.000.000 đồng chứ không phải 50.000.000 đồng như cấp sơ thẩm đã nhận định. Căn cứ vào giá đất thực tế thì đất trồng cây lâu năm có giá trị 140.000 đồng/m², và đất ODT là 600.000 đồng/m². Như vậy, 150m² chuyển nhượng (có 50m² ODT) có giá trị thực tế là 44.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm bà T1 thống nhất trả cho bà D1 50.000.000 đồng là có lợi cho bà D1 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4] Về nợ mà bà T1 đã trả sau khi lập Hợp đồng thỏa thuận là 70.000.000 đồng. Xét thấy, về hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên thì bà T1 đồng ý trả cho bà D1 50.000.000 đồng. Còn phần nợ bà T1 đã trả 70.000.000 đồng trước đó thì tại phiên tòa phúc thẩm ông T đồng ý trả lại cho bà T1 khi được chia đất. Việc này là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Các chủ nợ khác tham gia tố tụng trong vụ án đã được cấp sơ thẩm xem xét, giải quyết và không kháng cáo, kháng nghị. Ngoài các chủ nợ này thì một số chủ nợ khác đã được Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ giải quyết thành vụ án khác. Trường hợp sau này có phát sinh chủ nợ mà ông T, bà T1 nợ trong thời ký hôn nhân thì giải quyết thành vụ án khác.
[5] Về thủ tục của cấp sơ thẩm: Ông Tổng nộp đơn khởi kiện trước bà D1, bà D1 tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, nhưng bà D3 lại làm đơn khởi kiện là không phù hợp. Lẽ ra cấp sơ thẩm phải hướng dẫn cho bà D3 làm đơn yêu cầu độc lập mới đúng. Mặt khác Quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá tài sản số 384/QĐĐG ngày 23/6/2022 cấp sơ thẩm không ghi tên Chủ tịch Hội đồng định giá và các thành viên là thiếu sót. Các vấn đề này cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[6] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, xét thấy Kháng nghị số 03/QĐ-VKS-DS ngày 05/6/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Án phí sơ thẩm: nguyên đơn và bị đơn phải chịu 5% đối với giá trị tài sản được chia.
Về án phí phúc thẩm: Không ai phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Chấp nhận Kháng nghị số 03/QĐ-VKS-DS ngày 05/6/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
- Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn đơn.
- Sửa Bản án sơ thẩm.
Áp dụng: Điều 33, 37, 38, điểm d khoản 2 Điều 42, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Hợp đồng thỏa thuận vào ngày 01/6/2015 giữa ông Nguyễn Văn T với bà Lê Thị Mai T1, ông Nguyễn Lê Minh T2, ông Nguyễn Lê D được Ủy ban nhân dân phường H chứng thực số 28, quyển số 01 TP/SCT, CĐ ngày 02/6/2015 là vô hiệu.
- Xác diện tích 1.408,8m² tại thửa 897 và 93,1m² tại thửa 621 là tài sản chung của ông T và bà T1 trong thời kỳ hôn nhân.
- Ông Nguyễn Văn T được chia 500m² đất (trong đó có 50m² đất ONT) tại thửa 897 (vị trí A tại Bản trích đo địa chính số 136/VPĐKĐĐ ngày 29/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở tài nguyên và môi trường thành phố C).
- Bà Lê Thị Mai T1 được chia 908,8m² (Trong đó có 50m² đất ONT) tại thửa 897 (phần còn lại sau khi trừ 500m² tại vị trí A, tại Bản trích đo địa chính số 136/VPĐKĐĐ ngày 29/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở tài nguyên và môi trường thành phố C) và 93,1m² tại thửa 621 cùng căn nhà trên đất theo Bản trích đo địa chính số 63/TTKTTNMT ngày 09/11/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C.
- Công nhận sự thỏa thuận giữa bà Lê Thị Ngọc D1 với ông Nguyễn Văn T, Lê Thị Mai T1, ông Nguyễn Lê Minh T2, ông Nguyễn Lê D. Tờ mua bán ngày 05/7/2004 có hiệu lực pháp luật. Công nhận diện tích 74.9m² (trong đó có 40m² đất ONT, còn lại là CLN) tại thửa 621 và căn nhà cấp 4 trên đất tại vị trí A trích đo địa chính số 63/TTKTTNMT ngày 03/02/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường Thành phố C (Kèm theo).
- Các đương sự được chia đất, được công nhận quyền sử dụng đất được quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/7/2004 và Tờ hợp đồng chuyển nhượng đất thổ cư ngày 29/7/2004 vô hiệu. Ghi nhận sự tự nguyên của bà Lê Thị Mai T1 về việc thống nhất trả lại cho bà Lê Thị Ngọc D1 50.000.000 đồng.
- Ghi nhận sự tự nguyên của ông Nguyễn Văn T về việc thống nhất trả lại số tiền mà bà T1 đã trả nợ là 70.000.000 đồng.
- Ông Nguyễn Văn T được quyền lưu cư tại căn nhà cấp 4 tại thửa 621 mà ông T đang ở trong thời gian 02 năm. Hết thời gian này ông T phải trả lại căn nhà cho bà T1.
- Ghi nhận ông Nguyễn Văn T tự nguyện trả lại 20.000.000 đồng cho bà Lê Thị Mai T1, ông Nguyễn Lê Minh T2, ông Nguyễn Lê D đối với tiền nợ lãnh trả cho bà Nguyễn Thị Phương K2.
- Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Phạm Thị L. Ghi nhận ông Nguyễn Văn T tự nguyện trả cho bà Phạm Thị L 5.5 chỉ vàng 24K. Ông Nguyễn Lê D tự nguyện trả cho bà Phạm Thị L 2.5 chỉ vàng 24K và 3.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Tách yêu cầu của ông Nguyễn Văn D2, ông được quyền khởi kiện thành vụ án khác tại Tòa án có thẩm quyền để được xem xét, giải quyết số vàng 5.5 chỉ 24K mà ông cho rằng đã cho ông Nguyễn Văn T, Lê Thị Mai T1, ông ông Nguyễn Lê D mượn.
- Án phí sơ thẩm thẩm:
- Ông Nguyễn Văn T phải chịu 4.650.000 đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng 8.471.000 đồng theo Biên lai thu số 0008284 ngày 14/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Ông T còn được nhận lại 3.821.000 đồng.
- Bà Lê Thị Mai T1 phải chịu 9.083.000 đồng.
- Chi phí tố tụng:
- Tại cấp sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 6.983.000 đồng và đã thực hiện xong. Bà Lê Thị N1 phải chịu 1.791.000 đồng và 15.000.000 đồng chi phí thẩm định giá tài sản thửa 897 và đã thực hiện xong.
- Tại cấp phúc thẩm: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: 5.843.000 đồng. Ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Mai T1 mỗi người phải chịu 2.921.000 đồng. Ông T đã nộp đủ. Bà T1 phải nộp 2.921.000 đồng nêu trên để trả lại cho ông T.
- Án phí phúc thẩm: Không ai phải chịu.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Phước Đại |
Bản án số 15/2024/HNGĐ-PT ngày 13/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 15/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Chấp nhận Kháng nghị số 03/QĐ-VKS-DS ngày 05/6/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ. - Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn đơn.
