TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN Bản án số: 15/2024/HSST Ngày 11/12/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nông Văn Quân;
2/ Bà Phạm Thị Sinh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn tham gia phiên toà:
Ông Hoàng Đức Biên – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2024/TLST- HS ngày 21 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HS ngày 26/11/2024 đối với bị cáo:
Phùng Văn Q (tên gọi khác: Không); sinh ngày 26 tháng 02 năm 1994 tại tỉnh Thái Bình; nơi ĐKHKThôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình; chỗ ở hiện nay: Tổ A, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phùng Văn T và bà Bùi Thị T1; vợ: Nông Thị Minh L, sinh năm 1999 (đã ly hôn năm 2024); con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2024;
Tiền án: Không.
Tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 21/8/2024, Phùng Văn Q bị Công an xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, hình thức phạt tiền, mức phạt: 1.500.000 đồng.
Nhân thân: Ngày 21/02/2014, Phùng Văn Q bị Công an thị xã B (nay là Công an thành phố B), tỉnh Bắc Kạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, mức phạt: 350.000 đồng. Q chưa chấp hành nộp phạt, tuy nhiên cho đến nay đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B từ ngày 22/8/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Anh Nguyễn Lê H, sinh năm 1992; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Tổ D, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
1
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hoàng Thị T2, sinh năm 1956; nghề nghiệp: Hưu trí. Địa chỉ: Tổ A, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Nông Quốc H1, sinh năm 1983; Chức vụ: Phó Trưởng Công an phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Địa chỉ: Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Nông Anh T3, sinh năm 1996; Chức vụ: Cán Bộ Công an phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Địa chỉ: Tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Âu Dương T4, sinh năm 1986; Chức vụ: Cán Bộ Công an phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Địa chỉ: Tổ A, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Bế Ngọc T5, sinh năm 1989; Chức vụ: Cán bộ Đội CSĐT tội phạm về kinh tế và ma túy Công an thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Địa chỉ: Tổ A, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Bùi Thị T1, sinh năm 1971; nghề nghiệp: Lao động tự do. HKTT: Thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình. Nơi tạm trú: Tổ A, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
*Người làm chứng:
- Anh Lường Quốc Đ, sinh năm 1986. Địa chỉ: Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
- Anh Nguyễn Quang Đ1, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
- Anh Bùi Cao C, sinh năm 1989. Địa chỉ: Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
2
Phùng Văn Q (sinh năm 1994, trú tại: thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình), thuê nhà và tạm trú tại tổ A, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, công việc chính của Q là kinh doanh quán Karaoke "Black White” có địa chỉ tại thôn N, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Phùng Văn Q là người nghiện chất ma túy đã nhiều năm và có thời gian tham gia điều trị Methadone tại Cơ sở điều trị Methadone Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Bắc Kạn. Tuy nhiên trong ngày 03/8/2024, Q vi phạm nội quy của Cơ sở điều trị Methadone nên ngày 10/8/2024, Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh B đã có văn bản chấm dứt điều trị cai nghiện bằng thuốc thay thế Methadone đối với Phùng Văn Q.
Trong buổi tối ngày 21/8/2024, Phùng Văn Q gọi điện thoại di động cho Bùi Cao C (thường gọi là C rắn, sinh năm 1989, trú tại tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn) nhưng C không nghe điện thoại. Sau đó Q mượn xe mô tô của một người là nhân viên của Q (Q không nhớ họ tên của chủ xe và biển kiểm soát của xe mô tô) và một mình điều khiển xe đi từ tổ 11B, phường S, thành phố B đến nhà C. Khi Q đến nhà C thì Q gặp C và Đặng Phương T6, sinh năm 1992 (T6 là vợ của C và trú cùng địa chỉ với C) đang ở nhà, lúc này Q thấy còn có một người thanh niên tên là D (Q không biết họ tên đệm, năm sinh và địa chỉ của D ở đâu) đang nằm ngủ trên giường tại nhà C. Q vào nhà ngồi nói chuyện với C được khoảng 10 phút tại phòng khách thì C nói phải đi đón con nên Q đã chờ C ở nhà, một lúc sau C đi đón con về thì giữa Q và C tiếp tục nói chuyện với nhau về chuyện gia đình và công việc kinh doanh quán hát karaoke. Sau khi nói chuyện, C nói sẽ cùng vợ, con đi ăn cùng một số nhân viên làm quán hát karaoke của C. Lúc này tại nhà C chỉ có Q và D nên Q đã hỏi D có tìm mua được ma túy đá không thì D bảo để em xem đã, Q đưa cho D số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), Dương cầm tiền đi đâu thì Q không biết. Khoảng 20 phút sau D quay về nhà C và cầm theo 01 gói nhỏ ma túy đá và cầm theo 01 (một) “Coóng” để sử dụng ma túy đá nhưng Q không biết D lấy “Coóng” từ đâu, sau đó cả hai cho ma túy đá vào “Coóng” và cùng nhau sử dụng hết số ma túy đá mà D vừa mua được bằng hình thức hít. Sau khi sử dụng ma túy đá xong thì D đi ngủ, còn Q ở lại nhà C và chơi điện tử (game) trên điện thoại di động đến sáng.
Buổi sáng ngày 22/8/2024, Q điều khiển xe mô tô đi về nhà thuê tại tổ A, phường S, thành phố B và nằm tại ghế trong nhà. Đến khoảng đầu giờ chiều ngày 22/8/2024, do vẫn bị ảo giác từ ma túy đá do đã sử dụng tối ngày 21/8/2024 nên Q đi bộ ra ngoài đường thì thấy bà Hoàng Thị T2 (sinh năm 1956, trú tại tổ A, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn) đang cầm dao đi làm vườn nên Q đã hỏi bà T2 để mượn dao. Sau khi lấy được dao, Q cầm dao bằng tay phải rồi đi bộ đến khu vực trước cổng Trường Trung học phổ thông C1 để về nhà. Khi Q đang trên đường đi về nhà thì nhìn thấy anh Nguyễn Lê H (sinh năm 1992, trú tại tổ D, phường S, thành phố B) vừa điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 97A - 056.16 đi đến và dừng đỗ ở lề đường bên phải theo hướng cầu D đi tổ dân phố số A, phường S tại trước khu vực cổng Trường Trung học phổ thông C1. Lúc này Q đang đi bộ và cầm dao bằng tay phải theo hướng cầu D đi tổ dân phố số A, phường S tiến về phía xe ô tô đang dừng đỗ, khi anh H vừa mở cửa lái xe ô tô đi ra thì lúc này Q vừa đi tới chỗ anh H, do vẫn còn ảo giác của ma tuý đá nên Q cầm dao bằng tay phải chém theo hướng từ trên xuống
3
dưới vào người anh H, thấy vậy anh H phản ứng theo quán tính và đưa tay phải lên để đỡ thì bị dao chém vào tay phải gây thương tích, do bị đau nên anh H quay đầu bỏ chạy về phía trước đầu xe ô tô được khoảng 5m thì bị trượt ngã. Lúc này anh H được anh Lường Quốc Đ (sinh năm 1986, trú tại tổ A, phường Đ, thành phố B) đưa đến Phòng khám “Tuyết Chiểu” tại tổ F, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn để kiểm tra và sơ cứu vết thương. Trong lúc này Q không đuổi theo anh H nữa mà quay lại đứng nói chuyện với anh Nguyễn Quang Đ1 (sinh năm 1985, trú tại tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn), sau đó Q đi về nhà thuê và cầm dao ngồi ở hiên trước cửa nhà. Sau đó anh H được gia đình đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B điều trị, đồng thời anh Lường Quốc Đ gọi điện thoại trình báo sự việc đến Công an phường S, thành phố B.
Khoảng 15 giờ 00 ngày 22/8/2024, sau khi nhận được tin báo của anh Lường Quốc Đ về nội dung sự việc, ông Đinh Như N - Trưởng Công an phường S, thành phố B đã phân công Tổ công tác của Công an phường gồm các ông: Nông Quốc H1 Phó Trưởng Công an phường làm Tổ trưởng và các ông: Âu Dương T4, Nông Anh T3, Bế Ngọc T5 là cán bộ Công an phường S đến hiện trường xác minh, giải quyết vụ việc. Khi tổ công tác đến hiện trường thì đều mặc trang phục Công an nhân dân và nhìn thấy Q đang ngồi tại ghế đá đặt trước cửa Phòng bảo vệ của Trường Trung học phổ thông C1, tay phải cầm 01 (một) con dao quắm có biểu hiện không tỉnh táo (nghi do sử dụng ma tuý đá), Tổ công tác đã tiến hành vận động, thuyết phục Phùng Văn Q giao nộp con dao và hợp tác làm việc với lực lượng Công an, tuy nhiên Q không chấp hành mà tiếp tục có hành vi hung hãn cầm dao đuổi chém các ông Nông Anh T3, Âu Dương T4 và Bế Ngọc T5 khiến ông Nông Anh T3 bị trượt ngã và bị xước da ở đầu gối hai chân, trang phục Công an nhân dân đang mặc bị rách tại khu vực bên ngoài cổng Trường Trung học phổ thông C1. Sau đó Q tiếp tục quay lại chỗ ông Nông Quốc H1 đang đứng dùng dao đuổi chém ông H1 khiến ông H1 bị ngã làm xước, rách da ở ngón tay cái, đầu ngón tay áp út của bàn tay phải và đầu gối bên trái tại bên trong cổng Trường Trung học phổ thông C1.
Do Phùng Văn Q manh động, liều lĩnh nên lực lượng Công an phường S đứng tản ra xung quanh hiện trường, còn Q lúc này vẫn đang cầm dao ngồi tại ngã ba dốc lên cổng Trường Trung học phổ thông C1. Do tính chất sự việc nghiêm trọng nên Công an phường S đã báo cáo Công an thành phố B, Công an tỉnh B để cử lực lượng tham gia hỗ trợ khống chế đối tượng. Đến khoảng hơn 16 giờ ngày 22/8/2024, lực lượng Công an thành phố B và Công an tỉnh B đã vận động, thuyết phục Q bỏ dao và khống chế đối tượng. Công an phường S tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi cố ý gây thương tích và chống người thi hành công vụ và đưa Phùng Văn Q đến trụ sở Công an thành phố B để làm tiếp tục làm việc.
Ngày 24/8/2024, anh Nguyễn Lê H đã có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc trên.
Ngày 26/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã ra quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y và Giám định y khoa tỉnh B giám định tổn thương cơ thể đối với anh Nguyễn Lê H.
4
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 118/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 28/8/2024 của Trung tâm pháp y và Giám định y khoa tỉnh B đối với Nguyễn Lê H kết luận:
“1. Các kết quả chính:
Vết thương ở mặt sau, 1/3 giữa cẳng tay phải, kích thước: 0,8cm x 0,2cm theo Chương 8 - Mục I - Khoản 2, tỷ lệ % TTCT: 02%
* Các vết thương trầy xước, mất da nông: Mặt sau trong, 1/3 trên cẳng tay phải, ô mô cái tay trái, đốt 2 ngón I tay trái, 02 vết ở đầu gối phải và tổn thương đứt bán phần cơ duỗi các ngón tay phải, tại thời điểm giám định chưa đánh giá được tỷ lệ % TTCT, đề nghị giám định bổ sung sau khi điều trị ổn định.
2. Kết luận:
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Lê H tại thời điểm giám định là: 2% (Hai phần trăm).
3. Cơ chế hình thành vết thương: Vật sắc”.
Ngày 12/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung đối với Nguyễn Lê H về các vết thương trầy xước, mất da nông: mặt sau trong, 1/3 trên cẳng tay phải, ô mô cái tay trái, đốt 2 ngón I tay trái, 02 vết ở đầu gối phải và tổn thương đứt bán phần cơ duỗi các ngón tay phải.
Tại bản Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số: 124/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 16/9/2024 của Trung tâm Pháp y và Giám định y khoa tỉnh B kết luận.
1. Các kết quả chính:
- Sẹo vết thương ở mặt trong, 1/3 trên cẳng tay phải, kích thước: 1,2cm x 01cm, theo Chương 8 - Mục I - Khoản 2, tỷ lệ % TTCT: 2%.
- Sẹo vết thương ô mô cái tay trái, kích thước: 1,2cm x 01cm, theo Chương 8 - Mục I - Khoản 2, tỷ lệ TTCT: 2%, theo phương pháp cộng tại Thông tư còn 1,96%.
- Sẹo vết thương ở đốt 2, ngón I tay trái, kích thước: 1,2cm x 0,2cm, theo Chương 8 - Mục I - Khoản 1, tỷ lệ TTCT: 1%, theo phương pháp cộng tại Thông tư còn 0,96.
- Vết biến đổi sắc tố da ở mặt trên ngoài đầu gối phải, sát bờ trên xương bánh chè, kích thước: 01cm x 01cm, theo Chương 8 - Mục V, tỷ lệ % TTCT: 0,5% - 1%, lấy 1%, theo phương pháp cộng tại Thông tư còn 0,95%.
- Vết biến đổi sắc tố da ở mặt trước đầu gối phải, giữa xương bánh chè, kích thước: 01cm x 01cm, theo Chương 8 - Mục V, tỷ lệ % TTCT: 0,5 – 1%, lấy 1%, theo phương pháp cộng tại Thông tư còn 0,94%.
- * Tổn thương đứt bán phần cơ duỗi các ngón tay tại thời điểm giám định không ảnh hưởng đến động tác duỗi bàn tay và các ngón tay phải, nên không có tỷ lệ % TTCT.
5
2. Kết luận:
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể bổ sung của Nguyễn Lê H tại thời điểm giảm định là: 6,81%, làm tròn 07% (Bảy phần trăm). Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Đối với thương tích của ông Nông Quốc H1 và Nông Anh T3 là cán bộ Công an phường S, sau khi xảy ra vụ việc thì hai người không đề nghị giám định thương tích mà yêu cầu xử lý Phùng Văn Q theo đúng quy định của pháp luật.
Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã trưng cầu V giám định chất ma túy trong mẫu máu thu được của Phùng Văn Q. Tại bản Kết luận giám định hóa pháp số: 2079/PY-XNĐH ngày 05/9/2024 của V xác định trong mẫu máu của Phùng Văn Q như sau:
- Tìm thấy các chất ma túy Amphetamin, M. Không tìm thấy các chất ma túy khác.
Tại Cơ quan điều tra, Phùng Văn Q khai nhận sau khi sử dụng ma tuý đá bị ảo giác nên khó chịu, bực tức trong trong người nên đã dùng dao chém gây thương tích cho anh Nguyễn Lê H. Sau đó cầm dao đuổi chém lực lượng Công an phường S nhằm mục đích không thực hiện theo yêu cầu và chống lại việc thực thi nhiệm vụ của lực lượng lượng Công an phường S.
Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Phùng Văn Q thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.
Tại Bản Cáo trạng số 80/CT-VKSTP, ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Phùng Văn Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự và tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.
Các điều luật có nội dung:
Điều 134. Tội cố ý gây thương tích
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm ...;
i) Có tính chất côn đồ.
”
Điều 330. Tội chống người thi hành công vụ
6
“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phùng Văn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Chống người thi hành công vụ”.
- Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; khoản 1 Điều 330; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phùng Văn Q từ 07 đến 10 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; từ 07 đến 10 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vự”.
Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 14 đến 20 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/8/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe. Tuy nhiên, bị cáo đã tự nguyện tác động gia đình nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để bồi thường cho bị hại Nguyễn Lê H. Tại phiên toà, bị hại H nhất trí nhận số tiền trên, do vậy cần căn cứ các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự ghi nhận sự thoả thuận giữa bị cáo và bị hại về việc bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho bị hại Nguyễn Lê H số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
Đối với số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) bà T1 đã nộp thay cho bị cáo Phùng Văn Q thì bà không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả cho bà do vậy đề nghị HĐXX không xem xét.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Anh Nông Quốc H1, Âu Dương T4, Nông Anh T3, Bế Ngọc T5 và bà Hoàng Thị T2 đều không yêu cầu bị cáo Q phải bồi thường về dân sự nên đề nghị HĐXX không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao bằng kim loại có một lưỡi sắc có mỏ phía mũi dao (loại dao quắm), chuôi dao bằng kim loại có gắn cán bằng gỗ, dao dài 46cm x bản rộng nhất 5,6cm, dao đã qua sử dụng.
+ Trả lại cho bị cáo Q: 01 (một) Căn cước công dân số: [...] do Cục C2 về TTXH Bộ C3 cấp ngày 17/5/2023 mang tên Phùng Văn Q, sinh ngày 26/02/1994, trú tại: thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.
7
+ Tạm giữ số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) do mẹ của bị cáo Q là bà Bùi Thị T1 nộp thay cho bị cáo theo biên lai thu tiền số 0000641, ngày 18/11/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn, để đảm bảo việc thi hành án khoản tiền bồi thường cho bị hại.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Bị cáo Phùng Văn Q thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo về tội danh, điều luật, mức hình phạt và trách nhiệm dân sự như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo đã thật sự ăn năn, hối hận về hành vi vi phạm pháp luật của mình, chỉ xin HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
* Bị hại anh Nguyễn Lê H có ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự. Tuy nhiên trong giai đoạn truy tố, bị cáo đã tự nguyện tác động gia đình nộp một khoản tiền là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn để bồi thường cho bị hại. Do vậy tại phiên toà hôm nay, bị hại cũng nhất trí nhận số tiền trên và đề nghị HĐXX xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nông Quốc H1, ông Âu Dương T4, ông Nông Anh T3 và ông Bế Ngọc T5 đều có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn trình bày rõ: Họ đều không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự; về trách nhiệm hình sự: Đề nghị HĐXX giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị T2 vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt trong đơn nêu rõ: Đối với con dao quắm bị cáo Q mượn của bà sau đó gây thương tích cho người khác thì bà T2 không yêu cầu Q phải bồi thường và trả lại con dao cho bà. Bà cũng không yêu cầu lấy lại con dao trên, đề nghị Toà án xử lý theo quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị T1 có ý kiến: Bị cáo có tác động nhờ bà nộp thay cho bị cáo số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn để bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Lê H. Số tiền trên là tiền của cá nhân bà, tuy nhiên bà không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả cho bà số tiền này.
* Những người làm chứng đều có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại và bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố B và Kiểm sát viên trong quá
8
trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Phùng Văn Q thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở xác định:
Trong buổi tối ngày 21/8/2024, Phùng Văn Q vì sử dụng trái phép chất ma túy đá (loại Amphetamin, M) dẫn đến bị ảo giác nên trong ngày 22/8/2024 Q đi bộ tại khu vực cổng Trường THPT C1 thuộc tổ A, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn thì gặp bà Hoàng Thị T2 đang cầm dao đi làm cỏ vườn nên Q đã mượn 01 (một) con dao của bà T2. Sau khi mượn được dao, Q đi bộ đến trước cổng Trường THPT C1 thì thấy anh Nguyễn Lê H dừng đỗ xe ô tô và mở cửa xe đi ra thì Q đã cầm dao bằng tay phải lao tới chém vào tay phải của anh H dẫn đến anh H bị thương tích 09% (chín phần trăm).
Sau khi vụ việc xảy ra, Công an phường S, thành phố B nhận được nguồn tin về tội phạm nên đã thành lập tổ công tác đến hiện trường giải quyết vụ việc, khi phát hiện Q đang ngồi tại ghế đá đặt trước cửa Phòng bảo vệ của Trường Trung học phổ thông C1, tay phải cầm 01 (một) con dao quắm có biểu hiện không tỉnh táo (do sử dụng ma tuý đá), tổ công tác đã tiến hành vận động, thuyết phục Phùng Văn Q giao nộp con dao và hợp tác làm việc với lực lượng Công an, tuy nhiên Q không chấp hành mà tiếp tục có hành vi hung hãn cầm dao đuổi chém lực lượng Công an phường làm cho ông Nông Anh T3 bị trượt ngã và bị xước da ở đầu gối hai chân, trang phục Công an nhân dân đang mặc bị rách; Nông Quốc H1 bị ngã làm xước, rách da ở ngón tay cái, đầu ngón tay áp út của bàn tay phải và đầu gối bên trái. Sau đó Q được lực lượng Công an thuyết phục, vận động nên đã bỏ dao và bị khống chế, đưa về trụ sở Công an thành phố Bắc Kạn để làm việc.
Các hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự và tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự. Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn truy tố đối với bị cáo về các tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, chống đối, cản trở việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ, xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước trong lĩnh vực đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương do vậy cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự.
9
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 21/02/2014, Phùng Văn Q bị Công an thị xã B (nay là Công an thành phố B), tỉnh Bắc Kạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” (mức phạt: 350.000đ); ngày 21/8/2024, bị Công an xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, hình thức phạt tiền, mức phạt: 1.500.000₫.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ vẻ vang và Huy chương Chiến thắng hạng Nhất nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ khác theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX xét thấy các tội phạm bị cáo thực hiện đều là tội phạm ít nghiêm trọng, tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu, lại cùng lúc phạm nhiều tội do vậy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một khoảng thời gian nhất định mới đảm bảo việc răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung cho xã hội.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe. Tuy nhiên, bị cáo đã tự nguyện tác động gia đình nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để bồi thường cho bị hại Nguyễn Lê H. Tại phiên toà, bị hại H nhất trí nhận số tiền trên, do vậy cần căn cứ các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự ghi nhận sự thoả thuận giữa bị cáo và bị hại về việc bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho bị hại Nguyễn Lê H số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Xác nhận gia đình bị cáo đã nộp số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn để bồi thường cho người bị hại.
Đối với số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) bà T1 đã nộp thay cho bị cáo Phùng Văn Q thì bà không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả cho bà do vậy HĐXX không xem xét.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Ông Nông Quốc H1, ông Âu Dương T4, ông Nông Anh T3 và ông Bế Ngọc T5 và bà Hoàng Thị T2 đều không yêu cầu bị cáo Q phải bồi thường về dân sự nên HĐXX không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng:
10
+ Đối với 01 (một) con dao bằng kim loại có một lưỡi sắc có mỏ phía mũi dao (loại dao quắm), chuôi dao bằng kim loại có gắn cán bằng gỗ, dao dài 46cm x bản rộng nhất 5,6cm, dao đã qua sử dụng, là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bà Hoàng Thị T2. Tuy nhiên bà T2 không yêu cầu lấy lại con dao trên đồng thời xét thấy con dao cũng không còn giá trị sử dụng do vậy cần tịch thu tiêu huỷ.
+ Đối với 01 (một) căn cước công dân số: [...] do Cục C2 về TTXH Bộ C3 cấp ngày 17/5/2023 mang tên Phùng Văn Q, sinh ngày 26/02/1994, trú tại: thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình, là giấy tờ hợp pháp của bị cáo Q, cần trả lại cho bị cáo.
+ Tạm giữ số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) do mẹ của bị cáo là bà Bùi Thị T1 nộp thay cho bị cáo theo biên lai thu tiền số 0000641, ngày 18/11/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn, để đảm bảo việc thi hành án khoản tiền bồi thường cho bị hại.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Do bà Bùi Thị T1 đã tự nguyện nộp tiền bồi thường thiệt hại tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn thay cho bị cáo trong giai đoạn truy tố nên bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền đã nộp.
[9] Về các vấn đề khác:
- Đối với nội dung Phùng Văn Q trình bày trong buổi tối ngày 21/8/2024, khi đến nhà Bùi Cao C thì Q có được đưa tiền cho C để mua ma túy đá về cùng nhau sử dụng, tuy nhiên sau khi sự việc Q thực hiện hành vi cố ý gây thương tích và chống người thi hành công vụ xảy ra trong ngày 22/8/2024 thì cả Bùi Cao C và người tên D đều không có mặt tại trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn. Ngày 25/9/2024, Bùi Cao C đến Cơ quan điều tra làm việc nhưng không thừa nhận sự việc được Q đưa tiền để mua ma túy cùng nhau sử dụng trong buổi tối ngày 21/8/2024, tại gia đình C cũng không có bộ đồ để sử dụng ma túy đá (bộ C4). Kết quả xác minh, khám xét đối với nơi ở của C không phát hiện các dụng cụ để sử dụng ma túy đá. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất lời khai giữa Q và C về nội dung sử dụng ma túy nhưng hai bên vẫn giữ nguyên lời khai của mình. Đối với người tên D mà Q trình bày có mặt tại nhà C trong buổi tối ngày 21/8/2024 thì C có mối quan hệ quen biết từ năm 2017 nhưng chỉ biết tên là D, nhà ở tỉnh Thái Nguyên nhưng không biết họ tên đệm, địa chỉ cụ thể ở đâu và cũng chưa được đến nhà D. Trong ngày 21/8/2024, D có đến nhà C chơi và ngủ lại, sau đó D đi đâu, làm gì thì C không biết, bản thân D cũng không làm việc tại tỉnh Bắc Kạn nên hiện nay C không liên lạc được với D và không biết D đang ở đâu. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh thông tin của người tên D nhưng không xác định được địa chỉ và nơi cư trú. Đã tiến hành kiểm tra thông tin tài khoản Facebook, Zalo của người tên D trên điện thoại của Bùi Cao C nhưng không có thông tin cụ thể về tài khoản của người tên D.
Đến ngày 01/10/2024, khi làm việc với Cơ quan điều tra thì Phùng Văn Q thay đổi lời khai nội dung là trong buổi tối ngày 21/8/2024 Q được đưa tiền cho D để đi mua ma túy và cùng D sử dụng tại nhà C nhưng thời điểm đó thì C và vợ không có mặt ở nhà và không liên quan đến việc sử dụng ma túy của Q và D.
11
Căn cứ kết quả điều tra và tài liệu, chứng cứ thu thập được, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không có thông tin gì của người tên D trên địa bàn thành phố B. Bùi Cao C và Phùng Văn Q không cung cấp được thông tin cụ thể về nhân thân, lai lịch của D, do đó Cơ quan điều tra chưa làm việc được với người tên D nên chưa đủ căn cứ để xem xét xử lý trách nhiệm của Bùi Cao C trong vụ án trên, do đó Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ và đề nghị xử lý sau nếu có vi phạm.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong buổi tối ngày 21/8/2024 của Phùng Văn Q, Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đến Công an thành phố B và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
- Đối với bà Hoàng Thị T2, sinh năm 1956, trú tại tổ A, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn là người được Q mượn dao sau đó Q sử dụng con dao này gây thương tích cho anh Nguyễn Lê H vào ngày 22/8/2024. Khi cho Q mượn dao thì bà T2 không biết mục đích Q sử dụng con dao trên làm gì, do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với bà T2 là đúng quy định.
- Đối với nội dung Phùng Văn Q cầm dao chém gây thương tích cho anh Nguyễn Lê H, sau đó tiếp tục cầm dao đuổi chém lực lượng Công an phường S diễn ra trong một khoảng thời gian dài tại khu vực tập trung đông dân cư và tại trường THPT C1 thuộc tổ A, phường S, thành phố B với tính chất côn đồ, manh động. Hành vi trên của Q đã gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, làm việc với UBND phường S, trường THPT C1 và đại diện tổ dân phố 11B, phưởng Sông C về nội dung trên. Đại diện chính quyền địa phương, nhà trường và tổ dân phố có ý kiến đề nghị cơ quan chức năng xử lý nghiêm minh đối với hành vi của Phùng Văn Q gây ra trong ngày 22/8/2024 theo đúng quy định của pháp luật. Đối với hành vi có dấu hiệu của tội “Gây rối trật tự công cộng”, hành vi của Q đã gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của quần chúng nhân dân tại tổ A, phường S, tuy nhiên hành vi trên của Q xuất phát từ việc bị ảo giác do sử dụng chất ma túy và đã bị Cơ quan điều tra khởi tố về tội “Chống người thi hành công vụ” và “Cố ý gây thương tích” nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Q về tội “Gây rối trật tự công cộng” là phù hợp.
[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Chống người thi hành công vự”.
- Điều luật áp dụng và hình phạt:
12
Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; khoản 1 Điều 330; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phùng Văn Q 08 (T7) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; 08 (T7) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.
Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/8/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự, ghi nhận sự thoả thuận giữa bị cáo và người bị hại về việc bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho bị hại Nguyễn Lê H số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Xác nhận gia đình bị cáo đã nộp số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn để bồi thường cho bị hại H.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao bằng kim loại có một lưỡi sắc có mỏ phía mũi dao (loại dao quắm), chuôi dao bằng kim loại có gắn cán bằng gỗ, dao dài 46cm x bản rộng nhất 5,6cm, dao đã qua sử dụng.
- + Trả lại cho bị cáo Q: 01 (một) Căn cước công dân số: [...] do Cục C2 về TTXH Bộ C3 cấp ngày 17/5/2023 mang tên Phùng Văn Q, sinh ngày 26/02/1994, trú tại: thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.
- + Tạm giữ số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) do mẹ của bị cáo Q là bà Bùi Thị T1 nộp thay cho bị cáo theo biên lai thu tiền số 0000641, ngày 18/11/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn, để đảm bảo việc thi hành án khoản tiền bồi thường cho bị hại Nguyễn Lê H.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an thành phố B và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn).
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phùng Văn Q phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa
13
có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nguyệt Thu |
14
Bản án số 15/2024/HSST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN về vụ án hình sự: cố ý gây thương tích và chống người thi hành công vụ
- Số bản án: 15/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Cố ý gây thương tích và Chống người thi hành công vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phùng Văn Q phạm tội "Cố ý gây thương tích" và tội "Chống người thi hành công vụ".
