Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Công Lực.

- Các Thẩm phán: ông Đặng Văn Chum;

ông Nguyễn Đắc Cường.

- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: ông Lê Ngọc Ấn - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 510/2023/TLPT-DS ngày 22/11/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 157/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 486/2023/QĐ-PT ngày 12/12/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Đào Thị M, sinh năm 1950; địa chỉ: số A, đường L, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: ông Phan Minh T, sinh năm 1999; địa chỉ: số A, đường L, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo văn bản ủy quyền ngày 29 tháng 11 năm 2022). Ông T có mặt.

- Bị đơn: ông Trần Văn N, sinh năm 1969; địa chỉ: số B, đường H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Ông N có mặt.

- Người kháng cáo: bị đơn ông Trần Văn N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 12 năm 2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 10 tháng 02 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đào Thị M do ông Phan Minh T là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 05/5/2022, bà M và ông N ký kết Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C Mới, tỉnh Bình Dương (số công chứng 008666, quyển số 05-2022TP/CC-SCC/HĐGD). Tài sản mà bà M cho ông N thuê theo hợp đồng là diện tích đất ở 150m² thuộc một phần thửa đất số 992, tờ bản đồ 20 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số AP 153118, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H52730 do UBND thị xã (nay là thành phố) T cấp ngày 22/7/2009 cho bà M. Tuy nhiên sau đó, các bên có ký bổ sung phụ lục hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, bổ sung thêm diện tích đất thuê, cụ thể đất thuê là toàn bộ diện tích đất 946m² thuộc thửa đất số 992, tờ bản đồ 20 GCNQSDĐ số AP 153118, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H52730 do UBND thị xã (nay là thành phố) T cấp ngày 22/7/2009 cho bà M.

Trên đất thuê là đất trống, không có tài sản.

Thời gian thuê là 6 năm. Mục đích thuê là để ông N làm địa điểm kinh doanh. Giá thuê mà các bên thỏa thuận 3 năm đầu là 7.000.000 đồng/tháng, 3 năm sau là 8.000.000 đồng/tháng.

Ông N đặt cọc cho bà M số tiền 30.000.000 đồng để đảm bảo việc thuê đất.

Ngay sau khi các bên ký kết hợp đồng thuê ngày 05/5/2022 tại văn phòng C thì bà M đã giao đất cho ông N quản lý, sử dụng. Ông N cũng đã giao cho bà M số tiền cọc 30.000.000 đồng như nội dung hợp đồng thuê thể hiện.

Quá trình thuê đất, tháng 5 năm 2022 và tháng 6 năm 2022, ông N không trả tiền thuê đất cho bà M. Tháng 7 năm 2022, ông N trả tiền thuê đất cho bà M với số tiền 7.000.000 đồng; tháng 8 năm 2022, ông N trả tiền thuê đất cho bà M với số tiền 7.000.000 đồng; tổng số tiền 14.000.000 đồng ông N trả cho bà M vào tháng 7 và tháng 8 năm 2022 là trả tiền thuê đất của tháng 5, tháng 6 năm 2022. Từ tháng 9 năm 2022 đến nay thì ông N không trả thêm cho bà M khoản tiền thuê nào nữa.

Tổng số tiền bà M đã nhận của ông N là 44.000.000 đồng, gồm 30.000.000 đồng tiền cọc và 02 tháng tiền thuê đất. Do ông N không trả tiền thuê đất hàng tháng đầy đủ cho bà M. Bà M nhiều lần yêu cầu nhưng ông N chỉ hứa mà không thực hiện. Sau đó bà M có đề xuất phương án thỏa thuận với ông N theo hướng các bên đến văn phòng C lập thỏa thuận chấm dứt hợp đồng thuê. Tuy nhiên, ông N không cùng với bà M lập thỏa thuận chấm dứt việc thuê đất tại văn phòng công chứng nên bà M mới khởi kiện.

Theo đơn khởi kiện của bà Đào Thị M, bà M yêu cầu:

  • Yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ký kết ngày 05/5/2022 giữa bà Đào Thị M và ông Trần Văn N (Hợp đồng được công chứng số 008666, quyển số 05-2022TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng Công chứng Thành phố C).
  • Buộc ông N phải trả tiền thuê đất hàng tháng tính từ tháng 7 năm 2022 cho đến khi vụ án được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án; tạm tính là 11 tháng với số tiền 77.000.000 đồng (7.000.000 đồng/tháng).
  • Buộc ông N phải chịu mất số tiền cọc do vi phạm hợp đồng với số tiền 30.000.000 đồng.
  • Buộc ông N phải tháo dỡ, di dời những công trình, tài sản đã đầu tư trên diện tích đất 150m² đã thuê của bà M; san lấp để trả lại mặt bằng thuê như hiện trạng ban đầu cho bà M. Đất thuê thuộc thửa đất số 992, tờ bản đồ 20 GCNQSDĐ số AP 153118, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H52730 do UBND thị xã (nay là thành phố) T cấp ngày 22/7/2009 cho bà M.

Ngày 13/02/2023, bà M có đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung. Yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Chấm dứt thỏa thuận giữa bà M và ông N về việc bà M cho ông N thuê toàn bộ diện tích đất thuộc thửa đất số 992, tờ bản đồ 20 GCNQSDĐ số AP 153118, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H52730 do UBND thị xã (nay là thành phố) T cấp ngày 22/7/2009 cho bà M (gồm chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ký kết ngày 05 tháng 5 năm 2022 giữa bà Đào Thị M và ông Trần Văn N, công chứng số 008666, quyển số 05-2022TP/CC-SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng Công chứng Thành phố C; chấm dứt Phụ lục của hợp đồng thuê số 01-2022/PLHĐTĐ ngày 05 tháng 5 năm 2022 về việc bổ sung thêm diện tích đất thuê là toàn bộ diện tích đất thuộc thửa đất số 992, tờ bản đồ 20).
  • Buộc ông N phải tháo dỡ, di dời những công trình, tài sản đã đầu tư trên toàn bộ diện tích đất thuộc thửa đất số 992, tờ bản đồ 20 đã thuê của bà M; san lấp để trả lại mặt bằng thuê như hiện trạng ban đầu cho bà M.

Nay bà M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu khởi kiện bổ sung. Nguyên đơn không đồng ý yêu cầu phản tố của ông N vì người vi phạm hợp đồng thuê đất là ông N chứ không phải bà M.

Bà M thống nhất và không có ý kiến về kết quả thẩm định giá.

* Theo đơn phản tố và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Văn N trình bày:

Ông N thừa nhận chữ ký, chữ viết và dấu lăn tay ở mục bên B (bên thuê) của hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ký kết ngày 05/5/2022 giữa bà Đào Thị M và ông Trần Văn N (Hợp đồng được công chứng số 008666, quyển số 05-2022TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng Công chứng Thành phố C); chữ ký và chữ viết họ tên ở mục bên B (người thuê) trong phụ lục của hợp đồng thuê về việc bổ sung thêm diện tích đất thuê là của ông Trần Văn N. Việc ông N ký tên, ghi họ tên, lăn tay trong hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ký kết ngày 05/5/2022 và phụ lục hợp đồng thuê quyền sử dụng đất là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc.

Mục đích ông N ký tên vào các văn bản trên để thuê thửa đất số 992, tờ bản đồ 20 GCNQSDĐ số AP 153118, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H52730 do UBND thị xã (nay là thành phố) T cấp ngày 22/7/2009 cho bà M để ông N kinh doanh đá mỹ nghệ.

Khi ông N thuê đất của bà M thì hiện trạng là đất trống, không có tài sản. Thời gian thuê là 6 năm. Giá thuê mà các bên thỏa thuận 3 năm đầu là 7.000.000 đồng/tháng, 3 năm sau là 8.000.000 đồng/tháng.

Sau khi ký kết hợp đồng thuê thì ông N đã đặt cọc cho bà M số tiền 30.000.000 đồng để đảm bảo việc thuê đất; ngay sau khi các bên ký kết hợp đồng thuê ngày 05 tháng 5 năm 2022 tại văn phòng công chứng thì bà M đã giao đất cho ông N quản lý, sử dụng.

Hiện nay, trên đất thuê của bà M thì ông N chỉ để tài sản là xe, ghế đá, bàn đá, các loại đá mỹ nghệ; ông N không sử dụng diện tích đất thuê này. Lý do là ông N có nhờ bà M gắn đồng hồ điện để ông N sử dụng, khi ông N liên hệ cơ quan có thẩm quyền thì cơ quan có thẩm quyền trả lời đất của bà M thuộc quy hoạch giai đoạn 02, muốn gắn đồng hồ điện thì phải chính chủ sử dụng đất mới có quyền làm thủ tục gắn đồng hồ điện. Ông N có liên hệ thì bà M từ chối không phối hợp, do đó ông N không thể sử dụng đất thuê theo đúng mục đích sử dụng ban đầu của ông N. Đồng thời bà M không chặt nhánh cây cao su của chủ sử dụng đất liền kề làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của ông N. Ngoài ra, ông N cũng có một phần lỗi do không đóng tiền thuê đất cho bà M đúng hạn.

Quá trình thuê đất, ông N chỉ nhớ đã trả cho bà M được 02 tháng tiền thuê. Khi trả tiền thuê đất là trả bằng tiền mặt, ông N có ký tên vào văn bản nhận tiền do bà M cung cấp. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà M, ông N chỉ đồng ý chấm dứt hợp đồng thuê đất ngày 05/5/2022 với bà M và không đồng ý các yêu cầu khởi kiện còn lại. Đồng thời ông N có yêu cầu phản tố yêu cầu:

  • Yêu cầu bà Đào Thị M trả số tiền cọc 30.000.000 đồng, phạt cọc 30.000.000 đồng.
  • Bồi thường chi phí san lấp mặt bằng và đổ đất là 96.000.000 đồng.
  • Bồi thường chi phí vận chuyển vật liệu tập kết công trình là 25.000.000 đồng.

Tổng cộng, ông N yêu cầu bà Đào Thị M phải bồi thường số tiền 181.000.000 đồng.

Diện tích đất thuộc thửa đất số 992, tờ bản đồ 20 có mặt bằng trũng và không bằng phẳng. Sau khi ông N thuê đất của bà M thì ông N đã thuê xe cuốc cào đất lún, sình lầy; đổ xà bần, đất lên đất của bà M và san bằng đất. Mục đích là để ông N sử dụng đất thuê, để xe cẩu và các xe khác có thể chạy vào để đổ đất đá mỹ nghệ. Vì đất lún thì xe không thể chạy vào được. Ngoài ra, sau khi san bằng đất thì ông N có đổ đá mỹ nghệ lên mặt bằng thuê, hiện nay trên đất vẫn còn các loại đá mỹ nghệ này. Nếu bà M muốn chấm dứt hợp đồng thuê với ông N thì phải chịu mọi khoản chi phí di dời bàn đá, ghế đá, xe ô tô cũ, các loại đá về vị trí ban đầu là tại tỉnh Bình Phước. Đối với số tiền thuê ông N đã trả bà M thì ông N cũng không yêu cầu bà M trả lại.

Ông N không đồng ý kết quả thẩm định giá do Công ty Cổ phần T1 thực hiện.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút yêu cầu buộc ông N san lấp để trả lại mặt bằng thuê như hiện trạng ban đầu cho bà M; nguyên đơn đồng ý thanh toán cho bị đơn chi phí đổ xà bần san lấp mặt bằng với số tiền 400.000 đồng như kết quả thẩm định giá thể hiện tại chứng thư thẩm định giá. Các yêu cầu khởi kiện còn lại, nguyên đơn giữ nguyên.

Bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 157/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:

  1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn bà Đào Thị M yêu cầu bị đơn ông Trần Văn N san lấp mặt bằng để trả lại nguyên hiện trạng ban đầu của thửa đất số 992, tờ bản đồ 20 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 153118, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H52730 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) T cấp ngày 22 tháng 7 năm 2009 cho bà Đào Thị M.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện (các yêu cầu còn lại) của nguyên đơn bà Đào Thị M đối với bị đơn ông Trần Văn N.
  3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Văn N đối với nguyên đơn bà Đào Thị M về việc thanh toán chi phí đổ xà bần san lấp mặt bằng.
  4. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Văn N đối với nguyên đơn bà Đào Thị M về yêu cầu trả cọc, phạt cọc; thanh toán chi phí vận chuyển.

Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ký kết ngày 05/5/2022 giữa bà Đào Thị M và ông Trần Văn N, Hợp đồng được công chứng số 008666, quyển số 05-2022TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng Công chứng Thành phố C; chấm dứt Phụ lục hợp đồng thuê quyền sử dụng đất số 01-2022/PLHĐTĐ ngày 05/5/2022 giữa bà Đào Thị M và ông Trần Văn N.

Buộc ông Trần Văn N phải trả lại diện tích đất thuê là toàn bộ diện tích đất thuộc thửa đất số 992, tờ bản đồ 20 GCNQSDĐ số AP 153118, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H52730 do UBND thị xã (nay là thành phố) T cấp ngày 22/7/2009 cho bà Đào Thị M; tọa lạc phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

- Buộc ông Trần Văn N phải thanh toán tiền thuê đất cho bà Đào Thị M tính đến ngày 27/9/2023 với số tiền 102.900.000.

- Buộc ông Trần Văn N phải chịu mất số tiền cọc do vi phạm hợp đồng với số tiền 30.000.000 đồng; số tiền 30.000.000 đồng thuộc về bà Đào Thị M.

- Buộc ông Trần Văn N phải tháo dỡ, di dời những công trình, tài sản gồm 01 bàn đá, 02 ghế đá, 01 xe ô tô cũ, các loại đá mỹ nghệ đã đầu tư trên diện tích đất thuộc thửa đất số 992, tờ bản đồ 20 GCNQSDĐ số AP 153118, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H52730 do UBND thị xã (nay là thành phố) T cấp ngày 22/7/2009 cho bà Đào Thị M để trả lại đất cho bà Đào Thị M.

- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đào Thị M về việc thanh toán cho ông Trần Văn N chi phí san lấp mặt bằng số tiền 400.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm chậm thi hành án, chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 09/10/2023, bị đơn ông Trần Văn N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án: Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày tranh tụng của các bên đương sựvà quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về hướng giải quyết vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Đơn kháng cáo của bị đơn ông N được thực hiện trong thời hạn luật định và đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo nên kháng cáo là hợp lệ.

[1.3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: phần quyết định của bản án sơ thẩm về việc: “Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn bà Đào Thị M yêu cầu bị đơn ông Trần Văn N san lấp mặt bằng để trả lại nguyên hiện trạng ban đầu của thửa đất số 992, tờ bản đồ 20 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 153118, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H52730 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) T cấp ngày 22 tháng 7 năm 2009 cho bà Đào Thị M” không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: việc ông N thuê đất của bà M từ tháng 5/2022 cho đến nay có hợp đồng được công chứng theo quy định của pháp luật nhưng chỉ thanh toán được 02 tháng tiền thuê đầu tiên là 14.000.000 đồng, sau đó không thanh toán cho bà M mà không có lý do chính đáng là vi phạm Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 05/5/2022, công chứng số 008666 và Phụ lục hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 05/5/2022. Cho đến thời điểm xét xử sơ thẩm, ông N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán hơn 14 tháng. Do đó, bà M khởi kiện yêu cầu ông N thanh toán tiền thuê đất là phù hợp với thỏa thuận tại Hợp đồng và Điều 481 Bộ luật Dân sự năm 2015. Mặc dù chưa hết thời hạn thuê đất theo Hợp đồng, nhưng do ông N vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê đất nên bà M yêu cầu Tòa án tuyên chấm dứt Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất với ông N, buộc ông N di dời các tài sản của mình trên đất để trả lại hiện trạng ban đầu là phù hợp Hợp đồng và phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 481, Điều 482 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2.2] Việc ông N cho rằng bà M không phối hợp để lắp đặt đồng hồ điện và chặt cành cao su của chủ đất liền kề làm cho ông N không thuê đất được như đúng mục đích ban đầu của ông N là không có căn cứ. Bởi vì, ông N vẫn sử dụng đất của bà M để chứa tài sản, vật liệu của ông N, làm địa điểm kinh doanh cho đến nay. Hợp đồng không quy định những công việc này là nghĩa vụ của bà M và ông N hoàn toàn có thể tự thực hiện mà không cần phải do chính chủ sử dụng đất thực hiện. Hơn nữa, các lý do nêu trên cũng không phải là lý do miễn trừ trách nhiệm thanh toán các khoản tiền thuê theo thỏa thuận tại Hợp đồng và theo quy định của pháp luật.

[2.3] Về số tiền đặt cọc, Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất quy định về nghĩa vụ của bên thuê “thực hiện đúng thời hạn hợp đồng, nếu ngưng hợp đồng trước thời hạn đã ký thì phải báo cho bên A trước 02 tháng và sẽ mất tiền cọc”. Về nghĩa vụ của bên cho thuê, Hợp đồng quy định “thực hiện đúng thời hạn hợp đồng, nếu ngưng hợp đồng trước thời hạn thì phải báo trước cho bên B trước 02 tháng và phải bồi thường gấp đôi số tiền đặt cọc cho bên B và thanh toán chi phí xây dựng công trình tạm và di chuyển hàng hóa”. Xét thấy, hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán của ông N là nguyên nhân dẫn tới Hợp đồng bị chấm dứt trước thời hạn, do đó ông N bị mất số tiền cọc cho bà M là phù hợp với hợp đồng đã giao kết, không trái quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M là hoàn toàn có căn cứ phù hợp với các quy định của pháp luật và thỏa thuận giữa các bên.

[2.4] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn: qua xem xét các chứng cứ bị đơn cung cấp về các hợp đồng san lấp mặt bằng, hợp đồng vận chuyển, biên bản nghiệm thu và các hóa đơn nộp tiền giữa ông N với công ty D thấy rằng việc san lấp mặt bằng, vận chuyển đá, múc, đổ đất, trồng cây...là hoạt động của ông N nhằm mục đích phục vụ cho việc kinh doanh của ông N. Khi thuê đất, ông N đã “xem xét kỹ, biết rõ về thửa đất”. Hợp đồng không quy định nghĩa vụ của bên cho thuê là phải san lấp mặt bằng cho bên thuê đất. Hợp đồng quy định về quyền của bên thuê đất “được yêu cầu bên A thanh toán chi phí xây dựng công trình tạm và di chuyển hàng hóa khi bên A vi phạm hợp đồng”. Theo phân tích tại Mục [2.1] nêu trên thì bên cho thuê không vi phạm hợp đồng nên bên thuê đất không có quyền yêu cầu bên cho thuê thanh toán chi phí xây dựng công trình tạm, di chuyển hàng hóa. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bị đơn về việc buộc nguyên đơn thanh toán số tiền 180.600.000 đồng mà ghi nhận sự tự nguyện của bên cho thuê thanh toán cho bên thuê số tiền 400.000 đồng tiền chi phí san lấp mặt bằng là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp.

[3] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: ông N phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật do bản án sơ thẩm được giữ nguyên.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148, Điều 229, khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 273, Điều 293, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 117, 328, 401, 422, 481, 482 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn N. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 157/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương như sau:
    1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào Thị M đối với bị đơn ông Trần Văn N.
      • - Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ký kết ngày 05 tháng 5 năm 2022 giữa bà Đào Thị M và ông Trần Văn N, được công chứng số 008666, quyển số 05-2022TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng Công chứng Thành Phố C; chấm dứt Phụ lục hợp đồng thuê quyền sử dụng đất số 01-2022/PLHĐTĐ ngày 05 tháng 5 năm 2022 giữa bà Đào Thị M và ông Trần Văn N.
      • - Buộc ông Trần Văn N phải trả lại diện tích đất thuê là toàn bộ diện tích đất thuộc thửa đất số 992, tờ bản đồ 20 tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 153118, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H52730 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) T cấp ngày 22 tháng 7 năm 2009 cho bà Đào Thị M.
      • - Buộc ông Trần Văn N phải thanh toán tiền thuê đất cho bà Đào Thị M tính đến ngày 27 tháng 9 năm 2023 với số tiền 102.900.000 đồng.
      • - Ông Trần Văn N mất số tiền cọc do vi phạm hợp đồng với số tiền 30.000.000 đồng. Bà Đào Thị M được sở hữu số tiền đặt cọc 30.000.000 đồng của ông Trần Văn N.
      • - Buộc ông Trần Văn N phải tháo dỡ, di dời những công trình, tài sản đã đầu tư trên diện tích đất thuộc thửa đất số 992, tờ bản đồ 20 tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 153118, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H52730 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) T cấp ngày 22 tháng 7 năm 2009 cho bà Đào Thị M (tại thời điểm xét xử sơ thẩm, xác định các tài sản gồm có: 01 bàn đá, 02 ghế đá, 01 xe ô tô cũ, các loại đá mỹ nghệ) để trả lại đất cho bà Đào Thị M.
    2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Văn N đối với nguyên đơn bà Đào Thị M về việc thanh toán chi phí san lấp mặt bằng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đào Thị M về việc thanh toán cho ông Trần Văn N chi phí san lấp mặt bằng số tiền 400.000 đồng.
    3. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Văn N đối với nguyên đơn bà Đào Thị M về yêu cầu trả cọc, phạt cọc; thanh toán chi phí vận chuyển số tiền 180.600.000 đồng.

      Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

    4. Chi phí thẩm định giá: Ông Trần Văn N phải chịu 3.840.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp.
    5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
      • - Bà Đào Thị M được miễn nộp án phí sơ thẩm.
      • - Ông Trần Văn N phải chịu 14.475.000 đồng, gồm 300.000 đồng án phí đối với việc chấm dứt hợp đồng thuê, 5.145.000 đồng án phí đối với số tiền phải trả cho bà Đào Thị M, 9.030.000 đồng đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận; được trừ vào số tiền 4.525.000 đồng ông Trần Văn N đã nộp tại Biên lai thu số 0002822 ngày 25 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T; ông Trần Văn N còn phải nộp 9.950.000 đồng.
  2. Một phần bản án dân sự sơ thẩm đã tuyên: “Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn bà Đào Thị M yêu cầu bị đơn ông Trần Văn N san lấp mặt bằng để trả lại nguyên hiện trạng ban đầu của thửa đất số 992, tờ bản đồ 20 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 153118, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H52730 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) T cấp ngày 22 tháng 7 năm 2009 cho bà Đào Thị M” đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Trần Văn N phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000931 ngày 18/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, việc tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - TAND thành phố T;
  • - Chi cục THADS thành phố T;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Tổ HCTP, Tòa DS, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Công Lực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 510/2023/TLPT-DS ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 510/2023/TLPT-DS
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bác kháng cáo của bị đơn giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger