TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 15/2024/KDTM-ST Ngày: 12 - 4 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Vương Thị Hồng Thanh
- Bà Phạm Tú Nhi
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số: 84/2023/KDTM-ST ngày 28/12/2023 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST - KDTM ngày 28 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q1; trụ sở: Số A, L, phường T, quận C, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Trung T; chức danh: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1990; địa chỉ: Lầu E, số E, C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Ông Đỗ Thanh T2, sinh năm 1991; địa chỉ: Lầu E, số E, C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH D1; địa chỉ: Lô A, 2 khu A, khu công nghiệp T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Đức Q; chức danh: Giám đốc.
1
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Xuân H, sinh năm 1985; địa chỉ: Số G, đường D T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phan Phạm Phương T3; sinh năm 1989; địa chỉ: Số B, V, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị H1, sinh năm 1980; thường trú: Số D, khu phố B, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: Số B, V, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Phan Văn N, sinh năm 1965 và bà Phạm Thị D, sinh năm 1974; Thửa đất số 244, tờ bản đồ số 20, quốc lộ E, ấp B, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 12 năm 2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q1 trình bày:
Ngân hàng TMCP Q1 đã ký với Công ty TNHH D2 cấp tín dụng số 84861.22.114.22271506.TD ngày 08/9/2022 với các nội dung như sau: Hạn mức tín dụng: 20.000.000.000 đồng; mục đích vay: bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh sản xuất vải và thương mại xơ sợi của khách hàng; số tiền cho vay: chi tiết theo từng lần giải ngân và nhận nợ, lãi suất: theo thỏa thuận trong Hợp đồng cấp tín dụng số 84861.22.114.22271506.TD ngày 08/9/2022 và các khế ước nhận nợ kèm theo, gồm: Số LD2304570833 ngày 14/02/2023, số LD2304570833 ngày 14/02/2023, số LD2304570833 ngày 14/02/2023, số LD2304735876 ngày 16/02/2023, số LD2304748282 ngày 16/02/2023, số LD2304761800 ngày 16/02/2023, số LD2304771031 ngày 16/02/2023, số LD2304799696 ngày 16/02/2023, số LD2305571565 ngày 24/02/2023, số LD2305538961 ngày 24/02/2023, số LD2305540609 ngày 24/02/2023.
Để bảo đảm cho khoản vay của Công ty TNHH D1, bà Phan Phạm Phương T3 đã thế chấp tài sản là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 244, tờ bản đồ số 20, địa chỉ: xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BH381594, số vào sổ cấp GCN: CH 00742-1428/QĐ UBND do UBND huyện X cấp ngày 23/5/2012, cập nhật chuyển nhượng cho bà Phan Phạm Phương T3 ngày 04/8/2022 theo hợp đồng thế chấp số 44472.22.114.22280673.BĐ ngày 15/9/2022 được công chứng tại Văn phòng C và được đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định.
Sau khi ký kết các hợp đồng nói trên Ngân hàng TMCP Q1 giải ngân cho Công ty TNHH D3 tiền là 19.999.991.504 đồng. Tuy nhiên, đến các kỳ hạn trả nợ gốc và lãi, bên vay đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q1, vi phạm nghiêm trọng các cam kết tại hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ đã ký.
2
Tạm tính đến ngày 12/4/2024, dư nợ các khoản vay của Công ty TNHH D4 tại Ngân hàng TMCP Q1 là: Nợ gốc là 19.999.991.504 đồng, nợ lãi quá hạn: 2.720.901.717 đồng; tổng nợ là 22.720.893.221 đồng (Hai mươi hai tỷ, bảy trăm hai mươi triệu tám trăm chín mươi ba nghìn hai trăm hai mươi mốt đồng).
Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, đôn đốc, yêu cầu Công ty TNHH D5 trả nợ nhưng Công ty TNHH D6, kéo dài thời gian trả nợ. Đến nay, Công ty TNHH D7 không thu xếp tài chính để trả nợ, không chủ động làm việc với Ngân hàng để xử lý khoản nợ.
Như vậy, Công ty TNHH D8 vi phạm các nghĩa vụ cam kết, thỏa thuận với Ngân hàng TMCP Q1 theo hợp đồng tín dụng và các văn bản, giấy tờ khác có liên quan đã ký với Ngân hàng TMCP Q1.
Nay ngân hàng yêu cầu Toà án giải quyết:
- Buộc Công ty TNHH D5 thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP Q1 tổng số tiền tính đến ngày 12/4/2024 là 22.720.893.221 đồng (Hai mươi hai tỷ, bảy trăm hai mươi triệu tám trăm chín mươi ba nghìn hai trăm hai mươi mốt đồng); trong đó: Nợ gốc: 19.999.991.504 đồng, nợ lãi quá hạn: 2.720.901.717 đồng. Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật và phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh theo lãi suất quá hạn quy định tại hợp đồng cấp tín dụng số 84861.22.114.22271506.TD ngày 08/9/2022 và các khế ước nhận nợ kèm theo kể từ ngày 13/4/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Q1.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty TNHH P thanh toán toàn bộ khoản nợ thì Ngân hàng TMCP Q1 có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi toàn bộ tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 244, tờ bản đồ số 20, địa chỉ: xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BH381594, số vào sổ cấp GCN: CH 00742-1428/QĐ UBND do UBND huyện X cấp ngày 23/5/2012, cập nhật chuyển nhượng cho bà Phan Phạm Phương T3 ngày 04/8/2022 theo hợp đồng thế chấp số 44472.22.114.22280673.BĐ ngày 15/9/2022. Tài sản thế chấp được thể hiện tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án ngày 23/02/2024, riêng đối với tài sản của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn N và bà Phạm Thị D đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm nêu trên được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Công ty TNHH Q1. Trường hợp số tiền thu được từ việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm trên không đủ để thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP Q1 thì Công ty TNHH D7 phải có nghĩa vụ thanh toán tiếp số tiền còn thiếu cho Ngân hàng TMCP Q1.
- Tại Bản tự khai ngày 11/01/2024, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn Công ty TNHH D9 ông Phan Xuân H trình bày:
Trong thời gian còn hiệu lực của hợp đồng cho vay số
3
84861.22.114.22271506.TD ngày 08/9/2024. Thời điểm ngày 14/7/2024, phía bị đơn đã chuẩn bị nguồn tiền và hồ sơ để đáo hạn khoản vay nhưng phía Ngân hàng TMCP Q1 không hỗ trợ giải ngân tiếp và không có thông báo bằng văn bản cụ thể lý do từ chối giải ngân. Cùng thời điểm này, chủ doanh nghiệp là bà Nguyễn Thị Ngọc L đang trong thời kỳ thai sản, tình hình kinh doanh của công ty có nhiều khó khăn. Bị đơn đã làm công văn gửi Ngân hàng TMCP Q1 để xin hỗ trợ cơ cấu khoản vay theo thông tư số 02/2023/TT - CP của Chính phủ nhưng phía Ngân hàng TMCP Q1 không phản hồi. Trong thời gian khoản nợ bị nhảy nhóm tín dụng, phía bị đơn đã thiện chí xin tái cơ cấu nợ hoặc tiếp tục được gia hạn khoản vay nhưng phía Ngân hàng TMCP Q1 không phản hồi cụ thể. Theo biên bản làm việc 4/11/2023 kèm theo. Bị đơn xác nhận khoản nợ gốc và lãi mà trước đó bị đơn và nguyên đơn đã xác nhận với nhau. Tuy nhiên, từ sau khi xác nhận thì khoản lãi bị đơn chưa kiểm tra được nên không xác định được số tiền lãi đến ngày 12/4/2024 là bao nhiêu.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn xin Ngân hàng TMCP Q1 cho bị đơn cơ cấu khoản nợ tới tháng 6 năm 2024 và tái ký hợp đồng tín dụng cho bị đơn, cho bị đơn trả góp nợ giảm dần mỗi tháng từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.
- Tại bản tự khai ngày 11/01/2024, người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Phạm Phương T3 là bà Phạm Thị H1 trình bày:
Bà Phan Phạm Phương T3 đã thế chấp tài sản là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thừa đất số 244, tờ bản đồ số 20, địa chỉ: xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BH381594, số vào sổ cấp GCN: CH 00742-1428/QĐ UBND do UBND huyện X cấp ngày 23/5/2012, cập nhật chuyển nhượng cho bà Phan Phạm Phương T3 ngày 04/8/2022. Hợp đồng thế chấp số 44472.22.114.22280673.BĐ ngày 15/9/2022 được đăng ký giao dịch bảo đảm để đảm bảo cho khoản vay của Công ty TNHH D10 hợp đồng cho vay số 84861.22.114.22271506.TD ngày 08/9/2022 và các khế ước nhận nợ kèm theo. Bà T3 không đồng ý phát mãi tài sản bảo đảm và đề nghị Ngân hàng TMCP Q1 cho Công ty TNHH D11 lại khoản vay đến tháng 6 năm 2024, tái ký hợp đồng tín dụng cho Công ty P1 hạn nợ theo từng khế ước nhận nợ, giữ nguyên nhóm nợ và giảm dần theo thanh toán nợ, giảm lãi vay và lãi phạt xuống mức thấp nhất và cho Công ty P2 nợ giảm dần mỗi tháng từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.
- Tại biên bản lấy lời khai 28/02/2024 và bản tự khai ngày 11/01/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn N và bà Phạm Thị D thống nhất trình bày:
Hiện nay ông N và bà D đang sinh sống trên Thửa đất số 244, tờ bản đồ số 20, đường Q, ấp B, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vợ chồng ông, bà được bà Phan Phạm Phương T3 cho sinh sống trên đất từ tháng 7/2022 đến nay. Quá trình sinh sống cũng trong tháng 7/2022, để có nơi ở bà T3 cho vợ chồng
4
ông bà được tự xây dựng các tài sản đã nêu tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/02/2023 của Tòa án. Toàn bộ tài sản đầu tư xây dựng trên đất là tiền của vợ chồng ông bà chứ không liên quan đến ai.
Đối với các tài sản khác như nhà cấp 4, sân banh nhân tạo... vợ chồng ông, bà không có liên quan gì.
Đối với các tài sản vợ chồng ông N và bà D đã đầu tư trên đất thì vợ chồng ông N và bà D xác định không có yêu cầu hay tranh chấp gì trong vụ án này. Đề nghị Tòa án căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết vụ án để đảm bảo quyền lợi của vợ chồng ông, bà.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ:
- Quyền sử dụng đất diện tích 8534m² toạ lạc tại thửa đất số 244, tờ bản đồ số 20, địa chỉ: xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BH381594, số vào sổ cấp GCN: CH 00742-1428/QĐ UBND do UBND huyện X cấp ngày 23/5/2012, cập nhật chuyển nhượng cho bà Phan Phạm Phương T3 ngày 04/8/2022; tài sản gắn liền trên đất gồm có: 01 nhà cấp 4 có kết cấu cột gạch, tường gạch, mái tôn, nền gạch bông có Sino mặt trước; 01 nhà cấp 4 có kết cấu cột gạch, tường gạch, mái tôn, nền bê tông; 01 nhà tắm + 02 nhà vệ sinh có kết cấu cột gạch, tường gạch, nền gạch bông, mái tôn; 01 căn chòi có kết cấu cột kèo gỗ, mái tôn dùng để cho khán giả ngồi xem đá bóng; 01 sân bóng đá có nhân tạo + 10 cột đèn chiếu sáng sân bóng; 01 đồng hồ điện kế chính, 01 đồng hồ nước, 01 hàng rào gạch, cột gạch không tô cao khoảng 60 cm và 01 số cây trồng trên đất như xoài, si, tràm, lộc vừng, me. Nguyên đơn xác định tài sản trên là của bà Phan Phạm Phương T3 và hiện không có ai đang sinh sống trên các tài sản trên. Ngoài ra, còn có 01 quán nước có kết cấu cột kèo sắt, mái tôn, nền bê tông + 01 nhà vệ sinh nhỏ có kết cấu cột, kèo sắt, mái tôn, gắn liền với quán nước là 01 đồng hồ điện kế, 01 đồng hồ nước, đây là tài sản của ông Phan Văn N và bà Phạm Thị D đầu tư, xây dựng.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Phạm Phương T3 là Phạm Thị H1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn N và bà Phạm Thị D có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự có tên nêu trên là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q1 là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Phạm Phương T3 là bà Phạm Thị H1, người có quyền lợi,
5
nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn N và bà Phạm Thị D có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung vụ án: Xét, Hợp đồng cấp tín dụng số 84861.22.114.22271506.TD ngày 8/9/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Q1 với Công ty TNHH D1 thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận của các bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội, thỏa thuận của các bên về số tiền vay, thời hạn vay, mục đích, lãi suất vay, phương thức trả nợ... phù hợp với quy định của pháp luật nên các bên có nghĩa vụ thực hiện. Thực hiện theo hợp đồng cấp tín dụng đã ký, Ngân hàng TMCP Q1 đã giải ngân cho Công ty TNHH D3 tiền 19.999.991.504 đồng, theo các Khế ước nhận nợ số: Số LD2304570833 ngày 14/02/2023, số LD2304570833 ngày 14/02/2023, số LD2304570833 ngày 14/02/2023, số LD2304735876 ngày 16/02/2023, số LD2304748282 ngày 16/02/2023, số LD2304761800 ngày 16/02/2023, số LD2304771031 ngày 16/02/2023, số LD2304799696 ngày 16/02/2023, số LD2305571565 ngày 24/02/2023, số LD2305538961 ngày 24/02/2023, số LD2305540609 ngày 24/02/2023.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty TNHH D8 vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận đã ký giữa các bên. Do khoản vay đã quá hạn thanh toán và chuyển thành các khoản nợ quá hạn. Vì vậy, Ngân hàng TMCP Q1 yêu cầu Công ty TNHH D5 thanh toán số tiền phát sinh theo hợp đồng cấp tín dụng số 84861.22.114.22271506.TD ngày 08/9/2022 và các khế ước nhận nợ với tổng số tiền đến ngày 12/4/2024 là 22.720.893.221 đồng (Hai mươi hai tỷ, bảy trăm hai mươi triệu tám trăm chín mươi ba nghìn hai trăm hai mươi mốt đồng); trong đó: Nợ gốc: 19.999.991.504 đồng, nợ lãi quá hạn: 2.720.901.717 đồng; đồng thời tiền lãi, lãi phạt (nếu có) được tiếp tục tính từ ngày 13/4/2023 cho đến khi thanh toán hết số nợ là có căn cứ chấp nhận.
Đại diện phía bị đơn trình bày do Công ty đang gặp hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị nguyên đơn cho bị đơn cơ cấu khoản nợ tới tháng 6/2024 và tái ký hợp đồng tín dụng cho bị đơn, cho bị đơn trả góp nợ giảm dần mỗi tháng từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng nhưng nguyên đơn không đồng ý nên không có căn cứ chấp nhận đề nghị của bị đơn.
[3] Về việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ:
[3.1] Tài sản là Quyền sử dụng đất diện tích 8534 m² toạ lạc tại thửa đất số 244, tờ bản đồ số 20, địa chỉ: xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BH381594, số vào sổ cấp GCN: CH 00742-1428/QĐ UBND do UBND huyện X cấp ngày 23/5/2012, cập nhật chuyển nhượng cho bà Phan Phạm Phương T3 ngày 04/8/2022. Tài sản được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 44472.22.114.22280673.BĐ ngày 15/9/2022 được đăng ký giao dịch bảo đảm. Xét thấy, tài sản bảo đảm được công chứng và đăng ký thế chấp hợp pháp giữa Ngân hàng TMCP Q1 với bà Phan Phạm Phương T3 là hợp đồng thể hiện sự tự nguyện của các bên, không trái đạo đức, không trái pháp luật và tuân thủ quy
6
định về hình thức nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải tôn trọng thực hiện. Quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Phạm Phương T3 có đơn xin vắng mặt. Tòa án đã thông báo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ cho bị đơn và bà Phan Phạm Phương T3. Sau khi nhận được thông báo bị đơn và bà Phan Phạm Phương T3 không có ý kiến gì về các tài sản gắn liên trên đất nên Tòa án giải quyết theo quy định.
[3.2] Bị đơn Công ty TNHH D8 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết, thỏa thuận với nguyên đơn. Vì vậy, trong trường hợp Công ty TNHH P thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì tài sản đã thế chấp gồm quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất, gồm: 01 nhà cấp 4 có kết cấu cột gạch, tường gạch, mái tôn, nền gạch bông có Sino mặt trước; 01 nhà cấp 4 có kết cấu cột gạch, tường gạch, mái tôn, nền bê tông; 01 nhà tắm + 02 nhà vệ sinh có kết cấu cột gạch, tường gạch, nền gạch bông, mái tôn; 01 căn chòi có kết cấu cột kèo gỗ, mái tôn dùng để cho khán giả ngồi xem đá bóng; 01 sân bóng đá có nhân tạo + 10 cột đèn chiếu sáng sân bóng; 01 đồng hồ điện kế chính, 01 đồng hồ nước, 01 hàng rào gạch, cột gạch không tô cao khoảng 60 cm, 01 số cây trồng trên đất như xoài, si, tràm, lộc vừng, me... của bà Phan Phạm Phương T3 sẽ được phát mãi để thu hồi nợ cho nguyên đơn.
[3.3] Về tài sản của ông Phan Văn N và bà Phạm Thị D: Khi xử lý tài sản trên đất cần xem xét đến quyền lợi của những người liên quan ở trên đất. Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ cũng như tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn N và bà Phạm Thị D đều thừa nhận ngoài tài sản thuộc quyền sở hữu của bà Phan Phạm Phương T3 - chủ sử dụng quyền sử dụng đất đã thế chấp cho Ngân hàng thì còn có tài sản do ông N và bà D đầu tư xây dựng và hiện đang quản lý, sử dụng là: 01 quán nước có kết cấu cột kèo sắt, mái tôn, nền bê tông + 01 nhà vệ sinh nhỏ có kết cấu cột, kèo sắt, mái tôn, gắn liền với quán nước là 01 đồng hồ điện kế, 01 đồng hồ nước. Các tài sản này gắn liền với đất, nếu di dời sẽ không có giá trị sử dụng, vì vậy khi phát mãi tài sản thế chấp sẽ phát mãi toàn bộ số tài sản này và sẽ ưu tiên hoàn trả giá trị cho ông N và bà D theo giá tại thời điểm Cơ quan thi hành án kê biên, xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo quy định của Khoản 3 Điều 68 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính Phủ về giao dịch bảo đảm được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/01/2012 của Chính Phủ và án lệ số 11 ngày 14/12/2017 của HĐTP TAND Tối Cao.
[4] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[5] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Chi phí tố tụng khác: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng, Ngân hàng TMCP Q1 đã tạm ứng, công ty TNHH D5 chịu và có trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng TMCP Q1.
[7] Án phí sơ thẩm: Công ty TNHH D5 chịu án phí kinh doanh thương mại có giá ngạch do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.
7
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 30, 35, 39, 144, 147, 157, 158, 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 280, 317, 318, 319, 320, 323, 335, 336, 339, 342 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Căn cứ khoản 19 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/01/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006.
Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q1 đối với bị đơn công ty TNHH D12 việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Buộc Công ty TNHH D13 trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q1 số tiền vay theo hợp đồng cấp tín dụng số 84861.22.114.22271506.TD ngày 08/9/2022 và các khế ước nhận nợ kèm theo tính đến ngày 12/4/2024 là 22.720.893.221 đồng, trong đó: nợ gốc là 19.999.991.504 đồng, nợ lãi quá hạn là 2.720.901.717 đồng.
Tiền nợ lãi phát sinh theo lãi suất quá hạn được tiếp tục tính kể từ ngày 13/4/2024 cho đến khi Công ty TNHH D14 xong các khoản nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại hợp đồng cấp tín dụng số 84861.22.114.22271506.TD ngày 08/9/2022 và các khế ước nhận nợ kèm theo.
Trường hợp, Công ty TNHH P thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì Ngân hàng TMCP Q1 được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi các tài sản sau để thu hồi nợ, gồm: Quyền sử dụng đất diện tích 8534m² toạ lạc tại thửa đất số 244, tờ bản đồ số 20, địa chỉ: xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BH381594, số vào sổ cấp GCN: CH 00742-1428/QĐ UBND do UBND huyện X cấp ngày 23/5/2012, cập nhật chuyển nhượng cho bà Phan Phạm Phương T3 ngày 04/8/2022 và các tài sản gắn liền với đất gồm: 01 nhà cấp 4 có kết cấu cột gạch, tường gạch, mái tôn, nền gạch bông có Sino mặt trước; 01 nhà cấp 4 có kết cấu cột gạch, tường gạch, mái tôn, nền bê tông; 01 nhà tắm + 02 nhà vệ sinh có kết cấu cột gạch, tường gạch, nền gạch bông, mái tôn; 01 căn chòi có kết cấu cột kèo gỗ, mái tôn dùng để cho khán giả ngồi xem đá bóng; 01 sân bóng đá có nhân tạo + 10 cột đèn
8
chiếu sáng sân bóng; 01 đồng hồ điện kế chính, 01 đồng hồ nước, 01 hàng rào gạch, cột gạch không tô cao khoảng 60 cm, 01 số cây trồng trên đất như xoài, si, tràm, lộc vừng, me; 01 quán nước có kết cấu cột kèo sắt, mái tôn, nền bê tông + 01 nhà vệ sinh nhỏ có kết cấu cột, kèo sắt, mái tôn, gắn liền với quán nước là 01 đồng hồ điện kế, 01 đồng hồ nước.
Ông Phan Văn N và bà Phạm Thị D được quyền nhận giá trị các tài sản gắn liền với đất là 01 quán nước có kết cấu cột kèo sắt, mái tôn, nền bê tông + 01 nhà vệ sinh nhỏ có kết cấu cột, kèo sắt, mái tôn, gắn liền với quán nước là 01 đồng hồ điện kế, 01 đồng hồ nước theo giá trị do cơ quan chuyên môn xác định tại thời điểm phát mãi.
Trường hợp số tiền thu được từ việc kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm nói trên không đủ để thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP Q1 thì Công ty TNHH D7 phải có nghĩa vụ thanh toán tiếp số tiền còn thiếu cho Ngân hàng TMCP Q1.
3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Công ty TNHH D5 chịu 5.000.000 đồng và có trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng TMCP Q1.
4. Án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm: Công ty TNHH D5 chịu 130.720.893 đồng. Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q1 số tiền 64.741.624 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001429 ngày 21/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
5. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ HẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Nam |
9
Bản án số 15/2024/KDTM-ST ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 15/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/04/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh cháo hợp đồng tín dụng
