TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 15/2024/DS-PT Ngày: 10/01/2024. V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Viết Văn.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Lan Anh;
Ông Lê Thanh Bình.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng – Thư ký, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Đức Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm, công khai vụ án thụ lý số 573/2022/TLPT- DS ngày 08 tháng 12 năm 2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 257/2022/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2023/QĐ-PT ngày 30/3/2023, Quyết định hoãn phiên toà số 151/2023/QĐPT-HPT ngày 13/4/2023, Thông báo mở lại phiên toà số 06/2024/TB-TA ngày 02/01/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần B1;
Địa chỉ trụ sở chính: Số A, đường Q, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An;
Người đại diện theo Pháp luật: Bà Thái H - Chức vụ: Tổng Giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh T - Chức vụ: Tổng Giám đốc công ty TNHH Q và Khai thác tài sản Ngân hàng TMCP B1; Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Mai Tuấn H1, ông Lê Đức H2, bà Hoàng Thị Tố H3 theo Giấy ủy quyền số 399/2022/UQ-TGĐ ngày 28/3/2022.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Hải N, sinh năm 1984;
Đăng ký hộ khẩu: Phòng 415 – A Tập thể G, phường G, quận B, thành phố Hà Nội.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Đào Xuân M, sinh năm: 1976; Đăng ký hộ khẩu: Thôn A, Phương T1, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện đang thi hành án tại Trại giam P – Bộ C2. Địa chỉ: Xã S, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
+ Cụ Đinh Thị Đ, sinh năm 1938; ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1960; chị Nguyễn Hồng C, sinh năm 1988; cháu Nguyễn Công H4, sinh năm 2014; cháu Nguyễn Phương T2, sinh năm 2016. Người đại diện theo pháp luật của cháu H4, cháu T2: Chị Nguyễn Hồng C. Cùng cư trú tại: số C ngõ A ngách D D, phường M, quận C, thành phố Hà Nội.
+ Bà Nguyễn Thị Tất T3, sinh năm 1969; ông Nguyễn Minh T4, sinh năm 1963; anh Nguyễn Quang D, sinh năm 1998 và chị Nguyễn Linh G, sinh năm 2005. Địa chỉ: Số nhà E, ngõ A ngách D D, phường M, quận C, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Quang D và người đại diện theo pháp luật của chị Nguyễn Linh G, sinh năm 2005 là bà Nguyễn Thị Tất T3 theo Biên bản xác nhận ủy quyền ngày 06/7/2021.
+ Văn phòng C3. Địa chỉ: Số F, ngõ B L, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật ông Ngô Văn H5.
+ Văn phòng C3. Địa chỉ: Số D phố T, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.
+ Ủy ban nhân dân dân quận C, thành phố Hà Nội. Địa chỉ: Số C Cầu G, phường Q, quận C, thành phố Hà Nội.
Người kháng cáo, ông Nguyễn Văn M1, bà Nguyễn Thị Tất T3 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Bản án dân sự sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:
Theo đơn khởi kiện ngày 30 tháng 11 năm 2020 của nguyên đơn, cũng như các bản khai người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn trình bày:
Chị Nguyễn Thị Hải N vay vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần B1- Chi nhánh H6 (sau đây gọi tắt là B2) theo Hợp đồng tín dụng số 0000050943/2014HĐTD - B2 ngày 18/7/2014, với các nội dung chính như sau:
Số tiền vay: 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng); Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn mua đất; Thời hạn vay: 60 tháng (tính từ ngày giải ngân vốn vay lần đầu tiên). Ngày giải ngân: 24/7/2014 theo khế ước nhận nợ số 0000050943.1 ngày 24/7/2014. Lãi suất cho vay ban đầu: 12%/năm; Lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng/lần kể từ ngày 24/7/2014 theo chính sách lãi suất của B2. Lãi suất gia hạn bằng 120% lãi suất trong hạn đang áp dụng tại thời điểm gia hạn nợ. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn đang áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Phạt chậm trả lãi: 0,05%/ngày/số tiền lãi chậm trả. Trả thành nhiều kỳ, (3 tháng/kỳ). Trả 20.000.000 đồng trong 19 kỳ đầu tiên và 620.000.000 đồng vào cuối kỳ. Trả nợ lãi: hàng tháng, từ ngày 25 đến ngày cuối cùng trong tháng.
* Tài sản bảo đảm: Toàn bộ quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 159, tờ bản đồ số 24, địa chỉ: Tổ D, phường M, quận C, thành phố Hà Nội theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BR 501539; số vào sổ cấp GCN: CH569/QĐ-UBND/2014/2239 do UBND quận C, thành phố Hà Nội cấp ngày 10/3/2014 cho anh Đào Xuân M. Hợp đồng thế chấp tài sản ngày 18/7/2014, số công chứng: 001552/2014; quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐTHC ký giữa B2 với anh Đào Xuân M tại Văn phòng C3, thành phố Hà Nội. Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất và nhà quận C, thành phố Hà Nội ngày 21/7/2014.
Thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, B2 đã giải ngân đủ cho chị Nguyễn Thị Hải N số tiền vay là 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) theo khế ước nhận nợ ngày 24/7/2014 có chữ ký xác nhận của chị Nguyễn Thị Hải N.
Sau khi vay vốn đến nay, chị Nguyễn Thị Hải N mới chỉ trả được 110.990.001 đồng bao gồm nợ gốc: 40.000.000 đồng và nợ lãi: 70.990.001 đồng tính đến ngày 20/3/2015, từ đó đến nay không trả nữa. Tạm tính đến ngày 24/9/2022, chị Nguyễn Thị Hải N còn nợ B2 số tiền như sau: Nợ gốc: 960.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 22.520.832 đồng; nợ lãi quá hạn 1.239.874.167 đồng. Tổng cộng: 2.222.394.999 đồng.
Tại phiên tòa B2 xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền phạt chậm trả lãi trong hạn: 235.122 đồng.
B2 đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- Buộc chị Nguyễn Thị Hải N thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho B2 số tiền tạm tính đến ngày 24/9/2022 cụ thể: Nợ gốc: 960.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 22.520.832 đồng; nợ lãi quá hạn 1.239.874.167 đồng. Tổng cộng: 2.222.394.999 đồng và toàn bộ các khoản lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 0000050943/2014HĐTD – B2 kể từ ngày 04/11/2020 cho đến ngày chị Nguyễn Thị Hải N thanh toán xong nghĩa vụ trả nợ.
- Trường hợp chị Nguyễn Thị Hải N không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ cho B2 thì B2 được quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ cho B2 theo “Hợp đồng thế chấp tài sản” ngày 18/7/2014, số công chứng: 001552/2014; quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐ THC. Tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của thửa đất số 159, tờ bản đồ số 24 tại địa chỉ: Tổ D, phường M, quận C theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền vớđấsố BR 501539; MS: 10113070184-01; số vào sổ tấp GCN: CH569/QĐ-UBND/2014/2239; do UBND quận C, thành phố Hà Nội cấp ngày 10/3/2014 cho anh Đào Xuân M.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, nguyên đơn giữ nguyên quan điểm khởi kiện và đồng ý sử dụng biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 17 tháng 12 năm 2021 và kết quả định giá tài sản ngày 04 tháng 6 năm 2022 làm căn cứ để giải quyết vụ án.
Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M1, ngân hàng không đồng ý vì không có căn cứ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai ngày 18/01/2021, anh Đào Xuân M trình bày:
- Ông Nguyễn Văn M1 trình bày:
- - Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ngày 20/01/2014 giữa ông và anh Đào Xuân Mạnh;
- - Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BR 501539, MS 10113070184-01, Số vào sổ cấp GCN cấp ngày CH569/QĐ-UBND/2014/2239 do UBND quận C cấp cho anh Đào Xuân M và trả lại cho ông.
- - Tuyên hợp đồng thế chấp giữa anh Đào Xuân M với B2 là vô hiệu.
- Chị Nguyễn Hồng C trình bày:
- Bà Nguyễn Thị Tất T3 và ông Nguyễn Minh T4 thống nhất trình bày:
- - Đề nghị Tòa án xác nhận việc mua bán đất theo theo Giấy bán nhà đất ngày 28/5/2000 giữa bà T3, ông T4 và cụ B, cụ Đ, ông M1 là đúng pháp luật;
- - Đề nghị Tòa án xác nhận phần diện tích 58 m² thuộc sở hữu hợp pháp của bà T3, ông T4.
- Văn phòng C3. Người đại diện theo pháp luật ông Ngô Văn H5 trình bày:
- Ủy ban nhân dân quận C, thành phố Hà Nội.
- - Ngày 06/10/2000, UBND thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mã số 10113070184 tại Quyết định số 5340.2000.QĐUB cho cụ Nguyễn Xuân B và cụ Đinh Thị Đ đối với nhà đất tại tổ D phường M, quận C, thành phố Hà Nội.
- - Ngày 19/8/2008, cụ Nguyễn Xuân B chết, không để lại di chúc.
- - Ngày 20/01/2014, cụ Đinh Thị Đ và các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Xuân B đã lập Văn bản khai nhận di sản thừa kế đối với toàn bộ giá trị quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở của cụ Nguyễn Xuân B tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mã số 10113070184 do UBND thành phố H cấp ngày 06/10/2000 và tặng cho toàn bộ tài sản đã khai nhận cho ông Nguyễn Văn M1 (con trai cụ B, cụ Đ) theo Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế số công chứng 0078/2014/VBPCDSTK, Quyển số 01 do Văn phòng C3, thành phố Hà Nội lập.
- Đồng thời, cùng ngày 20/01/2014, cụ Đinh Thị Đ cũng tặng cho ông Nguyễn Văn M1 toàn bộ giá trị quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở của cụ Đ tại Giấy chứng nhận mã số 10113070184 theo Hợp đồng tặng cho quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số công chứng 0077/2014/TCQSDĐ; Quyển số 01 do Văn phòng C3 lập.
- Sau khi nhận tặng cho toàn bộ tà i sản tại Giấy chứng nhận mã số 10113070184, ông Nguyễn Văn M1 đã chuyển nhượng cho anh Đào Xuân M toàn bộ tài sản này theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số công chứng 0079/2014/HĐCN, Quyển số 01 do Văn phòng Công chứng Mỹ Đình thành phố C3 lập ngày 20/01/2014.
- - Ngày 27/01/2014, anh Đào Xuân M đã được Văn phòng Đăng ký đất và nhà quận C đăng ký là chủ sử dụng đất, sở hữu tài sản trên đất vào Giấy chứng nhận mã số 10113070184 do UBND thành phố H cấp ngày 06/10/2000.
- Sau khi được Văn phòng Đăng ký đất và nhà quận C đăng ký là chủ sử dụng đất, sở hữu tài sản trên đất đối với Giấy chứng nhận mã số 10113070184 do UBND thành phố H cấp ngày 06/10/2000, anh Đào Xuân M có Đơn đề nghị cấp đổi Giấy chứng nhận; Ngày 10/3/2014, UBND quận C đã ban hành Quyết định số 569/QĐ-UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mã số 10113070184 tại Quyết định số 5340.2000.QĐUB và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mã số BR 501539 (0016314021564) cho anh Đào Xuân M.
- - Ngày 18 tháng 7 năm 2014, anh Đào Xuân M thế chấp tài sản tại Giấy chứng nhận mã số BR 501539 (0016314021564) do UBND quận C cấp ngày 10/3/2014 cho B2 theo Hợp đồng thế chấp tài sản được Văn phòng C3 lập theo số công chứng 001552/2014, quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐTHC.
- Ngày 21/7/2014, Văn phòng Đăng ký đất và nhà quận C xác nhận đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất, sở hữu tài nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất với B2 tại Giấy chứng nhận mã số BR 501539 (0016814021564) do UBND quận C cấp ngày 10/3/2014.
- Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 501539 (0016314021564) ngày 10/3/2014 của UBND quận C cấp cho anh Đào Xuân M đã được thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật tại thời điểm giải quyết.
Anh M xác nhận ngày 18 tháng 7 năm 2014 đã ký Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng: 001552/2014; quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐTHC với giữa B2 tại Văn phòng C3. Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất và nhà quận C, thành phố Hà Nội ngày 21/7/2014.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn B2 và bị đơn chị Nguyễn Thị Hải N, anh M đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại thời điểm thụ lý vụ án anh M đang thi hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh L nên không thể đến Tòa án để làm việc được, anh M đã làm đơn xin xét xử vắng mặt, xin được bảo lưu toàn bộ ý kiến theo bản tự khai, Biên bản ghi lời khai và đề nghị Tòa án nhân dân quận Ba Đình giải quyết vắng mặt anh Đào Xuân M tại các buổi làm việc tại Tòa án; các buổi hòa giải; tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản; phiên tòa xét xử sơ thẩm cũng như trong các giai đoạn tố tụng tại Tòa án. Đến tháng 9 năm 2021 Đào Xuân M đã chuyển đến đội 16 phân trại 4 - Trại giam P – Bộ C2 và đã được nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Nhà đất tại thửa đất số 159, tờ bản đồ số 24, địa chỉ: Tổ D, phường M, quận C theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BR501539; MS: 10113070184-01; Số vào sổ cấp GCN: CH569/QĐ-UBND/2014/2239 do UBND quận C cấp ngày 10/3/2014 là nhà đất trước đây đứng tên của ông. Năm 2014 ông có nhu cầu vay tiền để làm ăn nên ông có quen anh Đào Xuân M thông qua một người cháu xã hội. Nên ông có ký Hợp đồng thế chấp vay tiền ngày 05/3/2014 vay anh M 300.000.000 đồng, thời hạn vay là 36 tháng từ ngày 05/3/2014 đến ngày 05/3/2017, hai bên thỏa thuận lãi suất là 1,2%/tháng và để bảo đảm cho khoản vay, ông đồng ý chuyển nhượng tài sản thuộc sở hữu của ông là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Tổ D, phường M, quận C cho anh Đào Xuân M để làm thủ tục vay vốn tại các ngân hàng và tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, trên thực tế ông hiểu là ông chỉ vay của anh M 300.000.000 đồng, khi nào ông có đủ tiền trả cho anh M thì anh M sẽ trả lại cho ông nhà đất trên. Sau khi vay tiền của anh M, ông chưa trả được cho anh M bất cứ khoản tiền nào do ông không tìm được và cũng không biết địa chỉ cụ thể của anh M.
Tại phiên tòa, ông M1 xin rút toàn bộ yêu cầu độc lập với nội dung:
Đối với nhà đất tại địa chỉ: Tổ D, phường M, quận C theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 501539; MS: 10113070184-01; số và o số cấp GCN: CH569/QĐ-UBND/2014/2239; do UBND quận C cấp ngày 10/3/2014 cho anh Đào Xuân M hiện nay địa chỉ là số C ngõ A, ngách D phố D, phường M, quận C, thành phố Hà Nội.
Nguồn gốc nhà đất trên trước đây là của bố chị C - ông Nguyễn Văn M1. Năm 2014, ông M1 có nhu cầu vay vốn, thông qua người quen biết là Doãn A Quân giới thiệu cho ông M1 gặp anh M để làm thủ tục vay vốn. Sau khi trao đổi anh M đồng ý cho ông M1 vay 300.000.000 đồng với điều kiện là ông M1 sẽ nhượng lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 159, tờ bản đồ số 24 tại địa chỉ: Tổ D, phường M, quận C. Sau khi ông M1 trả tiền cho anh M, anh M sẽ trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông M1. Thỏa thuận giữa ông M1 và anh M được lập thành văn bản gồm Hợp đồng thế chấp ngày 05/3/2014 và khế ước nhận nợ ngày 05/3/2014, thời hạn vay là 3 năm, lãi suất là 1,2%/tháng. Trong thời hạn vay, ông M1 có liên hệ với anh M để trả tiền và lấy lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không liên lạc được với anh M. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, chị C không đồng ý, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho gia đình chị.
Cụ Nguyễn Xuân B, cụ Đinh Thị Đ là bố mẹ đẻ của ông Nguyễn Văn M1 và là cô chú của bà Nguyễn Thị Tất T3. Khi đó thông qua ông Đào Xuân N1 - hàng xóm của nhà cụ B có nói với ông bà là gia đình cụ B đang có nhu bán đất nên bà T3 và chồng là ông T4 đã mua một phần diện tích đất của nhà cụ B, cụ Đ. Cụ thể theo Giấy bán nhà đất ngày 28/5/2000 được viết tay và ký kết giữa bà Nguyễn Thị Tất T3, ông Nguyễn Minh T4 và cụ Nguyễn Xuân B, cụ Đinh Thị Đ, ông Nguyễn Văn M1 với nội dung: “Tên tôi là Nguyễn Xuân B hiện tôi đang sử dụng thửa đất số 59 tờ bản đồ 01 bản đồ năm 1986. Nay tôi nhượng lại cho cháu tôi là Nguyễn Thị Tất T3 một căn nhà cấp 4 trên diện tích là 58 m². Thửa đất với kích thước chiều dài là 11,2m một mặt hướng Bắc giáp nhà cô N2, chiều rộng 4,7m mặt hướng Đông giáp nhà cháu T3, mặt hướng Tây rộng 5,7m giáp nhà ông M1. Và nằm trong thửa đất số 159 giá tiền Việt Nam ghi bằng số là 40.000.000 đồng, cháu Nguyễn Thị Tất T3 đã thanh toán hết cho tôi với số tiền Việt Nam ghi bằng số là 40.000.000 đồng và cháu Nguyễn Thị Tất T3 sử dụng ngôi nhà cấp 4 và diện tích đất trên”.
Năm 2000 khi ông bà và cụ B, cụ Đ, ông M1 ký giấy bán nhà đất thì không đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục công chứng, chứng thực và tại thời điểm đó cụ B cũng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó có cả phần diện tích đất đã bán cho ông bà. Ông bà cũng không nắm được đến thời điểm nào cụ B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (trong đó có một phần diện tích đất đã bán cho chúng tôi). Sau khi mua đất của cụ B, ông bà đã xây nhà 4 tầng trên diện tích 58 m² đất nêu trên, khi xây nhà chúng tôi không xin giấy phép xây dựng của UBND phường M. Sau khi xây nhà xong bà T3 cũng nhiều lần đến UBND phường M, quận C, thành phố Hà Nội để hỏi về thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 58 m² đã mua của cụ B, tuy nhiên tại thời điểm đó cán bộ đo vẽ của phường đi đo vẽ toàn bộ diện tích của phường để cấp sổ đỏ cho người dân (bà T3 cũng không biết tên tuổi của cán bộ đo vẽ) có nói với ông bà là diện tích đất trên không làm được sổ đỏ nên bà cũng không làm sổ đỏ nữa.
Khoảng năm 2006, vợ của ông Nguyễn Văn M1 có nói với ông bà là diện tích đất đã mua của cụ B, cụ Đ nằm trong diện tích đất được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cụ B, cụ Đ. Khi đó bà T3 cũng đến UBND phường M để hỏi về thủ tục tách thửa đất và UBND phường M có nói miệng với ông bà Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị sai tên của cụ Đ thành Đinh Thị Đ1. Bà T3 cũng sang gặp cụ B để nói chuyện về việc tách thửa đất đã bán cho gia đình ông bà để ông bà làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cụ B không biết về việc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình cụ B có cả phần đất nhà ông bà và không có ý kiến gì.
Ông bà không nhớ thời điểm ông bà biết về sự việc, ông M1 đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất của gia đình ông là 109 m² trong đó có cả phần diện tích đất của gia đình bà cho anh Đào Xuân M.
Nay khi Tòa án báo gọi và đến xem xét thẩm định tại thửa đất số 159, tờ bản đồ số 24, địa chỉ: Tổ D, phường M, quận C chúng tôi mới biết ông Nguyễn Văn M1 (con cụ Đ) đã chuyển nhượng thừa đất số 159 trên cho anh Đào Xuân M và đã đăng ký thế chấp cho khoản vay của chị Nguyễn Thị Hải N tại B2.
Tại phiên tòa ông T4, bà T3 xin rút toàn bộ yêu cầu độc lập với nội dung:
Ngoài ra, chúng tôi không yêu cầu hay đề nghị gì khác.
Ngày 11/6/2021 Văn phòng C3 đã có đơn xin vắng mặt và cung cấp tài liệu chứng cứ liên quan đến “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số công chứng: 0079/2014HĐCN; Quyến số: 01 ngày 20/01/2014”. Tại thời điểm công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở nêu trên, Công chứng viên Văn phòng C3 đã tuân thủ và đảm bảo trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật công chứng. Do công việc tại Văn phòng công chứng bận nên chúng tôi không thể tham gia các hoạt động tố tụng tại Tòa án. Tôi làm đơn này xin được vắng mặt trong tất cả các hoạt động tố tụng của Tòa án, các buổi xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, kiểm tra xem xét chứng cứ và hòa giải.
Căn cứ theo công văn số 196/TNMT ngày 12/10/2021 với nội dung:
Thực hiện chỉ đạo của UBND quận C giao phòng Tài nguyên và Môi trường kiểm tra và thông tin tới Tòa án nhân dân quận Ba Đình về việc liên quan tới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mã số BR 501539 do UBND quận C cấp ngày 10/3/2014 (theo Thông báo số 379/2001/TB-TA ngày 03/6/2021 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình). Trên cơ sở hồ sơ đang lưu trữ, phòng Tài nguyên và Môi trường quận C có ý kiến như sau:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai của bị đơn và không tiến hành hòa giải cho các đương sự được. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải của đương sự; Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ; Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ; Thông báo về kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa đối với bị đơn và người liên quan.
Tại phiên tòa hôm nay bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C3 vắng mặt lần thứ hai liên tiếp không có lý do và cũng không ủy quyền cho bất cứ ai tham dự phiên tòa nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét quyền lợi của các đương sự được và tiến hành xét xử vụ án theo luật định.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 257/2022/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần B1.
Buộc chị Nguyễn Thị Hải N phải trả Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 tổng số tiền theo Hợp đồng tín dụng số 0000050943/2014HĐTD - B2 ngày 18/7/2014 và khế ước nhận nợ ngày 24/7/2014 tạm tính đến ngày 24 tháng 9 năm 2022 với số tiền cụ thể như sau: Nợ gốc: 960.000.000 (chín trăm sáu mươi triệu) đồng; nợ lãi trong hạn: 22.520.832 (hai mươi hai triệu, năm trăm hai mươi nghìn, tám trăm ba mươi hai) đồng; nợ lãi quá hạn 1.239.874.167 (một tỷ, hai trăm ba mươi chín triệu, tám trăm bảy mươi tư nghìn, một trăm sáu mươi bảy) đồng. Tổng cộng: 2.222.394.999 (hai tỷ, hai trăm hai mươi hai triệu, ba trăm chín mươi tư nghìn, chín trăm chín mươi chín) đồng.
Kể từ ngày 25 tháng 9 năm 2022, chị Nguyễn Thị Hải N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký.
Trường hợp hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật chị Nguyễn Thị Hải N không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền gốc và tiền lãi nói trên cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 thì Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là: Toàn bộ quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 159, tờ bản đồ số 24, địa chỉ: Tổ D, phường M, quận C, thành phố Hà Nội theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BR 501539; Số vào sổ cấp GCN: CH569/QĐ-UBND/2014/2239 do UBND quận C, thành phố Hà Nội cấp ngày 10/3/2014 đảm bảo cho việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ được quy định tại Hợp đồng thế chấp tài sản” ngày 18/7/2014, số công chứng: 001552/2014; quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐTHC ký giữa Ngân hàng TMCP B1 - Chi nhánh H6 với anh Đào Xuân Mạnh tại Văn phòng C3, thành phố Hà Nội. Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất và nhà quận C, thành phố Hà Nội ngày 21/7/2014.
Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp sẽ được thanh toán toàn bộ nợ trong các hợp đồng tín dụng, nếu có dư Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 phải trả lại cho bên thế chấp, nếu thiếu thì bên vay tiền tiếp tục phải trả cho ngân hàng số tiền còn thiếu.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền phạt chậm trả lãi trong hạn: 235.122 đồng do nguyên đơn rút yêu cầu.
3. Đình chỉ toàn bộ yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn M1, ông Nguyễn Minh T4 và bà Nguyễn Thị Tất T3 do các đương sự rút yêu cầu khởi kiện.
4. Do bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Đào Xuân M, cụ Đinh Thị Đ, chị Nguyễn Thị Hồng C1, cháu Nguyễn Công H4, cháu Nguyễn Phương T2, anh Nguyễn Quang D, chị Nguyễn Linh G, Văn phòng C3, Văn phòng C3; UBND quận C không đưa ra yêu cầu độc lập nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác trong trường hợp các đương sự có yêu cầu theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra Bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Không đồng ý, ông Nguyễn Văn M1, bà Nguyễn Thị Tất T3 kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm với lý do Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Ba Đình không đảm bảo tính khách quan, không xem xét toàn diện các tài liệu, chứng cứ của vụ án dẫn đến xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của ông M1, bà T3.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đương sự giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không xuất trình chứng cứ mới.
Tham gia phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:
Về tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung, sau khi phân tích đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn M1, bà Nguyễn Thị Tất T3, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
Về tố tụng, ông Nguyễn Văn M1, bà Nguyễn Thị Tất T3 nộp đơn kháng cáo, nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong hạn luật định là hợp lệ.
Về nội dung, xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn M1 bà Nguyễn Thị Tất T3, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 0000050943/2014HĐTD - B2 ngày 18/7/2014 và khế ước nhận nợ ngày 24/7/2014 giữa B2 và chị N; Hợp đồng thế chấp tài sản ngày 18/7/2014, số công chứng: 001552/2014; quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐTHC ký giữa B2 với anh M tại Văn phòng C3. B2 đã giải ngân đủ cho chị N số tiền vay là 1.000.000.000 đồng theo khế ước nhận nợ ngày 24/7/2014 có chữ ký xác nhận của chị N.
Sau khi vay vốn tính đến ngày 20/3/2015, chị N mới trả được 110.990.001 đồng bao gồm nợ gốc: 40.000.000 đồng và nợ lãi: 70.990.001 đồng, từ đó đến nay không trả nữa.
Bản án dân sự sơ thẩm buộc chị Nguyễn Thị Hải N phải trả Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 tổng số tiền theo Hợp đồng tín dụng tạm tính đến 24 tháng 9 năm 2022 số tiền: Nợ gốc: 960.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 22.520.832 đồng; nợ lãi quá hạn 1.239.874.167 đồng. Tổng cộng: 2.222.394.999 đồng là phù hợp với Hợp đồng tín dụng, phù hợp với quy định của pháp luật.
Xem xét kháng cáo của ông M1, bà T3, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông M1 xin rút toàn bộ yêu cầu độc lập sau:
- - Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ngày 20/01/2014 giữa ông và anh Đào Xuân Mạnh;
- - Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BR 501539, MS 10113070184-01, Số vào sổ cấp GCN cấp ngày CH569/QĐ-UBND/2014/2239 do UBND quận C, thành phố Hà Nội cấp cho anh Đào Xuân M và trả lại cho ông.
- - Tuyên hợp đồng thế chấp giữa anh Đào Xuân M với B2 là vô hiệu.
Việc rút yêu cầu độc lập của ông M1 là tự nguyện không trái với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận và đình chỉ giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm ông T4, bà T3 xin rút toàn bộ yêu cầu độc lập sau:
- - Đề nghị Tòa án xác nhận việc mua bán đất theo theo Giấy bán nhà đất ngày 28/5/2000 giữa bà T3, ông T4 và cụ B, cụ Đ, ông M1 là đúng pháp luật;
- - Đề nghị Tòa án xác nhận phần diện tích 58 m² thuộc sở hữu hợp pháp của bà T3, ông T4.
Việc rút yêu cầu độc lập của bà T3, ông T4 là tự nguyện không trái với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận và đình chỉ giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của B2:
Xét yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên khi bản án có hiệu lực pháp luật, chị N không thanh toán trả cho B2 nợ gốc và nợ lãi thì B2 có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm để thi hành án. Hội đồng xét xử thấy: Tại Hợp đồng thế chấp tài sản ngày 18/7/2014, số công chứng: 001552/2014; quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐTHC ký giữa B2 với anh M tại Văn phòng C3. Anh M đã đồng ý thế chấp và ủy quyền cho ngân hàng xử lý tài sản đảm bảo của mình là toàn bộ quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 159, tờ bản đồ số 24, địa chỉ: Tổ D, phường M, quận C theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BR 501539; Số vào sổ cấp GCN: CH569/QĐ-UBND/2014/2239 do UBND quận C cấp ngày 10/3/2014 cho anh M. Anh M thế chấp cho B2 bảo đảm cho khoản vay của chị N theo Hợp đồng tín dụng số 0000050943/2014HĐTD - B2 ngày 18/7/2014 và khế ước nhận nợ ngày 24/7/2014 giữa B2 và chị N. Hợp đồng thế chấp tài sản nói trên được các bên ký kết tại Văn phòng C3 và được công chứng viên công chứng. Việc ký kết là hoàn toàn tự nguyện không trái các quy định của pháp luật và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm đối với tài sản thế chấp ngày 18/7/2014. Tài sản thế chấp đã được Văn phòng đăng ký đất và nhà quận C chứng nhận việc thế chấp ngày 21/7/2014. Việc anh M ký hợp đồng thế chấp là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc và các bên tham gia ký kết có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Vì vậy, việc anh M dùng tài sản của mình để đảm bảo cho khoản vay của chị N theo Hợp đồng tín dụng là phù hợp với quy định của pháp luật. Bản án dân sự sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của B2 đề nghị Tòa án tuyên khi án có hiệu lực pháp luật mà chị N không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ thì B2 có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để đảm bảo thi hành án là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Như phân tích trên, Bản án dân sự sơ thẩm đã căn cứ và áp dụng đúng các quy định của pháp luật hiện hành để xét xử vụ kiện, kháng cáo của ông Nguyễn Văn M1, bà Nguyễn Thị Tất T3 không có căn cứ, không được chấp nhận; cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm.
Án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn M1 là nười cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm; bà Nguyễn Thị Tất T3 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 26, 30, 35, 39, 147,148, 227, 228, 271, 273, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 91, 95 của Luật tổ chức tín dụng (đã được sửa đổi bổ sung năm 2010); Căn cứ Điều 342, 343, 348, 355; Điều 471, 474, 476 của Bộ luật dân sự năm 2005; Căn cứ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về “Giao dịch bảo đảm”; Căn cứ Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án; Luật thi hành án dân sự.
Xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn M1, bà Nguyễn Thị Tất T3.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 257/2022/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, cụ thể như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần B1.
Buộc chị Nguyễn Thị Hải N phải trả Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 tổng số tiền theo Hợp đồng tín dụng số 0000050943/2014HĐTD - B2 ngày 18/7/2014 và khế ước nhận nợ ngày 24/7/2014 tạm tính đến ngày 24 tháng 9 năm 2022 với số tiền cụ thể như sau: Nợ gốc: 960.000.000 (chín trăm sáu mươi triệu) đồng; nợ lãi trong hạn: 22.520.832 (hai mươi hai triệu, năm trăm hai mươi nghìn, tám trăm ba mươi hai) đồng; nợ lãi quá hạn 1.239.874.167 (một tỷ, hai trăm ba mươi chín triệu, tám trăm bảy mươi tư nghìn, một trăm sáu mươi bảy) đồng. Tổng cộng: 2.222.394.999 (hai tỷ, hai trăm hai mươi hai triệu, ba trăm chín mươi tư nghìn, chín trăm chín mươi chín) đồng.
Kể từ ngày 25 tháng 9 năm 2022, chị Nguyễn Thị Hải N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký.
Trường hợp hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật chị Nguyễn Thị Hải N không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền gốc và tiền lãi nói trên cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 thì Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là: Toàn bộ quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 159, tờ bản đồ số 24, địa chỉ: Tổ D, phường M, quận C, thành phố Hà Nội theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BR 501539; Số vào sổ cấp GCN: CH569/QĐ-UBND/2014/2239 do UBND quận C, thành phố Hà Nội cấp ngày 10/3/2014 đảm bảo cho việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ được quy định tại “Hợp đồng thế chấp tài sản” ngày 18/7/2014, số công chứng: 001552/2014; quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐTHC ký giữa Ngân hàng TMCP B1 - Chi nhánh H6 với anh Đào Xuân Mạnh tại Văn phòng C3, thành phố Hà Nội. Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất và nhà quận C, thành phố Hà Nội ngày 21/7/2014.
Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp sẽ được thanh toán toàn bộ nợ trong các hợp đồng tín dụng, nếu có dư Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 phải trả lại cho bên thế chấp, nếu thiếu thì bên vay tiền tiếp tục phải trả cho ngân hàng số tiền còn thiếu.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền phạt chậm trả lãi trong hạn: 235.122 đồng do nguyên đơn rút yêu cầu.
3. Đình chỉ toàn bộ yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn M1, ông Nguyễn Minh T4 và bà Nguyễn Thị Tất T3 do các đương sự rút yêu cầu khởi kiện.
4. Do bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Đào Xuân M, cụ Đinh Thị Đ, chị Nguyễn Thị Hồng C1, cháu Nguyễn Công H4, cháu Nguyễn Phương T2, anh Nguyễn Quang D, chị Nguyễn Linh G, Văn phòng C3, Văn phòng C3; UBND quận C không đưa ra yêu cầu độc lập nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác trong trường hợp các đương sự có yêu cầu theo quy định của pháp luật.
5. Quyền, nghĩa vụ khi thi hành án dân sự:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6 . Về án phí:
* Án phí sơ thẩm:
- - Chị Nguyễn Thị Hải N phải chịu 76.447.900 (bảy mươi sáu triệu, bốn trăm bốn mươi bảy nghìn, chín trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Ông Nguyễn Văn M1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 067163 ngày 03 tháng 6 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình.
- - Ông Nguyễn Minh T4 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0068259 ngày 10 tháng 5 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình.
- - Bà Nguyễn Thị Tất T3 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0068260 ngày 10 tháng 5 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình.
- - Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 không phải chịu án phí sơ thẩm và được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 34.000.000 (ba mươi bốn triệu) đồng theo Biên lai thu số 001049 ngày 07 tháng 12 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình.
* Án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Tất T3 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 002476 ngày 11/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình.
Hoàn trả ông Nguyễn Văn M1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 002475 ngày 11/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Viết Văn |
Bản án số 15/2024/DS-PT ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 15/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
