Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 15/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12/7/2024

Về việc “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Nguyễn Gia Phước.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đặng Thị Ngọc TH.
  2. Bà Nguyễn Thị Xuyến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thuỷ Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hường – Kiểm Sát Viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 3 Tp. Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2024/TLST-HNGĐ ngày 16/01/2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2024/QĐST – HNGĐ ngày 18/6/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Tạ Thị TH, sinh năm 1997

Địa chỉ: 61/17/20 đường Đ, Phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Ông Trần Ngọc QM, sinh năm 1995

Địa chỉ : 453/67 đường L, Phường M, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai và các biên bản trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Tạ Thị TH trình bày như sau:

Bà Tạ Thị TH và ông Trần Ngọc QM tự nguyện kết hôn vào năm 2021, đăng ký tại Ủy ban nhân dân Phường 6, quận Tân Bình theo Giấy chứng nhận kết hôn số 62 ngày 17/11/2021.

Hiện nay cuộc sống chung của vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không hòa hợp, mục đích hôn nhân không đạt được. Nguyên nhân là do ông QM nhiều lần bỏ mặc, không quan tâm lo lắng cho gia đình. Bà đã nhiều lần cố gắng hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không thành, bà và ông QM đã ly thân từ tháng 6 năm 2022 đến nay. Nay bà Tạ Thị TH yêu cầu được ly hôn với ông Trần Ngọc QM.

- Về con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung là Trần MC, sinh ngày 20/5/2022. Bà TH yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng trẻ MC. Về cấp dưỡng, bà TH không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Trần Ngọc QM:

Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ cho bị đơn ông Trần Ngọc QM tham gia các phiên làm việc tại Toà án. Tuy nhiên, ông QM vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Toà án nên vụ án không tiến hành hoà giải được và vụ án được đưa ra xét xử công khai. Tòa án cũng tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 nhưng ông Trần Ngọc QM vẫn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn bà Tạ Thị TH khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trần Ngọc QM nên đây là vụ án tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ kết quả xác minh của Công an Phường 12, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung “Ông Trần Ngọc QM có đăng ký hộ khẩu thường trú và thực tế cư trú tại địa chỉ 453/67KH Lê Văn Sỹ, Phường 12, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, có căn cứ xác định bị đơn ông Trần Ngọc QM có nơi cư trú tại Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Quận 3 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Về việc xét xử vắng mặt nguyên đơn: Nguyên đơn bà Tạ Thị TH có đơn yêu cầu Toà án xét xử vắng mặt. Xét thấy yêu cầu vắng mặt của đương sự là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Trần Ngọc QM tại địa chỉ 453/67KH Lê Văn Sỹ, Phường 12, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227 bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về nội dung vụ án và yêu cầu của đương sự:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 62 do Ủy ban nhân dân Phường 6, quận Tân Bình cấp ngày 17/11/2021 nên có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Tạ Thị TH và ông Trần Ngọc QM là vợ chồng được pháp luật công nhận quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân Gia đình.

Bà Tạ Thị TH và ông Trần Ngọc QM đã sống ly thân. Theo bà TH quá trình chung sống bà và ông QM xảy ra nhiều mâu thuẫn và bất đồng quan điểm. Trong thời gian ly thân vợ chồng không quan tâm đến nhau nên bà TH yêu cầu ly hôn với ông QM.

Qua xác minh tại Công an Phường 12, Quận 3 nơi ông QM cư trú, được biết hiện nay bà TH và ông QM không chung sống với nhau. Quá trình giải quyết vụ án bà TH kiên quyết ly hôn với ông QM, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà TH và ông QM đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hai bên đều không có thiện chí hàn gắn.

Đối với ông QM, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật nhưng ông QM cũng không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu của bà TH, vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa án đã thể hiện ông QM không mong muốn hòa giải với bà TH.

Theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình thì vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng cuộc sống, hạnh phúc gia đình, nhưng bà TH đã không còn tình cảm với ông QM, còn ông QM bỏ mặc không quan tâm đến việc giải quyết vụ án, không thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà TH là có cơ sở phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn bà Tạ Thị TH với ông Trần Ngọc QM.

[2.2] Về con chung:

Căn cứ giấy khai sinh số 100 ngày 22/7/2022, thì bà Tạ Thị TH và ông Trần Ngọc QM có 01 người con chung là Trần MC, sinh ngày 20/5/2022.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án bà TH đều có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng trẻ MC. Về cấp dưỡng, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Từ lúc bà TH và ông QM ly thân đến nay, trẻ Trần MC đang do bà TH trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, trẻ Trần MC, sinh ngày 20/5/2022 thuộc trường hợp trẻ dưới 36 tháng tuổi nên được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng.

Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà TH về việc giao trẻ Trần MC, sinh ngày 20/5/2022 cho bà Tạ Thị TH tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng, bà TH không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ căn cứ và nhận định nêu trên, xét thấy yêu cầu của bà TH là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về tài sản chung: Bà Tạ Thị TH không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về án phí: Bà Tạ Thị TH phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 56; Điều 57, Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tạ Thị TH.

1.1.Về hôn nhân: Bà Tạ Thị TH ly hôn với ông Trần Ngọc QM.

1.2.Về con chung: Giao bà Tạ Thị TH trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần MC, sinh ngày 20/5/2022.

Bà Tạ Thị TH không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Ông Trần Ngọc QM được quyền thăm nom con và phải có nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Không ai có quyền cản trở ông QM thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có quyền quyết định thay đổi người trực tiếp giữ nuôi hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

1.3.Về tài sản chung: Bà Tạ Thị TH không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Tạ Thị TH phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009006 ngày 16/01/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 3 là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Bà Tạ Thị TH đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Bà Tạ Thị TH và ông Trần Ngọc QM được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân Quận 3;
  • - Chi cục Thi hành án Quận 3;
  • - Uỷ ban nhân dân Phường 6, quận Tân Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Nguyễn Gia Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HNGĐ-ST ngày 12/07/2024 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 15/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger