|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2024/HS - PT. Ngày 13 - 6 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
-
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
-
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Chương.
-
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tuấn Vinh và ông Hồ Thanh Sơn.
-
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Đậu Thị Tuyết Hảo - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 18/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Triệu Văn H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
Bị cáo có kháng cáo:
-
Họ và tên: TRIỆU VĂN HOAN, (tên gọi khác: Không), sinh ngày 27/12/1981, tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang;
-
Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; Chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; con ông Triệu Thanh X, sinh năm 1944 và bà La Thị L, sinh năm 1943; vợ, con: Chưa có;
-
Nhân thân, tiền án, tiền sự: Không;
-
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.
-
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Văn V - Trợ giúp viên pháp lý, công tác tại Trung tâm trợ giúp Pháp lý Nhà nước tỉnh T, có mặt.
-
* Bị hại:
-
- Ông Vũ Văn H1, sinh năm 1971; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
-
Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện L, tỉnh Tuyên Quang.
-
- Ông Triệu Văn H2, sinh năm 1976; có mặt;
-
Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
-
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
- Ông Quan Văn H3, sinh năm 1972; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
-
Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
-
- Ông Triệu Thanh X1, sinh năm 1944; có mặt;
-
Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 02 bị hại và 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối tháng 4 năm 2023 (không xác định được ngày cụ thể), Triệu Văn H nảy sinh ý định đến khu Đ thuộc thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang trộm cắp cây gỗ Bồ đề của ông Triệu Văn H2 và ông Vũ Văn H1 để đem đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Sau đó, H thuê Vũ Thành H4 dùng máy cuốc mở đường vào khu Đ để khai thác gỗ với giá 7.000.000 đồng. Sau khi mở đường, trong các ngày 02/5/2023 và 06/5/2023, Triệu Văn H đã 02 lần trộm cắp cây gỗ Bồ đề của ông Triệu Văn H2 và ông Vũ Văn H1, cụ thể:
Lần 01: Khoảng 08 giờ ngày 02/5/2023, H một mình mang theo máy cưa xăng đến khu đồi Lũng Chang để cắt trộm cây gỗ Bồ đề. Sau khi cắt hạ các cây gỗ Bồ đề xong, H cắt ra thành từng đoạn sau đó thuê Trương Thị H5, Triệu Tâm S, Quân Văn Đ đến để bốc gỗ lên xe tự chế của Quân Văn Đ (phần ngọn cây H không lấy để lại tại hiện trường). H bảo Đ chở gỗ Bồ đề đến bán cho ông Quan Văn H3 được 03 chuyến với tổng khối lượng 10,485 tấn gỗ (tương đương 10,485m³) được 12.582.000 đồng.
Lần 02: Ngày 06/5/2023, Triệu Văn H tiếp tục mang máy cưa xăng đến khu đồi Lũng Chang để cắt trộm cây gỗ Bồ đề. Sau khi cắt hạ các cây gỗ Bồ đề xong, H cắt ra thành từng đoạn, sau đó thuê Trương Thị H5 và Quân Văn Đ đến bốc gỗ lên xe tự chế của Quân Văn Đ (phần ngọn cây H không lấy để lại tại hiện trường). H bảo Đ chở gỗ đến bán cho Quan Văn H3 được 01 chuyến với tổng khối lượng 3,185 tấn (tương đương 3,185m³) được 3.822.000 đồng.
Quá trình quản lý, trông coi đồi cây của mình, ông Triệu Văn H2 thấy các ngọn cây Bồ đề bị cắt với khối lượng khoảng 1,209 m³ có giá trị 1.571.700 đồng.
Ngày 15/5/2023, Triệu Văn H tiếp tục đến khu đồi Lũng Chang để cắt trộm gỗ của ông H1 thì bị ông H1 phát hiện nên ông Vũ Văn H1 đến Cơ quan Công an trình báo sự việc và đề nghị giải quyết.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Vị trí xảy ra sự việc thuộc lô 24 và 25, khoảnh 191A theo bản đồ phân ba loại rừng xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang thuộc thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
2
Tại hiện trường phát hiện 78 gốc cây Bồ đề có đường kính từ 09 cm đến 30 cm có tổng khối lượng 14,879 m³ (quá trình khám nghiệm tại hiện trường không phát hiện các ngọn cây Bồ đề).
Kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐGTS ngày 31/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện C kết luận: 78 cây gỗ Bồ đề, khối lượng 14,879 m³ tại thời điểm tháng 5/2023 có giá trị là 19.342.700 đồng (01 mét khối gỗ Bồ đề có giá trị là 1.300.000 đồng).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Triệu Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Triệu Văn H 01 năm 04 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 08/11/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm bồi thường dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 22 tháng 3 năm 2024, bị cáo Triệu Văn H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo bổ sung nội dung kháng cáo, xin được hưởng án treo cải tạo tại địa phương.
Kết thúc phần xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm và tranh luận:
-
- Về thủ tục tố tụng đảm bảo đúng quy định pháp luật, đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ trong hạn luật định, thủ tục giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm đúng trình tự tố tụng.
-
- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết liên quan đến vụ án trên cơ sở các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, đánh giá mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo Triệu Văn H 01 năm 04 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản là đúng người, đúng tội, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Đối với nội dung kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá, xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ. Tuy nhiên tại Cơ quan điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bị cáo, tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo trình bày các cây gỗ Bồ đề mà bị cáo khai thác không thuộc quyền sở hữu của ông H1, ông H2, mà thuộc quyền sở hữu của bố đẻ bị cáo là ông Triệu Thanh X và ông X đã nhất trí cho bị cáo khai thác, cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo là chưa đầy đủ. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp tình tiết mới bị cáo đã tác động anh trai là
3
Triệu Văn H6 bồi thường cho ông Triệu Văn H2 số tiền là 9.671.000 đồng, nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Triệu Văn H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang về hình phạt như sau. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Triệu Văn H 01 năm 04 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn thử thách là 02 năm 08 tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày 13/6/2024. Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ:
Nhất trí với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, do bị cáo có tình tiết mới tại cấp phúc thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Triệu Văn H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Triệu Văn H cho hưởng án treo cải tạo giáo dục tại địa phương.
Bị cáo Triệu Văn H nhất trí với luận cứ bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, đúng pháp luật; trình tự, thủ tục giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Triệu Văn H tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường; kết luận định giá, lời khai của bị hại cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 02/5/2023 và 06/5/2023, Triệu Văn H đã 02 lần
4
thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 78 cây gỗ Bồ đề, khối lượng 14,879m³, tại thời điểm tháng 5 năm 2023 có giá trị 19.342.700 đồng (Mười chín triệu ba trăm bốn mươi hai nghìn bảy trăm đồng), cụ thể:
Lần 01: Khoảng 08 giờ ngày 02/5/2023, tại khu Đ thuộc thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, Triệu Văn H đã có hành vi trộm cắp các cây gỗ Bồ đề của ông Triệu Văn H2 và ông Vũ Văn H1, lần này H bán được 10,485 tấn gỗ (tương đương 10,485m³) có giá trị 13.630.500 đồng (Mười ba triệu sáu trăm ba mươi nghìn năm trăm đồng), phần ngọn các cây gỗ Bồ đề H để lại hiện trường.
Lần 02: Ngày 06/5/2023, tại khu Đ thuộc thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, Triệu Văn H đã có hành vi trộm cắp các cây gỗ Bồ đề của ông Triệu Văn H2 và ông Vũ Văn H1, lần này H bán được 3,185 tấn gỗ Bồ đề (tương đương 3,185m³) có giá trị 4.140.500 đồng (Bốn triệu một trăm bốn mươi nghìn năm trăm đồng), phần ngọn các cây gỗ Bồ đề H để lại hiện trường.
Khối lượng các ngọn cây Bồ đề được xác định là 1.209m³, trị giá 1.571.700 đồng (Một triệu năm trăm bảy mươi mốt nghìn bảy trăm đồng).
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo thấy rằng: Vợ chồng ông Triệu Thanh X1 sống cùng ông Triệu Văn H2, do tuổi cao nên việc làm ăn, phát triển kinh tế gia đình giao cho ông H2 quản lý, để trang trải khoản nợ của gia đình ông X1 đã nhất trí cho ông H2 ký hợp đồng trồng cây với ông H1 trên diện tích đất của hộ gia đình ông Triệu Thanh X1; sau khi được ông X1 nhất trí cho trồng cây trên các diện tích đất tại khu Đ, thôn N. Tháng 1/2018 ông Triệu Văn H2 và ông Vũ Văn H1 đã ký Giấy hợp đồng trồng cây có sự chứng kiến của Trưởng thôn ông Hoàng Đức Q và ông Triệu Văn H6 (là em ông H2, con của ông X1), trong hợp đồng thể hiện trồng cây trên đất được cấp sổ đỏ gia đình ông H2 số A0 . 131801, A0 . 131802 diện tích 75.242m², thời hạn 04 năm, sau khi ký hợp đồng ông H2 và ông H1 đã phát trắng đồi, dọn sạch để trồng cây Keo, sau đó các cây Bồ đề và cây mọc tự nhiên trên diện tích đã phát để trồng Keo. Tại hợp đồng trồng rừng không thể hiện nội dung ông H1, ông H2 sẽ trồng những loại cây gì, trên thực tế, ông H1, ông H2 đã trồng Keo và chăm sóc các cây Bồ đề mọc tự nhiên trên đất, các cây Bồ đề này mọc trong diện tích đất rừng mà ông X1 đã nhất trí cho ông H1, ông H2 cùng trồng rừng (hộ gia đình ông Triệu Thanh X1 được cấp 02 sổ đỏ số A0 . 131801, A0 . 131802 ngày 15/6/2009 diện tích là 75.242m²), và cũng nhờ sự chăm sóc, phát tỉa của ông H1, ông H2 thì số cây Bồ đề này mới sinh trưởng, phát triển và giữ được đến tuổi khai thác. Vị trí các cây Bồ đề mà bị cáo trộm cắp đã được thể hiện tại biên bản khám nghiệm hiện trường, được định vị bằng máy GARMIN GPS MAP GS64s để xác định, các cây gỗ Bồ đề này nằm trên diện tích đất hộ gia đình ông X1 được cấp sổ đỏ và ông X1 nhất trí để ông H2, ông H1 hợp đồng trồng cây. Như vậy đủ căn cứ xác định các cây Bồ đề mà bị cáo Triệu Văn H đã cắt và bán ngày 02/5/2023, ngày 06/5/2023 thuộc quyền sở hữu của ông Triệu Văn H2 và ông Vũ Văn H1. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, áp dụng các tình
5
tiết giảm nhẹ để xử phạt bị cáo với mức án 01 năm 04 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên tại Cơ quan điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bị cáo, tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo trình bày các cây gỗ Bồ đề mà bị cáo khai thác không thuộc quyền sở hữu của ông H1, ông H2, mà thuộc quyền sở hữu của bố đẻ bị cáo là ông Triệu Thanh X và ông X đã nhất trí cho bị cáo khai thác, Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo là chưa đầy đủ. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp tình tiết mới bị cáo đã tác động anh trai là Triệu Văn H6 bồi thường cho ông Triệu Văn H2 số tiền là 9.671.000 đồng, xét thấy bị cáo có tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên, nhưng phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ là khắc phục một phần hậu quả, thành khẩn khai báo, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, là dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, nên chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giữ nguyên hình phạt, cho bị cáo Triệu Văn H được hưởng án treo, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp pháp luật.
[3] Bị cáo Triệu Văn H không phải chịu phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Triệu Văn H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST, ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang về hình phạt như sau:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Triệu Văn H 01 năm 04 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn thử thách là 02 năm 08 tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày 13/6/2024.
Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong thời gian thử thách của án treo nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc
6
người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Về án phí: Bị cáo Triệu Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (13/6/2024)./.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Tuấn Vinh - Hồ Thanh Sơn |
Hà Văn Chương |
7
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Chương |
8
9
10
Bản án số 15/2024/HS - PT ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG (Phúc thẩm) về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 15/2024/HS - PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG (Phúc thẩm)
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận 1 phần kháng cáo. Sửa bản án sơ thẩm
