|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 5 - 2024.
V/v tranh chấp HN&GĐ.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Tiến Thịnh và bà Lê Thị Sinh Chi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 247/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2023, về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 10/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Anh Bùi Huy H, sinh năm 1989, (vắng mặt có lý do);
Nơi cư trú: Tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
-
Bị đơn: Chị Vũ Thị Thùy T, sinh năm 1998, (vắng mặt);
Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Tổ G, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Tại Quyết định tuyên bố mất tích số 04/2023/QĐST-DS ngày 05/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tuyên bố chị Vũ Thị Thùy T là người mất tích.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 13/11/2023, tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại các tài liệu chứng cứ đã xuất trình, nguyên đơn anh Bùi Huy H trình bày và có yêu cầu cụ thể như sau:
Về hôn nhân: Anh và chị Vũ Thị Thùy T tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 04/8/2016, tại UBND phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Sau kết hôn anh và chị T chung sống tại gia đình anh tại tổ A phường H, thành phố T. Quá trình chung sống tình cảm anh, chị vui vẻ, hạnh phúc, đến đầu năm 2020 chị T có hành vi vi phạm pháp luật nên tự ý bỏ về nhà bố, mẹ đẻ tại tổ G, phường H, thành phố T sinh sống sau đó bỏ đi đâu anh không biết. Tháng 8/2020, chị T bị Công an tỉnh T truy nã. Từ đầu năm 2020 đến năm 2023 anh cùng gia đình anh và gia đình chị T đã tìm chị T ở nhiều nơi nhưng không có kết quả. Chị T không liên lạc, không tin tức gì về cho anh, gia đình hai bên và bạn bè, không ai biết chị T đang ở đâu, làm gì. Do chị T bỏ đi đã hơn hai năm không có tin tức nên tháng 3/2023 anh yêu cầu Toà án tuyên bố chị T là người mất tích. Tại Quyết định số 04/2023/QĐST-DS ngày 05/9/2023, Toà án nhân dân thành phố Thái Bình đã tuyên bố chị Vũ Thị Thùy T là người mất tích. Kể từ ngày Toà án tuyên bố chị T mất tích đến nay, anh vẫn không có tin tức của chị T. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn chị Vũ Thị Thùy T.
Về con chung: Anh và chị Vũ Thị Thùy T không có con chung nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh và chị Vũ Thị Thùy T không có tài sản chung và không có nợ chung nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Quyết định số 04/2023/QĐST-DS ngày 05/9/2022, Toà án nhân dân thành phố Thái Bình đã tuyên bố chị chị Vũ Thị Thùy T là người mất tích. Quá trình giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình, Toà án đã niêm yết các văn bản tố tụng dân sự tại địa phương nhưng vẫn không có thông tin về chị T, vì vậy Toà án không thu thập được ý kiến, quan điểm của chị Vũ Thị Thùy T về việc giải quyết vụ án ly hôn.
* Tại biên bản xác minh ngày 05/02/2024, đại diện tổ dân phố số 01 và đại diện tổ dân phố số G, phường H và đại diện UBND phường Q, thành phố T cung cấp như sau:
Về hôn nhân: Anh Bùi Huy H và chị Vũ Thị Thùy T có đăng ký kết hôn tại Giấy chứng nhận kết hôn số 64 ngày 04/8/2016, tại UBND phường H, thành phố T. Sau kết hôn anh, chị chung sống tại tổ A, phường H, thành phố T đến đầu năm 2020 chị T bỏ về sống với bố, mẹ đẻ tại tổ G, phường H, thành phố T, địa phương không biết lý do chị T và anh H ly thân. Hiện tại bố, mẹ đẻ chị T đã chuyển đi nơi khác sống nhưng vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ G, phường H, thành phố T. Hiện tại chị T không có mặt tại tổ A và tổ G, phường H, thành phố T, địa phương không có tin tức về chị T. Đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến tại phiên tòa giải quyết vụ án dân sự:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
-
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đảm bảo đúng quy định tại các Điều: 28, 35, 39, 68, 96, 97, 175, 177, 191, 195, 203, 208, 209, 210, 211, 220 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
-
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
2. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14:
- Về hôn nhân: Xử cho anh Bùi Huy H được ly hôn chị Vũ Thị Thùy T.
- Về con chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Anh Bùi Huy H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Bị đơn có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại phường H, thành phố T; nguyên đơn khởi kiện vụ án về tranh chấp hôn nhân và gia đình. Căn cứ các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình.
[1.2] Về thủ tục hòa giải và xét xử: Tại Quyết định số 04/2023/QĐST-DS ngày 05/9/2022, Toà án nhân dân thành phố Thái Bình đã tuyên bố chị Vũ Thị Thùy T là người mất tích. Quá trình giải quyết vụ án chị T không có mặt tại địa phương, nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại Điều 220, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Xét hôn nhân giữa anh Bùi Huy H và chị Vũ Thị Thùy T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 04/8/2016, tại UBND phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình, tỉnh Thái Bình, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau kết hôn anh, chị chung sống hoà thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên, do chị T có hành vi vi phạm pháp luật nên đã bỏ nhà đi biệt tích từ năm 2020 đến nay, anh H và gia đình hai bên đã tìm chị T ở nhiều địa điểm nhưng không ai có tin tức về chị T. Tháng 3/2023 anh H yêu cầu Toà án tuyên bố chị T là người mất tích. Tại Quyết định số 04/2023/QĐST-DS ngày 05/9/2023, Toà án nhân dân thành phố Thái Bình đã tuyên bố chị Vũ Thị Thùy T là người mất tích. Kể từ ngày Toà án tuyên bố chị T mất tích đến nay vẫn không ai có tin tức gì của chị T. Như vậy, hôn nhân giữa anh H và chị T không tồn tại trên thực tế, mục đích hôn nhân không đạt được. Khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.”; khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự quy định: “Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.”. Từ các căn cứ trên cần xét xử cho anh H được ly hôn chị T là phù hợp pháp luật.
[2.2] Về con chung: Anh Bùi Huy H trình bày anh và chị Vũ Thị Thùy T không có con chung. Tòa án không thu thập được ý kiến, quan điểm của chị Vũ Thị Thùy T về việc giải quyết vụ án, do đó, không đặt ra giải quyết về con chung trong vụ án này.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Anh Bùi Huy H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Chị Vũ Thị Thùy T không có ý kiến, quan điểm về việc giải quyết vụ án, do đó, không đặt ra giải quyết về tài sản chung và nợ chung trong vụ án này.
[3] Về án phí: Anh Bùi Huy H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều: 28; 35; 39; khoản 4 Điều 147; điểm a khoản 1 Điều 203; khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 51, khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Bùi Huy H được ly hôn chị Vũ Thị Thùy T.
Về con chung: Không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Anh Bùi Huy H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng anh H đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu tạm ứng án phí số 0001077 ngày 04/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình sang thi hành án phí.
Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/5/2024. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Quyền thi hành: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hân |
Bản án số 15/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 15/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn với người bị tuyên bố mất tích
