Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 15/2024 HNGĐ-ST

Ngày: 13/5/2024

"V/v tranh chấp Ly hôn, con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Viết Vĩnh

2. Ông Nguyễn Văn Hợi

Thư ký Toà án phiên toà: Ông Nguyễn Văn Giáp - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình: Ông Đàm Hoàng Sơn – Chức vụ Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 13/5/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 297/2023/TLST-HNGĐ ngày 13/12/2023 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/QĐST-HNGĐ ngày 01/4/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Dương Thị C, sinh năm 1991

Nơi cư trú: Xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

Bị đơn: Anh Trương Văn D, sinh năm 1993

Nơi cư trú: Xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

(Chị C có mặt, anh D vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai tại phiên toà chị Dương Thị C trình bày:

Chị và anh D kết hôn với nhau năm 2017, đăng ký tại UBND xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện.

Trong thời gian đầu chung sống thì vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc với nhau. Tuy nhiên, sau một thời gian, cuộc sống hôn nhân đã không còn hạnh phúc. Vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau cả tư tưởng cũng như cách sống dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hoà hợp. Chúng tôi thường xuyên cãi vã, anh D đã đánh chửi, đuổi tôi ra khỏi nhà nhiều lần. Cuộc sống hôn nhân dần rơi vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, mặc dù cả hai bên đã tìm cách giải quyết các mâu thuẫn nhưng cả hai không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ ngày 29/7/2023 cho tới nay. Đến nay, chị xác định vợ chồng không còn tình cảm. Vì vậy, chị C đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh D để hai bên sớm ổn định cuộc sống và tư tưởng.

Về con chung:

Vợ chồng có 01 con chung là Trương Minh K, sinh ngày 28/8/2018.

Chị C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Hiện nay chị đang làm may tại Công ty CP Đ. Mức lương thu nhập tối thiểu là 8.000.000đồng/1tháng. Anh D cũng làm cùng chị mức lương khoảng 5.500.000đồng/1 tháng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn:

Chị và anh C sẽ tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung:

Chị và anh C tự thoả thuận, chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, anh D không đến Tòa viết bản tự khai cũng như không tham gia phiên họp công bố tài liệu công khai chứng cứ và hòa giải tại tòa mặc dù toà án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho anh D theo quy định pháp luật. Vì vậy, vụ án phải đưa ra xét xử công khai.

Tòa án xác minh tại địa phương được biết hiện nay anh D hàng ngày đi làm công ty tối về nhà. Quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, thời gian gần đây đã không còn ở với nhau nữa .

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

  1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng:

    Việc tiếp nhận đơn của Tòa án, việc thụ lý đơn khởi kiện và quá trình giải quyết của Hội đồng xét xử và việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của BLTTDS;

    Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; bị đơn không thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 BLTTDS.

  2. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX Căn cứ các Điều 28, 35, 39 BLTTDS, Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết 326 của Quốc hội, giải quyết theo hướng:

    Về quan hệ hôn nhân:

    Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị C, cho chị C được ly hôn với anh D.

    Về con chung:

    Giao cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến khi con trường thành (đủ 18) tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.

    Anh D không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị C và anh D có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

    Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con:

    Không giải quyết do chị C không có yêu cầu.

    Về sản chung, nợ chung:

    Không giải quyết do không có yêu cầu.

    Về án phí:

    Chị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án ly hôn, con chung căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn anh D có nơi cư trú tại huyện P, căn cứ vào điểm a khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình.

Tại phiên tòa nguyên đơn bị đơn anh D vắng mặt không có lý do, Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa lần thứ hai nhưng anh D vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh D.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị C kết hôn với anh Trương Văn D năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện P trên cơ sở tự nguyện do đó được công nhận là cuộc hôn nhân hợp pháp.

Chị C trình bày sau khi kết hôn, vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không có tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2023, không còn quan tâm, chia sẻ với nhau. Nay chị C xác định tình cảm vợ chồng không còn xin được ly hôn với anh D, anh D mặc dù đã được toà án tống đạt các văn bản, quyết định liên quan nhưng không hợp tác để giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị C, anh D đã ở mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị C xác định tình cảm không còn và kiên quyết xin ly hôn vì vậy việc duy trì quan hệ hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai nên chấp nhận đơn ly hôn của chị C, cho chị được ly hôn với anh D như vậy là phù hợp với thực tế và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3]. Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là Trương Minh K, sinh ngày 28/8/2018.

Khi ly hôn chị C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Quá trình giải quyết anh D không hợp tác nên không có quan điểm về giải quyết con chung khi ly hôn. Xét thấy, cần đảm bảo sự phát triển ổn định tâm sinh lý của trẻ nhỏ và điều kiện chăm sóc, giáo dục của chị C. Khi ly hôn giao cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng cháu K cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác như vậy là phù hợp với thực tế và Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Anh D không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị C và anh D có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết do chị C không có yêu cầu.

[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Do chị C không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết, nếu các đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

[5]. Về án phí, quyền kháng cáo: Chị C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật và được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 39, 146, 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án có hiệu lực thi hành từ ngày 01.01.2017.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị C cho chị C được ly hôn anh Trương Văn D.
  2. Về con chung: Giao cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Trương Minh K đến khi con trường thành (đủ 18) tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.

    Anh D không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị C và anh D có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết do chị C không có yêu cầu.
  4. Về tài sản chung và nợ chung: Do chị C không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết, nếu các đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
  5. Về án phí: Chị C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước, được chuyển từ tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0003647 ngày 13/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình.
  6. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết trong hạn 15 ngày, chị C được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày tuyên án; anh D được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án tại địa phương.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Phú Bình;
  • - CC THADS huyện Phú Bình;
  • - UBND xã Thượng Đình, h. Phú Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Thanh Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024 HNGĐ-ST ngày 13/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn, con chung

  • Số bản án: 15/2024 HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Chinh cho chị Chinh được ly hôn anh Trương Văn Duy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger