Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN P

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:15/2024/DS -ST

Ngày: 13/6/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH PHÚ YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Trưởng
  2. Ông Nguyễn Thế Khoa

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Công Tân- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Bùi Xuân Tùng- Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 195/2023/TLST-DS ngày 21 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-DS ngày 10/5/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S

Địa chỉ: 2 N, phường H, quận C, thành phố Hồ Chí Minh. Người được ủy quyền: Bà Huỳnh Trần Hoàng N- Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần S - Chi nhánh P (Theo quyết định số 3270/2022/ GĐ-TGĐ ngày 26/12/2022); Người được ủy quyền lại: Bà Trương Thị Thu T- Chuyên viên quản lý nợ, theo giấy ủy quyền số 366/2023/GUQ-CNPY ngày 07/11/2023. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Ông Dương Thái T1, sinh năm 1989; Trú ở: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 07/11/2023 của Ngân hàng Thương mại cổ phần S- Chi nhánh P, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền lại bà Trương Thị Thu T trình bày: Vào ngày 02/3/2018 Ngân hàng Thương mại cổ phần S- Chi nhánh tỉnh P (viết tắt Ngân hàng) có cho ông Dương Thái T1 vay bằng hình thức cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 10.000.000đ, theo hợp đồng số 1043274 ký ngày 05/3/2018, số thẻ 3360043099, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất 31,2%/năm. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo nội dung hợp đồng đã ký kết nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ, chuyển nợ gốc sang nợ quá hạn và khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, tính đến ngày xét xử sơ thẩm (13/6/2024) ông T1 còn nợ tiền gốc 9.371.142đ, tiền lãi quá hạn 5.381.865đ. Tổng cộng 14.753.007đ, nay Ngân hàng yêu cầu Tòa buộc ông T1 phải trả số nợ trên.

Tại biên bản xác minh ngày 30/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện P có nội dung: Ông Dương Thái T1 có hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay tại thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Hiện nay ông T1 không có mặt tại địa phương, đi làm ăn xa, thỉnh thoảng có về nhà rồi lại đi tiếp, việc ông T1 đi làm ở đâu địa phương không rõ. Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T1 không đến Tòa làm việc; không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; không tham gia phiên tòa nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nêu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Dương Thái T1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S- Chi nhánh P số tiền 14.753.007đ (trong đó nợ gốc 9.371.142đ, lãi quá hạn 5.381.865đ). Về án phí bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ về khoản hợp đồng vay tài sản, đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự. Căn cứ theo quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của T2 án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên.

Đối với bị đơn ông Dương Thái T1 đã được Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên triệu tập hợp lệ, thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án: Trong quá trình thu thập chứng cứ, hòa giải và tranh luận tại phiên tòa hôm nay bên nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S- Chi nhánh P giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ông Dương Thái T1 phải trả nợ theo hợp đồng số 1043274, tính đến ngày xét xử sơ thẩm (13/6/2024) còn nợ tiền gốc là 9.371.142đ, lãi quá hạn 5.381.865đ, tổng cộng 14.753.007đ. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng giữa Ngân hàng với ông T1 diễn ra giao dịch vay tiền là có thật và hiện nay ông T1 còn nợ tiền Ngân hàng. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, nguyên đơn đã cung cấp Hợp đồng cấp hạn mức sử dụng thẻ số 1043274 ký ngày 05/3/2018, số thẻ 3360043099 có chữ ký của ông T1, theo đó Ngân hàng đã phê duyệt với số tiền 10.000.000₫ sau khi sử dụng thẻ ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi phát sinh theo kỳ nên Ngân hàng khởi kiện. Sau khi Tòa án thụ lý đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản khác cho bị đơn, ông T1 không đến Toà giải quyết, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và cũng không có văn bản trình bày ý kiến phản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số tiền nợ nên theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tình tiết không phải chứng minh. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền vay gốc còn nợ là 9.371.142₫.

[3] Về yêu cầu tính lãi: Ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn lại sang nợ quá hạn. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (13/6/2024) ông T1 còn nợ tiền gốc là 9.371.142đ, lãi quá hạn 5.381.865đ. Tổng cộng 14.753.007đ. Xét thấy yêu cầu tính lãi trên của Ngân hàng là có cơ sở, phù hợp quy định pháp luật tại Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Bị đơn ông Dương Thái T1 phải chịu 737.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự

Căn cứ Điều 463, 466 và 468 Bộ Luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Dương Thái T1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S- Chi nhánh P số tiền 14.753.007₫ (Mười bốn triệu bảy trăm năm mươi ba nghìn không trăm lẻ bảy đồng) (trong đó nợ gốc 9.371.142đ, lãi quá hạn 5.381.865đ) về khoản hợp đồng tín dụng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử 13/6/2024, ông T1 còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.

Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị đơn ông Dương Thái T1 phải chịu 737.000đ (Bảy trăm ba mươi bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S- Chi nhánh P số tiền tạm ứng án phí 305.000₫ (Ba trăm lẻ năm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010280 ngày 12/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Phú Yên.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND H.P;
  • - CCTHADS H P;
  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thúy Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/DS -ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 15/2024/DS -ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Sài Gìn TT khởi kiện ông Nguyễn Thái T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger