Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HS-ST

Ngày 11-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Thu Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đặng Thị Hà

2. Ông Hoàng Văn Tuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 257/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 263/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Phương H, sinh năm 1980; tên gọi khác: Không có; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện tại: C, Tòa R105, Khu đô thị V, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Trần Huy T, sinh năm 1952; con bà: Lê Thị D, sinh năm 1955; có vợ: Lê Thị Kim S, sinh năm 1983; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 06/9/2023 đến ngày 14/9/2023; hiện tại ngoại; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Trung tâm K; địa chỉ: Đồi C, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
  2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Văn C – Chức vụ: Giám đốc

    Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Anh Nguyễn Duy H1, sinh năm 1997; địa chỉ: Số nhà G, đường L, tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)

  3. Chị Ngô Thị H2, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Số nhà D, ngõ B, tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Duy H1, sinh năm 1997 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà G, đường L, tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2021, Trần Phương H nhờ bạn là chị Trần Thị Thanh H3, sinh năm 1980, trú tại thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội đứng ra hợp đồng với Ngân hàng TMCP T4 chi nhánh H5 mua trả góp chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 6 BKS 30G-003.06, thời hạn trả góp theo hợp đồng là 72 tháng kể từ ngày 08/6/2021. Ngân hàng giữ giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 29 078999, biển số BKS 30G-003.06 mang tên chủ xe Trần Thị Thanh H3 do Phòng CSGT Công an thành phố H cấp (bản gốc) và giao cho chị Hoa g biên nhận thế chấp xe ô tô biển số BKS 30G-003.06. Chị H3 giao cho H chiếc xe ô tô kèm theo giấy biên nhận thế chấp. Hàng tháng, H đưa tiền cho chị H3 để nhờ đóng tiền trả góp cho ngân hàng.

Đến tháng 8/2023, H phát hiện Giấy biên nhận thế chấp chiếc xe trên do ngân hàng cấp để lưu thông đã hết hạn nên nhờ chị H3 đến ngân hàng xin cấp lại. Sau đó, chị H3 thông báo cho H biết chiếc xe trên đã hết hạn bảo hiểm thân vỏ nên ngân hàng không cấp giấy thông hành mới; khi có bảo hiểm thân vỏ trong thời hạn 01 năm trở lên thì ngân hàng mới cấp giấy thông hành. Do không muốn mua bảo hiểm thân vỏ nên H nảy sinh ý định mua giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô được làm giả của chiếc xe trên để sử dụng khi tham gia giao thông.

Ngày 25/8/2023, Trần Phương H sử dụng tài khoản Facebook “Hải T1” tìm trên mạng xã hội thì thấy có một bài đăng về việc làm giấy tờ giả và kèm theo số điện thoại để ai có nhu cầu thì kết bạn Zalo. H sử dụng tài khoản Zalo tên “H” đăng ký số điện thoại 0936.161.xxx kết bạn với tài khoản “Mai Văn H4” đăng ký số điện thoại mà H4 thấy trên Facebook, hiện H4 không nhớ số điện thoại này. H4 nhắn tin đặt làm đăng ký xe ô tô giả với giá 1.200.000 đồng, khi nào nhận được giấy chứng nhận đăng ký xe giả thì thanh toán tiền. Sau đó, H4 chụp và gửi qua Z cho người này hình ảnh giấy biên nhận thế chấp xe ô tô và giấy đăng ký xe mà ngân hàng đang giữ và gửi thông tin về địa chỉ nhà H4 để giao nhận. Đến buổi chiều ngày 30/8/2023, H4 nhận được 01 phong bì thư bên trong có đăng ký xe giả đã đặt mua do chị Nguyễn Lệ T2, sinh năm 1984, trú tại thôn H, xã C, huyện G, thành phố Hà Nội là nhân viên Bưu cục G giao cho. H4 nhận phong bì trên rồi chuyển khoản thanh toán cho chị T2 1.200.000 đồng. H4 kiểm tra thấy giấy đăng ký xe ô tô được làm giả có số 29 078999 mang tên chủ xe Trần Thị Thanh H3, địa chỉ: Xóm C, T, T, T/Trì, H6, biển số đăng ký 30G-003.06 (trùng khớp thông tin với giấy chứng nhận xe ô tô đang thế chấp tại ngân hàng). H4 để giấy đăng ký xe ô tô được làm giả này trong chiếc ví da để ở cốp phụ xe ô tô để xuất trình nếu bị Cơ quan chức năng kiểm tra khi tham gia giao thông.

Ngày 31/8/2023, H4 điều khiển xe ô tô BKS 30G-003.06 đi đến thành phố B gặp bạn bè và liên hoan. H4 gặp bạn là chị Ngô Thị H2, sinh năm 1979, trú tại phường D, thành phố B. Do quen biết nhau nên chị H2 đặt vấn đề với H4 để mượn chiếc xe ô tô BKS 30G-003.06 sử dụng đến ngày 07/9/2023 thì H4 đồng ý. H4 giao xe cho chị H2 và dặn giấy tờ xe để tại cốp phụ phía trước xe ô tô và có hạn đăng kiểm đến ngày 31/8/2023, nếu Công an kiểm tra thì nói do nghỉ lễ 2/9 nên chưa đi đăng kiểm được. Đến buổi tối ngày 05/9/2023, chị H2 gọi điện cho H4 nói có cần giúp đăng kiểm xe ô tô hay không để chị H2 làm giúp vì nhà chị H2 gần Trung tâm đăng kiểm. H4 đồng ý và bảo chị H2 ứng tiền để làm thủ tục đăng kiểm, khi nào H4 về thành phố B lấy xe thì sẽ trả lại tiền cho chị H2.

Buổi sáng ngày 06/9/2023, chị Ngô Thị H2 điều khiển xe ô tô BKS 30G-003.06 đến Trung tâm Đ ở phường X, thành phố B để làm thủ tục đăng kiểm. Chị H2 lấy trong cốp xe ô tô và xuất trình 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật, 01 đăng ký xe ô tô số 29 078999 mang tên Trần Thị Thanh H3 thì bị anh Nguyễn Duy H1 là nhân viên nghiệp vụ Trung tâm đăng kiểm phát hiện giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô được làm giả nên thông báo cho Công an thành phố B để xử lý và giao nộp 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DA 1170423 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 29 078999.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B triệu tập Trần Phương H để làm việc thì H xin đầu thú và khai nhận về hành vi đặt mua và sử dụng đăng ký xe ô tô giả và giao nộp 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max, màu vàng, lắp sim số 0939.161.980.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định đăng ký xe ô tô số 29078999 mang tên chủ xe Trần Thị Thanh H3 do Trung tâm Đ thu giữ. Kết luận giám định số 1662/KL-KTHS ngày 08/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

“- Phôi, hình dấu trên “Chứng nhận đăng ký xe ô tô” số 29 078999, biển số BKS 30G-003.06 mang tên chủ xe Trần Thị Thanh H3 cần giám định là giả, được làm bằng phương pháp in phun màu.

- Chữ ký mang tên Đức Việt L trên Chứng nhận đăng ký xe ô tô” số 29 078999, biển số BKS 30G-003.06 mang tên chủ xe Trần Thị Thanh H3 cần giám định so với chữ ký của Đào Việt L1 mẫu lưu trữ tại Phòng K1 - Công an tỉnh B là không phải do cùng một người ký ra”

Cơ quan điều tra đã cho bị can Hải quan sát giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 29 078999, biển số BKS 30G-003.06 mang tên chủ xe Trần Thị Thanh H3 đã thu giữ. Kết quả, H xác định đây là giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô giả do H đặt mua và sử dụng.

Cơ quan điều tra kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax thu giữ của Trần Phương H. Kết quả phát hiện còn lưu tin nhắn zalo liên quan đến việc trao đổi đặt mua đăng ký xe ô tô BKS 30G-003.06 giả và hình ảnh thể hiện giao dịch H chuyển khoản cho chị T2 1.200.000 đồng vào hồi 17 giờ 27 phút ngày 30/8/2023.

Ngày 13/9/2023, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nguồn gốc xe ô tô BKS 30G-003.06, kết quả ông Nguyễn Trung T3 – Giám đốc kinh doanh Ngân hàng TMCP T4 chi nhánh H5, Trung tâm Bán Miền Bắc 1 xác định ngày 08/6/2021, chị Trần Thị Thanh H3 làm hợp đồng mua trả góp chiếc xe trên với Ngân hàng, hạn mức vay là 490.000.000 đồng, thời hạn vay 72 tháng kể từ ngày 09/6/2021 đến 08/6/2027. Tính đến ngày 14/6/2023 thì giấy biên nhận mà ngân hàng cấp cho chị H3 đã hết hiệu lực. Đến nay thì chị H3 chưa bị chậm lãi và tài sản trên không thuộc diện bị thu hồi. Quá trình làm việc, ngân hàng cung cấp 01 hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô (bản photo) đề ngày 08/6/2021.

Đối với người mà H khai nhận đã nhờ làm giả 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô số, biển số đăng ký 30G – 003.06 qua mạng xã hội. H khai không biết tên tuổi, địa chỉ của người này và không còn lưu giữ thông tin gì. Cơ quan điều tra đã xác minh tại Bưu cục G nhưng không lưu trữ thông tin gì có liên quan đến đơn hàng này nên không có căn cứ xử lý.

Đối với chị Ngô Thị H2 được H nhờ đi đăng kiểm chiếc xe ô tô BKS 30G – 003.06 nhưng không biết giấy chứng nhận đăng ký xe là giả nên không cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.

Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max, màu vàng, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số 266/CT-VKS ngày 30 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Trần Phương H về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Phương H từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng về tội “ Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  2. Về vật chứng: Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max, màu vàng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai khiếu nại gì. Hội đồng xét xử đánh giá các hành vi, quyết định của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của những người này nên căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt họ.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai thừa nhận về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với vật chứng và thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Hành vi của bị cáo còn được chứng minh bằng Kết luận giám định số 1662/KL-KTHS ngày 08/9/2023 của phòng K1 Công an tỉnh B đối với vật chứng thu giữ. Trên cơ sở lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, có cơ sở xác định:

Ngày 25/8/2023, Trần Phương H đã đặt mua trên mạng xã hội 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả số 29 078999 mang tên chủ xe Trần Thị Thanh H3 biển kiểm soát 30G-003.06 với giá 1.200.000 đồng mục đích để sử dụng xuất trình khi tham gia giao thông do giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô (bản gốc) đã thế chấp cho ngân hàng và đã hết thời hạn để lưu thông.

Ngày 06/9/2023, H nhờ chị Ngô Thị H2 mang xe ô tô BKS 30G-003.06 đến Trung tâm Đ1 ở thành phố B để giúp đăng kiểm xe thì bị nhân viên Trung tâm đăng kiểm phát hiện đăng ký xe ô tô là giả nên đã báo cho Công an thành phố B. Kết quả giám định xác định giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do H đặt mua và sử dụng là giả được làm bằng phương pháp in phun màu.

Bị cáo H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, đến hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan Nhà nước, tổ chức, xâm phạm lợi ích của nhà nước, tổ chức và của cá nhân, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 điều 341 của Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng số: 266/CT-VKS ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo còn ra đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt. Mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy Kiểm sát viên đề xuất tại phiên tòa là phù hợp nên áp dụng cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án: 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max, màu vàng là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[7] Những vấn đề khác có liên quan:

Đối với người mà H khai nhận đã nhờ làm giả 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô số, biển số đăng ký 30G – 003.06 qua mạng xã hội. H khai không biết tên tuổi, địa chỉ của người này và không còn lưu giữ thông tin gì. Cơ quan điều tra đã xác minh tại Bưu cục G nhưng không lưu trữ thông tin gì có liên quan đến đơn hàng này nên không có căn cứ xử lý.

Đối với chị Ngô Thị H2 được H nhờ đi đăng kiểm chiếc xe ô tô BKS 30G – 003.06 nhưng không biết giấy chứng nhận đăng ký xe là giả nên không cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về điều luật áp dụng:
  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  3. Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Phương H 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  4. Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max, màu vàng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  5. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Cơ quan THAHS Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - UBND xã Tiên Dương, huyện Đông Anh, TP Hà Nội;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Thị Thu Thuỷ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 15/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hải
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger