Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/DS - ST

Ngày: 11-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng

tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hà; ông Nguyễn Văn Hạnh.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 11/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 21/2024/TLST - DS ngày 25/6/2024 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST - DS ngày 05/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/QĐST-DS ngày 27/8/2024, giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1).

Địa chỉ trụ sở chính: Số B N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Chức vụ: Tổng giám đốc. Vắng mặt.

Đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S2) - Địa chỉ: Số B N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc T - Chức vụ: Tổng giám đốc. Vắng mặt

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Thân Lê N - Chức vụ: Nhân viên - Địa chỉ: Số B N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Mai Hữu C - sinh năm 1985 - Địa chỉ tạm trú: Số D M, phường A, quận P, thành phố Hồ Chí Minh - Địa chỉ thường trú: Thôn E, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/01/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 06/03/2020, anh Mai Hữu C có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của anh C, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng, loại thẻ Visa Platium với hạn mức sử dụng là 30.000.000đ, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Lãi suất trong hạn là lãi suất được S1 công bố theo biểu phí trong từng thời kỳ (lãi suất áp dụng 2.48%/tháng), lãi suất quá hạn là mức lãi suất tối đa bằng 150% lãi suất trong hạn. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, anh C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 666.189.184₫.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 05/8/2022 anh C đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 645.671.200đ. Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, cụ thể: Lãi trong hạn 8.580.197₫; Phí trễ hạn thanh toán 1.283.391đ; Phí vượt hạn mức 204.614đ; Phí khác (phí thường niên, phí rút tiền mặt...) 2.997.000đ; số tiền còn lại sẽ trừ vào tổng số tiền đã giao dịch 666.189.184₫, sau khi trừ dư nợ còn thiếu khi chuyển quá hạn là 33.583.186đ (cụ thể: 645.671.200₫ - 8.580.197₫ - 1.283.391₫ - 204.614₫ - 2.997.000₫ - 666.189.184₫ = - 33.583.186₫).

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng anh C vẫn không có thiện chí trả nợ. Do anh C vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 06/12/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu (đối với số tiền 33.583.186đ) sang nợ quá hạn, áp dụng lãi suất quá hạn là 3.72%/tháng (=lãi suất trong hạn 2.48% x 150%) được quy định tại Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Tính đến ngày 12/12/2023, anh C còn nợ các khoản sau: Dư nợ gốc: 33.583.186đ; Lãi quá hạn: 15.503.844đ. Tổng cộng: 49.087.030đ (bốn mươi chín triệu tám mươi bảy nghìn ba mươi đồng)

Mặc dù, Ngân hàng đã yêu cầu anh C có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên anh C vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã ký quy định tại Hợp đồng. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Công Ty S2 đề nghị Tòa: Buộc anh Mai Hữu C phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 11/9/2024 là 60.506.528₫ (sáu mươi triệu năm trăm linh sáu nghìn năm trăm hai mươi tám đồng), trong đó: Dư nợ gốc: 33.583.186₫; Lãi quá hạn: 26.923.342đ. Anh Mai Hữu C có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 12/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Đối với bị đơn anh Mai Hữu C, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh theo quy định. Mặc dù anh C không có ở nhà nhưng có người thân là ông Mai Hữu C1 (bố đẻ anh C) đã nhận thay các văn bản do Tòa án tống đạt và có trách nhiệm thông báo lại cho anh C nhưng anh C cố tình vắng mặt, không hợp tác, không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, không nêu ý kiến của mình, nên vụ án không tiến hành hòa giải được.

Vụ án có liên quan đến xác minh tình trạng cư trú của bị đơn nên Tòa án tiến hành biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại Điều 97 BLTTDS.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định.

- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu anh Mai Văn C2 phải trả số tiền còn nợ gốc và lãi theo quy định. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí DSST theo quy định; hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật:

Tranh chấp giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S (S1) và anh Mai Hữu C là tranh chấp hợp đồng tín dụng và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn được quy định khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngày 27/8/2024, Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất, bị đơn vắng mặt không có lý do nên phải hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do nên theo quy định điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử lần hai - vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung tranh chấp: Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng đề ngày 06/3/2020, S1 đồng ý cấp với hạn mức sử dụng là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng), với mục đích tiêu dùng cá nhân; Lãi suất áp dụng là 2.48%/tháng.

Theo các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì quá trình sử dụng thẻ, anh Mai Hữu C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 666.189.184đ (sáu trăm sáu mươi sáu triệu một trăm tám mươi chín nghìn một trăm tám mươi tư đồng), anh C đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 645.671.200đ (sáu trăm bốn mươi lăm triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn hai trăm đồng), tính đến ngày 11/9/2024 anh C còn nợ S1: Dư nợ gốc: 33.583.186đ (ba mươi ba triệu năm trăm tám mươi ba nghìn một trăm tám mươi sáu đồng); Lãi quá hạn: 26.923.342đ (hai mươi sáu triệu chín trăm hai mươi ba nghìn ba trăm bốn mươi hai đồng); tổng cộng là 60.506.528₫ (sáu mươi triệu năm trăm linh sáu nghìn năm trăm hai mươi tám đồng).

Quá trình sử dụng thẻ, do anh C vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho S1 theo Thông báo giao dịch hàng tháng, thuộc trường hợp S1 được quyền chấm dứt sử dụng thẻ theo quy định tại Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, nên ngày 06/12/2022, S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 33.583.186₫ sang nợ quá hạn.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng, đối với hợp đồng vay mà một bên là tổ chức tín dụng thì tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất vay, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng. Theo quy định của S1, phí và tiền lãi của thẻ tín dụng được quy định tại Điều 23 và Điều 25 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của S1 được công khai trên website của S1, nên khi ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, anh C cũng đã biết về lãi suất và phí đối với loại thẻ tín dụng mà anh được cấp.

Xét thấy, việc sử dụng thẻ tín dụng do S1 cấp thì người sử dụng thẻ phải tuân thủ các quy định theo Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của S1 cũng như sự thỏa thuận về mức lãi suất giữa hai bên, vì vậy yêu cầu của S1 đối với anh C là có căn cứ. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 100, Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử (HĐXX) xét thấy cần buộc anh C phải thanh toán cho S1 tổng số tiền dư nợ gốc và lãi quá hạn tính đến ngày 11/9/2024 là 60.506.528₫ (sáu mươi triệu năm trăm linh sáu nghìn năm trăm hai mươi tám đồng), là phù hợp.

[3] Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Hội đồng xét xử xét thấy tính chất, các tình tiết, sự kiện pháp lý trong vụ án này tương tự như các tình tiết, sự kiện pháp lý trong án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016. Vì vậy, cần áp dụng án lệ số 08/2016/AL để xác định nghĩa vụ chậm thi hành án.

[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) có giá ngạch theo quy định của pháp luật, cụ thể: 60.506.528đ x 5% = 3.025.326đ, làm tròn là 3.025.000đ (ba triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 100 và Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng; Án lệ số 08/2016/AL; điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1): Buộc anh Mai Hữu C phải thanh toán cho S1 tính đến ngày 11/9/2024 với tổng số tiền là 60.506.528đ (sáu mươi triệu năm trăm linh sáu nghìn năm trăm hai mươi tám đồng), trong đó: Nợ gốc: 33.583.186đ (ba mươi ba triệu năm trăm tám mươi ba nghìn một trăm tám mươi sáu đồng), Lãi quá hạn: 26.923.342đ (hai mươi sáu triệu chín trăm hai mươi ba nghìn ba trăm bốn mươi hai đồng).

    Kể từ ngày 12/9/2024, anh Mai Hữu C còn phải tiếp tục thanh toán cho S1 số tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc, theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 06/3/2020 của S1, cho đến khi anh C thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà anh C phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  2. Về án phí: Anh Mai Hữu C phải nộp 3.025.000đ (ba triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí DSST.

    Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền 1.227.000đ (một triệu hai trăm hai mươi bảy nghìn đồng) tạm ứng án phí DSST đã nộp theo biên lai thu số 0032269 ngày 18/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP S và anh Mai Hữu C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Nga Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Nga Sơn;
  • - Chi cục THADS quận Phú Nhuận,
  • TP. Hồ Chí Minh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/DS - ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 15/2024/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP S yêu cầu anh Mai Hữu C trả số tiền còn nợ gốc và lãi tính đến ngày 11/9/2024 là 0.506.528đ (sáu mươi triệu năm trăm linh sáu nghìn năm trăm hai mươi tám đồng), trong đó: Nợ gốc: 33.583.186đ (ba mươi ba triệu năm trăm tám mươi ba nghìn một trăm tám mươi sáu đồng), Lãi quá hạn: 26.923.342đ (hai mươi sáu triệu chín trăm hai mươi ba nghìn ba trăm bốn mươi hai đồng)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger