Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐĂK TÔ

TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HS-ST
Ngày 09/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ - TỈNH KONTUM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Bá Bình.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Thị Thanh Hải - Hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở Nguyễn Du.
  2. Bà Phạm Thị Hiền - Trưởng phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Đăk Tô.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hân – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 09/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2024/TLST-HS, ngày 12 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/QĐXXST-HS, ngày 26/7/2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Quốc T, sinh ngày 11/10/1998 tại tỉnh Kon Tum; trú tại: Thôn A, xã K, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Phụ xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến D và bà Cao Thị T1; tiền sự: Không;
    Tiền án: Bản án số 05/2020/HS-PT, ngày 02/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum, xử phạt bị cáo 04 năm tù, về “Tội cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2023; chấp hành xong án phí ngày 27/7/2020 (chưa được xóa án tích).
    Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/10/2023 đến nay. Có mặt.
  2. Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 04/8/2008 tại tỉnh Kon Tum; trú tại: Thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Triêng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng D1 và bà Y H; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
    (Tại thời điểm phạm tội, bị cáo Nguyễn Hoàng N 15 tuổi, 02 tháng 15 ngày).
    - Người đại diện của bị cáo Nguyễn Hoàng N: Ông Nguyễn Hoàng D1 và bà Y H (là cha, mẹ của bị cáo); trú tại: K, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
    - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng N: Bà Nguyễn Thị Thúy H1, là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K. Có mặt.
    - Đại diện Nhà trường nơi bị cáo Nguyễn Hoàng N học tập: Trung tâm G, giáo dục thường xuyên huyện Đ, do bà Y H2, là giáo viên chủ nhiệm, đại diện.

· Bị hại:

  1. Phạm Hữu H3, sinh ngày 19/01/2004; trú tại: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
  2. Lê Trọng T2, sinh ngày 23/5/2008; trú tại: Thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
    (Tại thời điểm xảy ra tội phạm, bị hại Lê Trọng T2 15 tuổi, 04 tháng 26 ngày).
    - Người đại diện của bị hại Lê Trọng T2: Anh Lê Văn T3, sinh năm 1978 (là cha của bị hại); trú tại: Thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Lê Phương D2, sinh năm 1997; trú tại: Thôn A, xã K, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.
  2. Nguyễn Hoàng D1, sinh năm 1980; trú tại: K, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
  3. Cao Thị T1, sinh năm 1960; trú tại: Thôn A, xã K, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ngô Hoàng P, sinh năm 2002; trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.
  2. Lê Công H4, sinh năm 2004; trú tại: Thôn G, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.
  3. Nguyễn Thiên V, sinh năm 1995; trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
  4. Đinh Xuân Đ, sinh năm 1990; trú tại: Thôn A, xã D, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.
  5. Trịnh Cao Út T4, sinh năm 2003; trú tại: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.
  6. Phan Thanh T5, sinh năm 2005; trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.
  7. Trịnh Tùng D3, sinh năm 1997; trú tại: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ án thứ nhất: Khoảng 16 giờ ngày 28/8/2023, bị cáo Nguyễn Quốc T gọi điện cho Phạm Hữu H3 để trả áo khoác mà H3 đã mượn của T. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, H3 rủ Ngô Hoàng P, Phan Thanh T5, Trần Anh K, Lê Công H4 đến nhà anh Đinh Xuân Đ tại xã D để trả áo cho T. Khi H3 trả áo khoác thì T nói trả chiếc nhẫn T để trong túi áo khoác. H3 nói khi mượn trong túi không có chiếc nhẫn nên xảy ra mâu thuẫn. T dùng tay đấm vào ngực, mặt, đầu của H3. Sau đó, T xuống bếp nhà anh Đ thấy một con dao (loại dao Thái Lan, dài khoảng 15 cm, lưỡi rộng khoảng 02 cm), bị cáo lấy dấu sau lưng rồi đi lên chỗ H3. Toản rút dao nhằm vào bắp tay trái đâm một nhát. Khi thấy T đâm thì H3 né sang trái để tránh thì bị dao trúng vào vùng sườn bên trái, gây tràn dịch màng phổi.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 163/KLTTCT-TTPY, ngày 25/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh K, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phạm Hữu H3 tại thời điểm giám định là 29%.

Vụ án thứ hai: Khoảng 14 giờ ngày 19/10/2023, Lê Trọng T2 chở Nguyễn Hoàng N đi ngang qua K, thị trấn Đ thì gặp Nguyễn Quốc T nên T rủ T2N đi uống nước. Tại quán nước, T nói N mượn điện thoại của T2 để đi cầm cố, rồi T cũng mượn nhưng T2 không đồng ý. Sau đó, T nói T2 chở TN lên rừng thông thuộc K, thị trấn Đ. Tại đây, T nói với N “mày không biết dạy bạn mày à”. Khi nghe nói vậy thì N lao vào đấm T2 khoảng 3, 4 cái, rồi T cũng lao vào đấm T2 và lấy điện thoại của T2 đưa cho N, nói N mang đến tiệm điện thoại Lê Duy C cầm cố. N hỏi T2 mật khẩu mở máy, còn T hỏi mật khẩu Icloud. N cầm điện thoại đi cầm cố được 500.000 đồng rồi đưa cho T tiêu xài chung. Đến sáng ngày 23/10/2023, T bị bắt giữ, xét nghiệm dương tính với chất ma túy loại Amphetamine và Methamphetamine.

Kết luận định giá tài sản số 27/KL-ĐGTS, ngày 29/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: Chiếc điện thoại di động Iphone XR, màu trắng trị giá 4.250.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị hại và nội dung vụ án đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKS-ĐT, ngày 11/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum truy tố bị cáo Nguyễn Quốc T về Tội cố ý gây thương tích, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự và Tội cướp tài sản, theo điểm e, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng N về Tội cướp tài sản, theo điểm e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T từ 03 năm đến 04 năm tù, về Tội cố ý gây thương tích.

Áp dụng điểm e, h khoản 2 Điều 168; các Điều 17; 38; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, về Tội cướp tài sản.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt của 2 tội buộc bị cáo Nguyễn Quốc T phải chấp hành hình phạt chung từ 10 năm 06 tháng đến 12 năm tù.

Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 168; Điều 17; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 54; 58; 65; 91; 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N từ 24 đến 30 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng, về Tội cướp tài sản.

Trả lại cho bị hại Lê Trọng T2 01 chiếc điện thoại di động Iphone XR, màu trắng; trả lại cho bị hại Phạm Hữu H3 01 chiếc áo khoác. Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng N đồng ý với bản cáo trạng và lời luận tội của Kiểm sát viên. Quá trình điều tra, xét xử, bị cáo N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường thiệt hại; phạm tội gây thiệt hại không lớn, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, đang còn học phổ thông, phạm tội khi mới hơn 15 tuổi nên nhận thức về hành vi phạm tội còn hạn chế, phạm tội theo sự xúi dục, lo sợ mà phải làm theo lời của bị cáo T; hành vi phạm tội với vai trò thứ yếu. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo”; “bồi thường thiệt hại”; “phạm tội gây thiệt hại không lớn”; đại diện Nhà trường nơi bị cáo học tập và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để tiếp tục học tập. Áp dụng các điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 và Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.

Tại lời nói sau cùng, các bị cáo đều nhận thấy lỗi lầm, xin lỗi người bị hại, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo, trên cơ sở tranh tụng tại phiên tòa đã xác định được:

[2.1] Đối với bị cáo Nguyễn Quốc T: Khoảng 16 giờ ngày 28/8/2023, bị cáo T điện thoại cho Phạm Hữu H3 để trả áo khoác. Khi gặp Phạm Hữu H3, bị cáo đưa ra lý do H3 mượn áo khoác làm mất chiếc nhẫn để trong túi áo nên đã dùng tay đấm vào ngực, mặt, đầu của H3 rồi dùng dao đâm H3 một nhát sượt qua tay trái, trúng vào vùng sườn bên trái gây tràn khí màng phổi trái, tổn thương nhu mô phổi bên trái gây xẹp phân thùy dưới phổi trái, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 29%. Hành vi của bị cáo sử dụng hung khí nguy hiểm, gây thương tích cho bị hại H3 đã phạm Tội cố ý gây thương tích, quy định điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, với tình tiết “dùng hung khí nguy hiểm”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tiếp đến, khoảng 14 giờ ngày 19/10/2023, bị cáo Nguyễn Quốc T rủ bị cáo Nguyễn Hoàng N và bị hại Lê Trọng T2 đi uống nước. Tại quán nước, T nói N mượn điện thoại của T2 để cầm cố, rồi đến T mượn nhưng T2 đều không đồng ý. Sau đó, T nói T2 chở TN lên rừng thông. Tại đây, T nói N: Mày không biết dạy bạn mày à, thì N lao vào đấm T2 khoảng 3, 4 cái, rồi T cũng lao vào đấm T2 và lấy chiếc điện thoại di động Iphone XR, đưa cho N, nói mang đi cầm cố ở tiệm điện thoại Lê Duy C lấy 500.000 đồng về đưa cho T. Hành vi của bị cáo T và bị cáo N dùng vũ lực đánh T2 rồi lấy chiếc điện thoại di động Iphone XR, trị giá 4.250.000 đồng. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì bị hại 15 tuổi 04 tháng 26 ngày, nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi”. Ngoài ra, bị cáo T đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng (hình phạt 4 năm tù về Tội cướp tài sản, tại Bản án số 05/2020/HS-PT ngày 02/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô) chưa được xóa án tích, nay lại phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý nên thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Quốc T đã phạm Tội cướp tài sản, quy định tại điểm e, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

[2.2] Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng N: Đã dùng tay đấm T2, sau khi T lấy điện thoại đưa cho N đi cầm cố thì N hỏi mật khẩu điện thoại và mang đi cầm cố được 500.000 đồng đưa cho T tiêu xài chung. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì bị hại 15 tuổi 04 tháng 26 ngày, nên bị cáo N phải chịu tình tiết định khung hình phạt “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi”. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hoàng N đã phạm Tội cướp tài sản, quy định tại điểm e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội.

[3] Trong vụ án Cố ý gây thương tích, bị cáo T là người thực hiện hành vi phạm tội.

Trong vụ án Cướp tài sản, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm, không có tổ chức. Trong đó, bị cáo T phạm tội là người chủ mưu, đồng thời là người thực hành tích cực. Còn bị cáo N chịu sự tác động, xúi dục của bị cáo T mà thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người giúp sức.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe, tài sản của người bị hại, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, cần phải xử phạt mức án nghiêm minh để cải tạo, giáo dục các bị cáo.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Đối với bị cáo T:

Bị cáo T có nhân thân xấu, đã bị kết án 4 năm tù về Tội cướp tài sản (tại Bản án số 05/2020/HS-PT ngày 02/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô) chưa được xóa án tích. Vì vậy, đối với T cố ý gây thương tích thì bị cáo T phải chịu tình tiết tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Đối với Tội cướp tài sản, bị cáo T có hành vi xúi dục bị cáo N đánh bị hại T2, sau đó T cướp điện thoại đưa cho N đi cầm cố khi N mới 15 tuổi 02 tháng 15 ngày, nên bị cáo T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội”, quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo T có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo; mẹ bị cáo là người được hưởng chế độ bệnh binh hạng 3, được tặng Kỷ niệm chương chiến sỹ Trường Sơn đường H5; Kỷ niệm chương vì đã có thành tích tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu 1 trong 3 chiến dịch lịch sử Việt Nam, các tình tiết giảm nhẹ này quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, được áp dụng cho cả 02 Tội cố ý gây thương tích và Tội cướp tài sản.

Đối với Tội cố ý gây thương tích, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại; bị hại Phạm Hữu H3 bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với Tội cướp tài sản: Giá trị tài sản bị thiệt hại ở mức thấp của điều luật nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội gây thiệt hại không lớn”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4.2] Đối với bị cáo N:

Bị cáo N có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Khi phạm tội, bị cáo mới 15 tuổi 02 tháng 15 ngày, là học sinh lớp 10. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tác động gia đình bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội gây thiệt hại không lớn; đại diện Nhà trường và bị hại Lê Trọng T2 xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo được tiếp tục học tập, các tình tiết giảm nhẹ này quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Đồng thời, áp dụng khoản 2 Điều 101 Bộ luật Hình sự, quyết định mức hình phạt không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định đối với người phạm tội dưới 16 tuổi.

Trong vụ án này, bị cáo N phạm tội là do có sự tác động, xúi dục của bị cáo T, lo sợ bị cáo T nên đã thực hiện hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra hành vi phạm tội là do bị cáo T. Bị cáo N đồng phạm là người giúp sức, không trực tiếp lấy tài sản từ bị hại, có vai trò không đáng kể trong vụ án. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo Nghĩa là người chưa thành niên, mới 15 tuổi 02 tháng 15 ngày nên nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội còn hạn chế. Việc xử lý bị cáo Nghĩa là người chưa thành niên phải đảm bảo lợi ích tốt nhất của bị cáo và nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội, theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo N có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, có đủ điều kiện cho bị cáo được hưởng án treo và việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục học tập hết chương trình phổ thông trung học theo đề nghị của Nhà trường.

[5] Lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Nghĩa là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về việc bị cáo Nguyễn Quốc T dương tính với ma túy AM tại thời điểm bị bắt. Bị cáo không biết nhân thân, lai lịch của đối tượng bán ma túy nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

[7] Đối với Lê Phương D2 cầm cố chiếc điện thoại nhằm mục đích làm tin để bị cáo T mượn tiền. Lê Phương D2 không biết chiếc điện thoại là tài sản do phạm tội mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

Cao Thị T1 (mẹ của bị cáo T) đã bồi thường cho bị hại Phạm Hữu H3; ông Nguyễn Hoàng D1 (cha của bị cáo N) đã bồi thường cho bị hại Lê Trọng T2 và anh Lê Phương D2. Các bên không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

[9] Về Vật chứng:

Cơ quan điều tra thu giữ của anh Lê Phương D2 01 chiếc điện thoại di động Iphonne XR, màu trắng, số máy: MRYT2LL/A; IMEI: 353059109124460, IMEI2: 353059109038256, đây là tài sản của bị hại Lê Trọng T2 nên trả lại cho bị hại.

Thu giữ 01 chiếc áo khoác vải, màu đen (phần sát nách bên trái áo có vết rách, dài khoảng 06 cm), là tài sản của bị hại Phạm Hữu H3 nên trả lại cho bị hại.

[10] Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nghĩa là người đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm Tội cố ý gây thương tích và Tội cướp tài sản; bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm Tội cướp tài sản.

1.1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 03 năm tù về Tội cố ý gây thương tích.

Căn cứ điểm e, h khoản 2 Điều 168; các Điều 17; 38; 58; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 07 năm 06 tháng tù về Tội cướp tài sản.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo Nguyễn Quốc T chấp hành hình phạt chung là 10 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 23/10/2023.

1.2. Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 168; Điều 17; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 54; 58; 65; 91; 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N 03 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án 09/8/2024, về Tội cướp tài sản.

Giao bị cáo Nguyễn Hoàng N cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị hại Phạm Hữu H3 01 chiếc áo khoác vải, màu đen, trên hai ống tay áo có chữ BURBERRY màu trắng (phần sát nách bên trái áo có vết rách, dài khoảng 06 cm).

Trả lại cho bị hại Lê Trọng T2 01 chiếc điện thoại di động Iphonne XR, màu trắng, số máy: MRYT2LL/A; IMEI: 353059109124460, IMEI2: 353059109038256.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/6/2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đăk Tô).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Quốc T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Miễn án phí cho bị cáo Nguyễn Hoàng N.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện của bị hại, người đại diện và người bào chữa của bị cáo Nguyễn Hoàng N có quyền kháng cáo bản án. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kon Tum;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND huyện Đăk Tô;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk Tô;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Đăk Tô;
  • - Bộ phận HSNV Công an huyện Đăk Tô;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Đăk Tô;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Hồ sơ THA hình sự;
  • - Lưu Bản án; hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bá Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ - TỈNH KONTUM về hình sự sơ thẩm (tội cố ý gây thương tích và tội cướp tài sản)

  • Số bản án: 15/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội cố ý gây thương tích và Tội cướp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ - TỈNH KONTUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Toản Nghĩa cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger